Phân bổ nguồn lực khoa học và công nghệ cho phát triển kinh tế: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam - Pdf 57

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------

NGUYỄN HƢƠNG GIANG

PHÂN BỔ NGUỒN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
VÀ HÀM Ý CHO VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG NGHIÊN CỨU

Hà Nội – 2018


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------

NGUYỄN HƢƠNG GIANG

PHÂN BỔ NGUỒN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
VÀ HÀM Ý CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành

: Kinh tế quốc tế

Mã số



Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được
sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình từ cán bộ Phòng Đào tạo, Trường Đại học
Kinh tế - ĐHQGHN. Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới tất cả các cơ
quan, tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực
hiện nghiên cứu này.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học
Kinh Tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội cùng các thầy cô giáo đã truyền đạt
nhiều kiến thức trong suốt thời gian học tập tại trường.
Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin chân thành cảm ơn
TS. Nguyễn Cẩm Nhung đã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình thực hiện luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2018
Tác giả

Nguyễn Hƣơng Giang


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT........................................................................... i
DANH MỤC BẢNG ........................................................................................ ii
DANH MỤC HÌNH ........................................................................................ iii
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ
LUẬN VỀ PHÂN BỔ NGUỒN LỰC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ........... 6
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ................................................................ 6
1.2. Một số khái niệm cơ bản ............................................................................ 8

4.1.2. Đánh giá chung ..................................................................................... 68
4.2.Các chính sách, định hướng của Chính Phủ ............................................. 69
4.2.1. Vai trò của Chính phủ trong quá trình phân bổ nguồn lực khoa học công
nghệ ................................................................................................................. 69
4.2.2. Giải pháp hỗ trợ và phát triển phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ
trong bối cảnh mới. ......................................................................................... 72
KẾT LUẬN .................................................................................................... 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 80


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

STT

Tên viết tắt

1

BERD

2

Dịch nghĩa

Nguyên nghĩa

Business Enterprise research Doanh nghiệp nghiên cứu và
and development

phát triển


8

KHKT

9

JPY

10

NCKH

Nghiên cứu khoa học

11

NSNN

Ngân sách nhà nước

Gross domestic expenditure Tổng chi tiêu trong nước dành
on research and development

cho nghiên cứu và phát triển

Information and

Công nghệ thông tin và truyền



R&D

Research and Development

Nghiên cứu và phát triển

15

STI

16

S&T

17

STEM

Science,

technology,

innovation
Science and Technology
Science,

Khoa học, công nghệ và đổi mới
Khoa học và công nghệ



3

Bảng 4.1

Đầu tư NSNN cho KHCN

66

4

Bảng 4.2

Thống kê số lượng đội ngữ NCKH

67

Nội dung

ii

Trang


DANH MỤC HÌNH

STT

Hình


Tổng chỉ tiêu trong nước dành cho R&D tại Đan Mạch

44

Nội dung
Chi tiêu cho nghiên cứu khoa học công nghệ và đổi mới
từ năm 2001 – 2016
Tỉ lệ % GDP chi cho R&D năm 2005
So sánh kết quả KHCNĐM năm 2014 với các quốc gia
OECD

Phân bổ tài chính cho nghiên cứu khoa học cơ bản năm

Trang
31
33
35

6

Hình 3.7

7

Hình 3.8

Phân bổ R&D vào các ngành nghiên cứu khoa học

46


đồng)
Tỷ lệ chi KHCN từ NSNN so với tổng chi NSNN và
GDP (%)

iii

45

53
56
66

67


PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã và
đang đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao
động làm chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu kinh tế của các quốc gia và làm thay
đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội loài người. Việc nhanh chóng vận
dụng những thành tựu của khoa học công nghệ đã làm thay đổi cục diện của
nhiều khu vực và nhiều nước trên thế giới. Hay nói một cách khác, công nghệ
bao giờ cũng quyết định vị trí và thứ bậc phát triển của các quốc gia. Nếu từ
thế kỷ VII đến thế kỷ XVII, Trung Hoa thực sự là trung tâm và làm thay đổi
thế giới nhờ 4 phát minh công nghệ là thuốc súng, kỹ thuật in, giấy và la bàn
nam châm, thì từ thế kỷ XVIII, vị trí này không còn nữa do châu Âu đã vượt
qua nước này về công nghệ bằng cuộc cách mạng công nghệ lần thứ nhất với
phát minh ra máy hơi nước. Nhờ biết thay thế lao động con người bằng lao

thành quả từ trước, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu đã tiếp tục phát triển và
không ngừng nâng cao chất lượng, không ngừng sáng tạo dựa trên những
thành tựu của đời trước để tạo ra những sáng kiến, phát minh vĩ đại cho đời
sau. Ví dụ cụ thể nhất cho thấy sự phát triển thần kì dựa trên việc ứng dụng
khoa học công nghệ - đất nước Nhật Bản giai đoạn sau Chiến tranh thế giới
thứ hai. Dù là nước thua trận, xong chỉ sau một thời gian ngắn, nhờ vào
những ứng dụng trong công nghệ, Nhật Bản đã dần trở thành một trong những
nền kinh tế thị trường nổi bật trên thế giới. Bằng việc tận dụng những khoa học
công nghệ dở dang và được bảo tồn, người dân Nhật Bản đã kế thừa và phát huy,
đẩy mạnh và phát triển những công nghệ đó lên một tầm cao mới. Đó là lí do vì
sao có một Nhật Bản đã rất thành công trong các ngành sản xuất đòi hỏi tri thức

2


công nghệ cao như sản xuất ô tô, thiết bị điện tử, đặc biệt là các vi điện tử, máy
móc thiết bị, tàu, hoá chất…
Nếu như có thể tận dụng và sử dụng các nguồn lực công nghệ một cách
hợp lý và hiệu quả, kế thừa những tiến bộ khoa học từ những quốc gia phát
triển trên thế giới và ứng dụng những thành tựu đó vào trong quá trình phát
triển kinh tế, kết hợp với những công nghệ kĩ thuật sẵn có,nguồn lực con
người với trình độ cao, các nguồn thông tin cùng với các nguồn tài chính
được kêu gọi từ phía Chính phủ hoặc từ các tổ chức, doanh nghiệp trong và
ngoài nước, sử dụng và phân bổ có hiệu quả và linh hoạt tất cả các nguồn lực
trên; Việt Nam sẽ ngày càng dần hoàn thiện bản thân và ngày càng phát triển
hơn nữa.
Chính vì vậy, em lựa chọn đề tài “Phân bổ Nguồn lực khoa học và công
nghệ cho phát triển kinh tế: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam” để
cho thấy được tầm quan trọng của khoa học công nghệ và quá trình phân bổ
nguồn lực này trong công cuộc phát triển kinh tế cho một quốc gia như thế

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ
của Đan Mạch, Nhật Bản và Mỹ.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau: phương pháp
tổng hợp và phân tích, phương pháp thống kê và so sánh để khái quát, hệ
thống và khẳng định kết quả nghiên cứu.
6. Kết cấu của luận văn
Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về phân bổ
nguồn lực khoa học công nghệ.

4


Chƣơng 2. Phương pháp nghiên cứu
Chƣơng 3. Kinh nghiệm về phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ ở
Đan Mạch, Nhật Bản và Mỹ
Chƣơng 4. Bài học kinh nghiệm và hàm ý cho Việt Nam
Do kinh nghiệm, thời gian và kiến thức còn hạn chế nên luận văn khó
tránh khỏi còn những vấn đề chưa được hoàn chỉnh, rất mong nhận đươc sự
đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo để bài viết được hoàn thiện và có ý
nghĩa thực tiễn hơn.

5


CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ
LÝ LUẬN VỀ PHÂN BỔ NGUỒN LỰC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện
đại đã và đang đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao năng

Kế hoạch và Đầu tư của Việt Nam (2016), Báo cáo sơ kết giai đoạn 20112015 về thực hiện chiến lược phát triển khoa học công nghệ 2011-2020, và
các tác giả như Đặng Hữu và cộng sự (2016), và Ngô Doãn Vịnh (2010).
Trước hết, các nghiên cứu đã có chủ yếu tập trung vào phân tích về thực
trạng các tổ chức Nghiên cứu và phát triển (R&D) của Việt Nam, ví dụ
OECD (2014), trong đó nêu hiện trạng số lượng cán bộ nghiên cứu, tính chất
hoạt động R&D….
Một hướng nghiên cứu nữa về hoạt động khoa học công nghệ ở Việt Nam
là đánh giá về trình độ công nghệ của các doanh nghiệp ở Việt Nam, trong đó
có đề cập đến các khía cạnh về trình độ đổi mới công nghệ, số lượng đơn xin
quyền sở hữu công nghiệp (thương hiệu), bằng độc quyền sáng chế, …
Một số nghiên cứu khác cũng xem xét phân bổ nguồn lực nhà nước
(chẳng hạn như nguồn vốn) cho hoạt động khoa học công nghệ. Đặng Hữu và
cộng sự (2016) cho rằng ít khi thấy rõ đóng góp cụ thể của các hoạt động
R&D do Chính phủ đầu tư vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội đặt
ra và hầu như không thể đo lường kết quả thực hiện (nếu có). Đặng Hữu và
cộng sự (2016) cũng cho rằng kết nối giữa trường đại học hoặc cơ quan
nghiên cứu với khu vực tư nhân còn rất mờ nhạt. Cuối cùng, sự tách biệt giữa
hệ thống nghiên cứu và hệ thống đào tạo ngay chính trong các cơ sở nghiên
cứu và đào tạo gây chồng chéo, giảm hiệu suất, làm cho nguồn lực mỏng càng
thêm dàn trải (Đặng Hữu và cộng sự, 2016).
7


Ngoài ra cũng có một số nghiên cứu khác đề cập đến hiện trạng hạ tầng
công nghệ thông tin và truyền thông, hay hiệu quả việc ứng dụng công nghệ
(ví dụ Ngô Doãn Vịnh, 2010), hiện trạng nguồn lực khoa học công nghệ và
R&D. …
Như vậy, có thể thấy rằng nguồn lực khoa học công nghệ có vai trò quan
trọng như nào và việc phân bổ sử dụng các yếu tố nguồn lực một cách hợp lý
và có hiệu quả ra sao sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế. Cần phải có cái

ra 2 hệ thống tri thức: tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học.
 Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động
sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con
người với thiên nhiên. Quá trình nầy giúp con người hiểu biết về sự vật, về
cách quản lý thiên nhiên và hình thành mối quan hệ giữa những con người
trong xã hội. Tri thức kinh nghiệm được con người không ngừng sử dụng và
phát triển trong hoạt động thực tế. Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm chưa thật
sự đi sâu vào bản chất, chưa thấy được hết các thuộc tính của sự vật và mối
quan hệ bên trong giữa sự vật và con người. Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ
phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định, nhưng tri thức kinh nghiệm là
cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học.
 Tri thức khoa học: là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống
nhờ hoạt động NCKH, các họat động nầy có mục tiêu xác định và sử dụng
phương pháp khoa học. Không giống như tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa
học dựa trên kết quả quan sát, thu thập được qua những thí nghiệm và qua các
sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên. Tri thức
khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các ngành và bộ môn khoa học
(discipline) như: triết học, sử học, kinh tế học, toán học, sinh học…
“Trích từ trang Khoa học công nghệ thông tin - Trường Đại học Mỏ Địa chất”

1.2.2. Khái niệm về công nghệ
Thuật ngữ công nghệ (technology) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là
technología, trong đó téchnē mang nghĩa là “nghệ thuật, kỹ năng nghề”, hoặc
“thủ công” và logía mang nghĩa là “châm ngôn”, “nghiên cứu”. Vì vậy, thuật

9


ngữ technología hàm nghĩa về các công cụ, kỹ năng và mưu mẹo của con
người trong các hoạt động sống. Ngày nay, công nghệ được xem là hệ thống


phẩm”. Đây là khái niệm ông Hải cho rằng rõ ràng, dễ hiểu và giúp người đọc
có thể hình dung ngay ra công nghệ là gì, bao gồm các đối tượng nào.
Dù được định nghĩa theo nhiều hướng khác nhau, song công nghệ có thể
được tóm tắt và hiểu rằng đó là những phương pháp, quy trình, bí quyết, kĩ năng,
công cụ dụng cụ, … được sử dụng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.
1.2.3. Khái niệm về nguồn lực khoa học công nghệ
Để hiểu được nguồn lực khoa học công nghệ là gì, trước hết cần phải
hiểu khái niệm Nguồn lực là gì? Lâu nay không có gì tranh luận lớn, nhưng
nhìn nhận về nguồn lực chưa nhất quán và thiếu cách nhìn định lượng; chưa
quan tâm đúng mức đến việc tranh giành và độc quyền đối với một số nguồn
lực nhờ danh nghĩa tổ chức nhà nước. Việc lãng phí nguồn lực cũng chưa
được xem xét đúng mức. Những thứ được coi là nguồn lực phải là những thứ
được sử dụng hoặc có khả năng sử dụng trong thời kỳ dự kiến phát triển.
Tiềm năng chưa đưa được vào sử dụng hoặc chưa có khả năng đưa vào sử
dụng thì chưa được xem là nguồn lực.
Theo ông Ngô Doãn Vịnh (bài đăng “Nguồn lực là gì? Động lực là gì?
ngày 28/10/2009) cho rằng các nguồn lực được xem xét dưới nhiều góc độ.
Có nghĩa là dưới nhiều góc độ, người ta chia các nguồn lực thành các loại
khác nhau để có thái độ đúng đắn và có cách ứng xử với chúng thích hợp. Với
cách nhận thức như thế và trên quan điểm thiết thực, việc phân chia các
nguồn lực được tiến hành theo hai cách chủ yếu:
Cách thứ nhất: người ta chia ra thành nguồn lực vật chất và nguồn
lực tinh thần.
Nhóm nguồn lực vật chất gồm có: tài nguyên thiên nhiên (tài nguyên đất,
tài nguyên rừng, tài nguyên biển, tài nguyên thuỷ điện, tài nguyên nước, tài
nguyên khí hậu, vị trí địa kinh tế...) và cơ sở vật chất kỹ thuật đã tạo dựng
(nhà cửa, công trình công cộng, đường sá, hải cảng, sân bay, hệ thống sản

11



đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả cao”3.
Từ định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu nguồn lực khoa học công nghệ
bao gồm 2 nội dung sau:
 Một là, nghiên cứu khoa học và tạo ra công nghệ mới – nghiên cứu khoa
học giúp con người hiểu được bản chất của thế giới tự nhiên, nắm được các
quy luật vận động tự thân của nó, trên cơ sở đó tìm tòi, sáng tạo ra các công
nghệ mới ngày càng hiện đại để chinh phục thế giới tự nhiên, bắt nó phục vụ
ngày càng tốt hơn cho cuộc sống của con người và và sự phát triển không
ngừng của xã hội loài người.
 Hai là, tổ chức chuyển giao các công nghệ nghiên cứu được ứng dụng
vào đời sống và sản xuất. Nghiên cứu đã là vấn đề khó khăn, phức tạp, xong
việc đưa được kết quả nghiên cứu vào cuộc sống không phải dễ dàng. Thực tế
đã cho thấy rằng có không ít nghiên cứu, phát minh làm ra bị bỏ trong ngăn
kéo của các nhà khoa học, hoặc phải mất tới vài năm, thậm chí vài chục năm
các phát minh đó mới được đưa vào ứng dụng thực tế.
Bởi vậy, một quốc gia muốn có tiềm lực khoa học – công nghê hùng
mạnh, phải luôn gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu, phát minh, sáng chế và tổ
chức chuyển giao các kết quả đó vào ứng dụng thực tiễn trong đời sống. Tuy
nhiên, cũng cần có lưu ý đó là những quốc gia không mạnh về nghiên cứu cơ
bản thì cần đầu tư mạnh mẽ cho nghiên cứu ứng dụng để có thể bắt kịp với
trình độ phát triển chung của toàn nhân loại, điều này hoàn toàn có thể thực
hiện được khi xu hướng toàn cầu hóa hiện nay ngày phát triển, việc nhập khẩu
công nghệ không còn khó khăn như trước.
Để có được tiềm lực khoa học – công nghệ mạnh cần phải chú trọng vào
2 vấn đề sau:

3


 Khuyến khích và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp thuộc mọi thành phần
kinh tế nghiên cứu phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ. Tăng cường
hoạt động nghiên cứu khoa học trong các trường đại học. Đổi mới cơ chế

14


quản lý, nhất là cơ chế tự chủ về tài chính, tổ chức và hoạt động của tổ chức
khoa học, công nghệ công lập. Hoàn thiện thể chế định giá tài sản trí tuệ, tăng
cường bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, xử lý nghiêm các vi phạm. Hỗ trợ nhập
khẩu công nghệ nguồn, công nghệ cao và kiểm soát chặt chẽ việc nhập khẩu
công nghệ.
 Xây dựng một số viện nghiên cứu ứng dụng khoa học, công nghệ hiện
đại, phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo và vườn ươm công nghệ. Tạo
thuận lợi thúc đẩy phát triển mạnh doanh nghiệp khoa học, công nghệ. Có
chính sách trọng dụng và tôn vinh đội ngũ khoa học, công nghệ. Khuyến
khích các nhà khoa học tham gia hoạt động khoa học, công nghệ trong và
ngoài nước.
 Thực hiện bước cải cách căn bản về cơ chế tài chính đối với lĩnh vực
khoa học và công nghệ, đặc biệt là việc đẩy mạnh cơ chế trao quyền tự chủ, tự
chịu trách nhiệm cho các tổ chức khoa học và công nghệ. Các cơ chế thu hút,
thúc đẩy đầu tư vào khoa học và công nghệ tiếp tục được đổi mới và hoàn
thiện, bao gồm cả việc thu hút nguồn lực của xã hội.
1.2.5. Tiêu chí đánh giá hiệu quả phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ
Để đánh giá được hiệu quả phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ có đạt
hay không, mỗi quốc gia sẽ có những tiêu chí đánh giá và tỉ lệ cho từng tiêu chí
sẽ là khác nhau. Các tiêu chí đánh giá bao gồm:
 Việc xây dựng các văn bản pháp lý, cơ chế, chính sách khoa học công
nghệ trong việc thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân
lực hay phân bổ nguồn lực cho các đối tượng khoa học công nghệ, … Các văn

nghiên cứu và phân tích cụ thể cho từng đối tượng trong bài luận văn.

16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status