Thi hành nghĩa vụ dân sự trong các bản án, quyết định hình sự của tòa án nhân dân từ thực tiễn thành phố Hà Nội - Pdf 57

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THU HUYỀN

THI HÀNH NGHĨA VỤ DÂN SỰ TRONG CÁC BẢN ÁN,
QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỪ
THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

HÀ NỘI, 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THU HUYỀN

THI HÀNH NGHĨA VỤ DÂN SỰ TRONG CÁC BẢN ÁN,
QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỪ
THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Ngành: Luật kinh tế
Mã: 8 38 01 07

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGÔ THỊ HƯỜNG

HÀ NỘI, 2019


VỤ DÂN SỰ TRONG CÁC BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ ĐÃ CÓ
HIỆU LỰC CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN ..................................................... 53
3.1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác thi hành
phần NVDS trong Bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực của Tòa án
nhân dân ..................................................................................................... 53
3.2. Giải pháp cụ thể .................................................................................. 55
KẾT LUẬN ................................................................................................... 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................... 69


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Kí hiệu
CNH-HDH

Diễn giải
Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

CHV

Chấp hành viên

NVDS

Nghĩa vụ dân sự

TAND

Tòa án nhân dân

THADS

1. Tính cấp thiết của đề tài
Thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án
nhân dân mang tính quyền lực nhà nước nhằm thực hiện bản án, quyết định đã
có hiệu lực của Tòa án trong thực tiễn. Nhiệm vụ của giai đoạn này nhằm thi
hành các hình như phạt tiền, tịch thu tài sản và thi hành các phần quyết định
dân sự khác mà Tòa án áp dụng đối với người bị kết án. Đó cũng chính là việc
tước bỏ một phần hay toàn bộ tài sản của người bị kết án để sung quỹ Nhà
nước hoặc để thu hồi, khắc phục những hậu quả về vật chất mà người phạm
tội đã gây ra; bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ
chức, công dân góp phần giữ vững kỷ cương, phép nước, tăng cường pháp
chế xã hội chủ nghĩa. Với ý nghĩa đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình
giải quyết một vụ án, thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình
sự có mối quan hệ hữu cơ với các giai đoạn tố tụng: khởi tố, điều tra, truy tố,
xét xử. Nếu mục đích của thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định
hình sự không đạt được thì hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng: điều
tra, truy tố, xét xử trước đó cũng trở nên vô nghĩa.
Thực tiễn thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự của
Tòa án từ thực tiến TP. Hà Nội đã bộc lộ một số mặt hạn chế, bất cập, chưa
đáp ứng đầy đủ yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình
hình mới. Do vậy việc nghiên cứu đề tài: "Thi hành nghĩa vụ dân sự trong
các bản án, quyết định hình sự của tòa án nhân dân từ thực tiễn thành phố
Hà Nội" để trên cơ sở đó giải quyết các vướng mắc trong lý luận và thực tiễn
và góp phần hoàn thiện hơn về mặt lập pháp các qui định thi hành nghĩa vụ
dân sự trong bản án, quyết định hình sự.

1


2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến nay các nhà luật học đã có tương đối nhiều công trình nghiên

Các công trình nói trên đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau của việc
thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự của tòa án nhưng
chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tương đối toàn diện và tương đối
có hệ thống về thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự của
tòa án và các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản
án, quyết định hình sự của tòa án nhân dân trong phạm vi thành phố Hà Nội
dưới cấp độ một luận văn thạc sĩ Luật học.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
 Hệ thống hóa lí thuyết qua lí luận chung về thi hành nghĩa vụ dân sự
 Phân tích thực trạng thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết
định hình sự từ thực tiến tại Hà Nội
 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thi hành nghĩa vụ
dân sự trong bản án, quyết định hình sự.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, tác giả của luận văn đã đặt ra và giải quyết
các nhiệm vụ sau:
 Làm sáng tỏ cơ sở lý luận, thực tiễn các nghĩa vụ dân sự phát sinh từ
quyết định hình phạt tiền, tịch thu tài sản và các quyết định dân sự khác trong
bản án, quyết định hình sự cũng như lý luận và thực tiễn về thi hành nghĩa vụ
dân sự trong bản án, quyết định hình sự của tòa án.
 Đánh giá thực tiễn thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định
hình sự của tòa án tại TP.Hà Nội; nêu ra mặt được, mặt chưa được của việc
thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự của tòa án.
3


 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành nghĩa vụ dân sự
trong bản án, quyết định hình sự của tòa án ơt TP. Hà Nội nói riêng và cả
nước nói chung.

đưa ra.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Kết quả nghiên cứu và những kiến nghị của luận văn có ý nghĩa quan
trọng đối với hoạt động thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định
hình sự của tòa án ở Việt Nam. Việc đề xuất hệ thống các giải pháp nâng cao
hiệu quả thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự của tòa
án có ý nghĩa góp phần hoàn thiện các qui định của pháp luật về thi hành
nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự của tòa án, hướng dẫn áp
dụng thống nhất các qui định về thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án,
quyết định hình sự của tòa án, giúp cơ quan thi hành án có các biện pháp
hữu hiệu nhằm giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành người có ích và tái
hòa nhập với xã hội.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Thi hành nghĩa vụ dân sự trong các bản án, quyết định hình
sự đã có hiệu lực của Tòa án
Chương 2:Thực trạng thi hành phần nghĩa vụ dân sự trong các bản án,
quyết định hình sự đã có hiệu lực của Tòa án nhân dân tại các cơ quan
THADS TP.Hà Nội
Chương 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thi
hành phần nghĩa vụ dân sự trong các bản án, quyết định hình sự đã có hiệu
lực của Tòa án nhân dân

5


Chương1
THI HÀNH NGHĨA VỤ DÂN SỰ TRONG CÁC BẢN ÁN,
QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ ĐÃ CÓ HIỆU LỰC CỦA TÒA ÁN

trong bản án hinh sự mà đối tượng thi hành án phải thi hành đối với khoản thu
NSNN hoặc người được thi hành án bao gồm các khoản: án phí, bồi thường,
các hình phạt bố sung. Và có thể thấy trong quá trình giải quyết các vụ án
hình sự đã phát sinh nghĩa vụ dân sự của chủ thể. Đa phần khi Tòa án đưa ra
phán quyết về các vụ án hình sự luôn kết hợp các nghĩa vụ dân sự trong đó.
Các tội danh hình sự như Tàng tữ trái phép chất ma túy, Đánh bạc,
Tổ chức đánh bạc, Giết người, Lạm dụng quyền hạn, Tham ô tài sản, nhận hối
lộ tài sản… khi đưa ra xét xử ngoài các hình phạt chính như phạt tù, chung
than, tử hình… đều kèm theo một hoặc nhiều hình phạt bổ sung khác về nghĩa
vụ dân sự điển hình như là phạt tiền bổ sung, truy thu tiền sung công quy nhà
nước đối với tội danh Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc; bồi thường thiệt hại đối
với tội giết người hay bồi thường một phần nghĩa vụ dân sự đối với người bị
kết án tội tham ô tài sản, nhận hối lộ tài sản nhằm giảm án.
Khi tòa án ra phán quyết cuối cùng trong thời gian 15 ngày kể từ ngày tuyên
án bị án không có kháng cáo, bản án quyết định hình sự có hiệu lực thì
chuyển giao cho cơ quan thi hành án hình sự thi hành phần nghĩa vụ hình sự
và cơ quan thi hành án dân sự thi hành phần dân sự trong bản án, quyết định
đó.
1.1.2. Vai trò, tác động và hiệu quả của việc tổ chức thi hành phần nghĩa
vụ dân sự trong các bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực của Tòa án nhân
dân đối với công tác thi hành án dân sự
1.1.2.1. Chức năng nhiệm vụ cơ quan thi hành án dân sự

7


Ngày 24/01/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số
13/SL, quy định về tổ chức các Tòa án và các ngạch Thẩm phán, trong đó,
khoản 3, Điều 3 của Sắc lệnh quy định: Ban Tư pháp xã có quyền “Thi hành
những mệnh lệnh của các Thẩm phán cấp trên”. Đây chính là văn bản pháp lý

17/CT-TTg về việc triển khai công tác thi hành hành chính, trong đó giao Bộ
Tư pháp Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan: Sắp xếp,
kiện toàn tổ chức bộ máy, biên chế công chức, tăng cường cơ sở vật chất cho
các cơ quan thi hành án dân sự bảo đảm triển khai thực hiện có hiệu quả công
tác thi hành án hành chính.
Để tiếp tục hoàn thiện thể chế về thi hành án dân sự, ngày 25 tháng 11
năm 2014 tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ
sung Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2015, ngày 20 tháng 7 năm 2015, Chính phủ ban hành Nghị định số
62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi bổ sung một
số điều của Luật Thi hành án dân sự, các văn bản này đã tạo hành lang pháp lý
vững chắc cho công tác thi hành án dân sự, góp phần nâng cao hiệu quả công
tác thi hành án dân sự trong thời gian tới.
Theo quy định pháp luật hiện hành thì cơ quan Thi hành án dân sự là cơ
quan trực tiếp thi hành phần nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định của Tòa
án. Khi thi hành, cơ quan đã gặp không ít bản án, quyết định thiếu sót, vi
phạm được thể hiện ngay trong bản án, quyết định đó. Chính vì thế, để tạo
điều kiện thuận cho cơ quan thi hành bản án, quyết định một cách nhanh
chóng, đúng pháp luật thì Luật thi hành án dân sự đã quy định rõ nhiệm vụ,
quyền hạn của cơ quan Thi hành án tại điều 14,15,16 Luật Thi hành án dân sự
năm 2008 sửa đổi năm 2014, trong đó:
Chức năng, nhiệm vụ của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh bao
gồm:
9


- Quản lý, chỉ đạo về thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương, bao gồm:Bảo đảm việc áp dụng thống nhất các quy
định của pháp luật trong hoạt động thi hành án dân sự;Chỉ đạo hoạt động thi
hành án dân sự đối với cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện; hướng dẫn

cấp tỉnh.
- Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo công tác tổ chức, hoạt động thi
hành án theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của cơ quan thi hành án
dân sự cấp tỉnh.
- Lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự.
- Giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo
quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 174 của Luật này.
- Báo cáo công tác thi hành án dân sự trước Hội đồng nhân dân khi có
yêu cầu.
Trình tự thủ tục thi hành án
- Thụ lý thi hành án: tiếp nhận yêu cầu thi hành án, bản án, hồ sơ ủy
thác; kiểm tra, xử lý yêu cầu thi hành án, bản án, hồ sơ ủy thác; ra quyết định
thi hành án, phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành án.
- Tổ chức thi hành án: lập hồ sơ thi hành án; thông báo về thi hành án;
xác minh điều kiện thi hành án; xác minh việc chưa có điều kiện thi hành án,
công khai thông tin của người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án;
tạm đình chỉ thi hành án , đình chỉ thi hành án, ủy thác thi hành án; miễn giảm
nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách; kiến nghị, xem xét lại
bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; áp dụng biện pháp
đảm bảo thi hành án; ra quyết định cưỡng chế thi hành án; tổ chức cưỡng chế
thi hành án; thực hiện thẩm định giá tài sản; thược hiện bán đấu giá tài sản;
tiêu hủy vật chứng, xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ bị tuyên tịch thu, sung
công quỹ; trả lại tiền, tài sản tạm giữ cho đương sự; thu tiền, thanh toán tiền
11


thi hành án, thu phí thi hành án; xác nhận kết quả thi hành án; rà soát hồ sơ thi
hành án.
- Thẩm tra, lưu trữ hồ sơ thi hành án: Thẩm tra hồ sơ thi hành án; lưu
trữ hồ sơ thi hành án.

Tại điều 30 Bộ luật hình sự có nêu: Hình phạt là biện pháp cưỡng chế
nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án
nhân dân quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm
tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương
mại đó.
Như vậy việc thi hành phần dân sự trong Bản án, Quyết định hình sự là
một trong những nội dung quan trọng của hoạt động thi hành án dân sự. Theo
quy định tại Điều 1 “Phạm vi điều chỉnh” và mục 1 Chương V Luật Thi hành
án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật THADS) thì những vụ
việc dân sự phải thi hành án trong bản án, quyết định hình sự thuộc thẩm
quyền của cơ quan THADS bao gồm: hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu
tiền (truy nộp), tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và thi
hành nghĩa vụ cấp dưỡng; bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm; bồi thường thiệt hại về tài sản…
- Án phí hình sự: là án phí mà người bị xử phạt về hình sự phải nộp vào
ngân sách nhà nước cho án sơ thẩm, án sơ thẩm đồng thời chung thẩm và án
phúc thẩm cùng với việc xét xử về tội phạm, nếu còn xét xử về bồi thường
thiệt hại, thì tòa án quyết định án phí theo số tiền bồi thường thiệt hại dựa vào
mức quy định đối với những việc tranh chấp tài sản có giá trị trong án phí về
dân sự. Nếu vụ án được kháng cáo mà toà phúc thẩm y án sơ thẩm thì người
kháng cáo phải chịu án phí kháng cáo. Nếu tòa án phúc thẩm sửa hoặc huỷ án
sơ thẩm thì ngườikháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.Theo danh
mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số
13


326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy đinh về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban
thường vụ quốc hội thì mức án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc
thẩm là 200.000 đồng/ bị cáo.

do mua bán, chuyển nhượng, trao đổi với người khác, mang đi cầm xe máy
trộm cắp được, gán nợ, tặng cho,…Vật thuộc loại Nhà nước cấm sản xuất,
tang trữ, vận chuyển, mua bán, lưu hành, như: vũ khí quân dụng, pháo nổ, ma
túy, chất phóng xạ, chất nổ, văn hóa phẩm đồi trụy,… Đây là những vật mà
người phạm tội sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội hoặc là đối tượng
của việc thực hiện tội phạm. Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật
cấm lưu hành, là tiền hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu sung quỹ
Nhà nước. Tuy nhiên, nếu vật không còn giá trị sử dụng, vật cấm lưu hành là
các chất ma túy, văn hóa phẩm đồi trụy thì tuyên tịch thu nhưng không sung
quỹ Nhà nước mà tịch thu tiêu hủy theo quy định.
- Tịch thu tài sản: là tước một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu
của người bị kết án để nộp vào ngân sách nhà nước.Theo điều 45 Bộ luật hình
sự có nêu: Tịch thu tài sản chỉ được áp dụng đối với người bị kết án về tội
phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng xâm phạm đến an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tham
nhũng hoặc tội phạm khác do Bộ luật này quy định. Khi tịch thu toàn bộ tài
sản vẫn để cho người bị kết án và gia đình họ có điều kiện để sinh sống. Ví
dụ: Vụ án đường dây ma túy Vũ Xuân Trường được phát hiện ở thời điểm
năm 1996 và đã từng gây chấn động dư luận cả nước. Có 34 đối tượng tham
gia mua bán, vận chuyển hơn 400kg heroin. TAND TP Hà Nội thời điểm ấy
đã tuyên phạt 8 án tử hình và 7 án chung thân trong vụ án này.Là "đệ tử"
trung thành của Vũ Xuân Trường, bản án đã tuyên Đào Xuân Xe mức án tử
hình, ngôi nhà số 184 Khâm Thiên của Xe bị tịch thu sung công quỹ Nhà
15


nước và đã được bàn giao lại cho Sở Tài chính - Vật giá quản lý theo đúng
luật định. Hiện nay, ngôi nhà số 184 Khâm Thiên là trụ sở của cơ quan Thi
hành án dân sự quận Đống Đa.
- Truy nộp: là khoản tiền nộp thêm của người phạm tội mà đáng lẽ phải

tác thi hành NVDS trong bản án, quyết định hình sự. Cụ thể, hoạt động tố
tụng diễn ra giúp cho thi hành NVDS được thực hiện đầy đủ, đúng hạn và quy
củ, tránh trường hợp chây ì hay trốn tránh nghĩa vụ, trách nhiệm. Sự phối hợp
của các cơ quan trong hoạt động tố tụng là cơ sở giúp cho hoạt động thi hành
án diễn ra đồng bộ, nhịp nhàng, có hiệu quả vì có sự tương tác, hỗ trợ lẫn
nhau.
1.3.3. Tổ chức bộ máy các cơ quan thi hành án dân sự
Tổ chức bộ máy cơ qaun THADS càng tinh gọn, đơn giản thì công tác
thi hành NVDS càng đạt được hiệu quả tích cực. Ngược lại, bộ máy rườm rà,
cồng kềnh sẽ là yếu tố kìm hãm chất lượng công tác thi hành NVDS, khiến
cho hoạt động thi hành NVDS rời rạc, thiếu tính liên kết, thậm chí mang lại
kết quả tiêu cực.
Trong xu thế hiện nay, các cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan
THADS nói riêng thực hiện tinh giản biên chế, đơn giản hóa bộ máy, tăng
cường hiệu lực, hiệu quả, giảm bớt sự cồng kềnh sẽ là yếu tố tiên phong giúp
cho thi hành NVDS trong bản án, quyết định hình sự ngày một nâng cao cả về
lượng cũng như về chất. Tinh giản biên chế giúp giảm tải trình tự, thủ tục trở
nên đơn giản hơn, tránh những sai sót không đáng có, nâng cao hiệu lực bộ
máy nhà nước.
1.3.4. Năng lực của chấp hành viên
Trong thời gian gần đây, công tác thi hành án dân sự (THADS) ngày
càng được Đảng và Nhà nước quan tâm. Đội ngũ chấp hành viên (CHV) được
tăng cường về số lượng và cả chất lượng. Tuy nhiên, đến nay, THADS vẫn là
17


một vấn đề bức xúc trong lĩnh vực tư pháp bởi lượng án tồn đọng chưa được
thi hành còn nhiều, số lượng đơn thư khiếu nại vượt cấp còn lớn. Điều này
xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng một trong những nguyên nhân cơ bản
là do năng lực của CHV trong THADS còn hạn chế. Bởi vậy, trong tiến trình

năng giao tiếp xã hội, làm việc với tập thể, với nhiều người. Đó là khả năng
hiểu biết con người, nhận biết được khả năng của người khác và có thể khai
thác được lợi thế của họ cho yêu cầu nhiệm vụ của mình; biết xây dựng mối
quan hệ, biết cách làm việc với từng tập thể, từng con người, ứng xử đúng
mực với từng mối quan hệ; biết “đối nhân xử thế”. Đồng thời, biết học tập,
tiếp thu, vận dụng những cái hay, cái tốt của người khác cho sự hoàn thiện
của chính mình và đặc biệt là phải biết cách xử lý khéo léo nhưng đúng pháp
luật những mối quan hệ phức tạp, tế nhị. Nhờ năng lực giao tiếp, làm việc mà
CHV có thể nắm bắt được diễn biến tâm lý, nguyện vọng, dự đoán được hành
vi sắp xảy ra của các đương sự để có những biện pháp THA phù hợp. Có
nhiều vụ việc, qua nghệ thuật giao tiếp của CHV mà người phải THA đang từ
chống đối việc THA chuyển sang tự nguyện THA. Cũng nhờ năng lực giao
tiếp xã hội, làm việc với tập thể, với nhiều người mà CHV có thể thuyết phục
và lôi cuốn, thu hút được mọi người tham gia vào công việc chung, nhất là đối
với các cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhân dân có nhiệm vụ phối hợp trong việc
THA.
Do phải chịu trách nhiệm cá nhân về kết quả THA của mình và do tính
phức tạp của công tác THA, CHV phải có khả năng làm việc độc lập, có tính
quyết đoán. CHV chủ động trong công việc, có thể tự hoạch định chương
trình và trù tính kế hoạch hành động cho mình để thực hiện mục tiêu đã định
mà không trông chờ hay ỷ lại vào người khác. Để có khả năng đó, CHV
không chỉ lao động bền bỉ, cần mẫn tìm tòi, học hỏi với tinh thần trách nhiệm
cao, có kỷ luật tự giác mà còn phải say mê, năng động và tâm huyết với nghề
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status