Vấn đề Quyền sở hữu trí tuệ trong nhượng quyền thương mại - Pdf 57

Vấn đề Quyền sở hữu trí tuệ trong nhượng quyền
thương mại
Mục lục
1.Sơ lược về nhượng quyền thương mại ................................................................................................. 3
............................................................................................................................................................... 12
2. Vấn đề sở hữu trí tuệ trong nhượng quyền thương mại .................................................................. 12
II. Chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ trong nhượng quyền thương mại. .................................................. 15
III. Các vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trong nhượng quyền thương mại và phương hướng bảo vệ quyền
sở hữu trí tuệ .............................................................................................................................................. 16
2. Cách bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ..................................................................................................... 17
VI. Quản lý nhà nước về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ............................................................................... 20
Kết luận ....................................................................................................................................................... 23
Tài liệu tham khảo: ..................................................................................................................................... 24
Phụ lục : ..................................................................................................................................................... 26
2
Nhóm 2 Lớp K51 LKD – TCKD
I. Quyền sở hữu trí tuệ và nhượng quyền thương mại
1.Sơ lược về nhượng quyền thương mại
- Lịch sử hình thành
Nhượng quyền thương mại được thế giới nhìn nhận là khởi nguồn tại Mỹ. Năm
1840, các nhà sản xuất bia của Đức cho phép một vài quán bia quyền bán sản
phẩm của họ. Năm 1851, lần đầu tiên trên thế giới nhà sản xuất máy khâu Singer
của Mỹ ký cho thực hiện hợp đồng nhượng quyền kinh doanh. Singer đã ký hợp
đồng nhượng quyền và trở thành người tiên phong trong việc thoả thuận hình
thức nhượng quyền. Năm 1880 bắt đầu nhượng quyền bán sản phẩm cho các đại
lý độc quyền trong lĩnh vực xe hơi, dầu lửa, gas. Trong thời gian này, phạm vi
hoạt động nhượng quyền chỉ là chuyển quyền phân phối và bán sản phẩm của
các nhà sản xuất. Sau chiến tranh thế giới thứ 2, hình thức này đã thực sự phát
triển rất mạnh mẽ. Sự bùng nổ dân số sau chiến tranh đã kéo theo sự tăng vọt
nhu cầu về các loại sản phẩm và dịch vụ và lúc này, nhượng quyền đã trở thành
mô hình kinh doanh thích hợp để phát triển nhanh chóng trong ngành công

châu Á đã tạo doanh thu hơn 500 tỷ USD mỗi năm. Một số nước có hệ thống
nhượng quyền đóng góp vai trò quan trọng trong sự phát triển của mình như: Tại
Thái Lan, số hợp đồng nhượng quyền đang tăng rất nhanh, trong đó có tới 67%
thuộc khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, với số vốn ban đầu cho mỗi hợp đồng
20.000-65.000 USD. Bộ thương mại Thái Lan công bố chương trình khuyến
khích và quảng bá thương hiệu nội địa ra thị trường quốc tế qua NQTM. Các
4
Nhóm 2 Lớp K51 LKD – TCKD
doanh nghiệp kinh doanh theo hình thức này được hỗ trợ đào tạo trung và ngắn
hạn về công nghệ NQTM. Do vậy, năm 2004 đạt doanh số 25 triệu Baht, năm
2005 tăng 10% và tăng rất nhanh cho các năm tiếp theo. Tại Nhật Bản, NQTM
phát triển mạnh từ năm 1996, đến năm 2004 đã có 1.074 hệ thống NQTM và
220.710 cửa hàng kinh doanh theo hình thức NQTM, doanh thu từ hệ thống này
Từ năm 1980, NQTM vào Trung Quốc. Đến năm 2004, nước này đã có 2.100 hệ
thống nhượng quyền (nhiều nhất thế giới), với 120.000 cửa hàng nhượng quyền
trong 60 lĩnh vực khác nhau. Biểu đồ tăng trưởng hoạt động nhượng quyền của
Trung Quốc dựng đứng kể từ khi nước này gia nhập WTO. Từ năm 2000, bình
quân mỗi năm hệ thống nhượng quyền tăng 38% vượt xa mức tăng trưởng 10%/
năm của hàng tiêu dùng, các cửa hàng nhận nhượng quyền tăng 55%. Đặc biệt,
hệ thống NQTM của doanh nghiệp Trung Quốc cạnh tranh ngang hàng với
thương hiệu nhượng quyền nổi tiếng của nước ngoài. Ở Malaysia, nhìn thấy lợi
ích của NQTM từ 1992, Chính phủ thành lập chương trình quốc gia về chuyển
nhượng (Franchise Development Programme - FDP) với 2 mục tiêu: (i) Gia tăng
số DN bán / mua NQTM; (ii) Thúc đẩy phát triển những SP / dịch vụ đặc thù nội
địa thông qua NQTM.
- Các loại hình nhượng quyền
Có 4 loại hình nhượng quyền kinh doanh (franchise) cơ bản, phản ánh mức độ
hợp tác & cam kết khác nhau giữa bên nhượng quyền (franchisor) và bên nhận
quyền (franchisee):
1. Nhượng quyền mô hình kinh doanh toàn diện (full business format franchise)

Nhóm 2 Lớp K51 LKD – TCKD
- Cấp phép sử dụng thương hiệu (brand franchise/trademark license)
như Crysler, Pepsi nhượng quyền sử dụng các thương hiệu Jeep và Pepsi cho
sản phẩm thời trang may mặc ở Châu Á; nhượng quyền thương hiệu Hallmark
(sản phẩm chính là thiệp) để sản xuất các sản phẩm gia dụng như ra giường, nệm
gối; nhượng quyền sử dụng các biểu tượng & hình ảnh của Disney trên các sản
phẩm đồ chơi, thực phẩm, đồ da dụng…
- Nhượng quyền “lỏng lẻo” theo kiểu các nhóm dùng chung tên hiệu (banner
grouping hoặc voluntary chains), thường hay gặp ở các công cung cấp dịch vụ
chuyên nghiệp (professional service) loại tư vấn kinh doanh/tư vấn pháp lý như
KPMG, Ernst & Young, Grant Thornton…
Nhìn chung đối với mô hình nhượng quyền không toàn diện này, bên nhượng
quyền là chủ thể sở hữu thương hiệu/sản phẩm/dịch vụ thường không nỗ lực
kiểm soát chặt chẽ hoạt động của bên nhận quyền và thu nhập của bên nhượng
quyền chủ yếu từ việc bán sản phẩm hay dịch vụ. Bên nhượng quyền thường có
ý định mở rộng nhanh chóng hệ thống phân phối nhằm gia tăng độ bao phủ thị
trường, doanh thu & đi trước đối thủ như trường hợp cà phê Trung Nguyên hoặc
G7 Mart.
Đặc biệt, nhượng quyền thương hiệu (brand licensing) trở thành ngành kinh
doanh hấp dẫn và mang lại nhiều lợi nhuận to lớn cho bên nhượng quyền với tư
cách là chủ thể sở hữu thương hiệu mạnh (như Pepsi) và bên nhận quyền khi tiếp
nhận & kinh doanh sản phẩm gắn liền với thương hiệu đó (trường hợp thời trang
Pepsi không có liên hệ gì với sản phẩm “lõi” nước giải khát Pepsi mang cùng
thương hiệu) nhờ sử dụng lợi thế giá trị tài sản thương hiệu (brand equity) đã
được phát triển qua nhiều năm.
3. Nhượng quyền có tham gia quản lý (management franchise):
7
Nhóm 2 Lớp K51 LKD – TCKD
Hình thức nhượng quyền phổ biến hay gặp ở các chuỗi khách sạn lớn như
Holiday Inc, Marriott, trong đó bên nhượng quyền hỗ trợ cung cấp người quản

cũng như hình thức kinh doanh nhượng quyền thương mại của chính nó là một
thực trạng cần xem xét và là bài học cho các doanh nghiệp trẻ của Việc Nam
bước đầu tham gia thị trường kinh doanh mới đó là nhượng quyền.
Một thương hiệu “Việt” khác cũng cần xem xét và đánh giá sự chuẩn bị của nó
trước khi tham gia lĩnh vực nhượng quyền này là Phở 24, phát triển mạnh vào
những năm 2004 – 2005 và đã có một số cửa hiệu vươn ra nước ngoài
+ Pháp luật
- Trước 01/01/2006
Trong giai đoạn này, franchise chưa được luật hóa. Tuy nhiên nó vẫn được nhắc
đến và chịu sự điều chỉnh của một số văn bản pháp quy.
- Năm 1999:
Theo mục 4.4.1 của Thông tư 1254/1999/TT-BKHCNMT, do Bộ Khoa học
Công nghệ và Môi trường ban hành ngày 12/7/1999 (hướng dẫn Nghị định
45/1998/NĐ-CP về chuyển giao công nghệ), quy định rằng:
“... hợp đồng với nội dung cấp li xăng sử dụng nh.n hiệu hàng hóa kèm theo các
bí quyết sản xuất, kinh doanh được chuyển giao từ nước ngoài vào Việt Nam có
giá trị thanh toán cho một hợp đồng trên 30.000 USD (hợp đồng cấp phép đặc
quyền kinh doanh – tiếng Anh gọi là franchise)”
9
Nhóm 2 Lớp K51 LKD – TCKD
- Năm 2005:
Chính phủ ban hành Nghị định số 11/2005/NĐ-CP hướng dẫn thi hành quy định
về chuyển
giao công nghệ, trong đó có định nghĩa khái niệm “cấp phép đặc quyền kinh
doanh” như sau:
“..cấp phép đặc quyền kinh doanh, theo đó Bên nhận sử dụng tên thương mại,
nh.n hiệu hàng hóa và bí quyết của Bên chuyển giao để tiến hành hoạt động kinh
doanh trong lĩnh vực thương mại, thời hạn hợp đồng cấp phép đặc quyền kinh
doanh do hai bên thỏa thuận theo quy định pháp luật”. (k6 Đ4)
Theo mục 5 Phần I Thông tư 30/2005/TT-BKCN của Bộ Khoa học và Công

*Nghị định 35/2006/NĐ-CP: do Chính phủ ban hành ngày 31/3/2006 để quy
định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại. Các vấn
đề liên quan đến điều kiện hoạt động nhượng quyền, quyền và nghĩa vụ của các
bên trong hoạt động nhượng quyền, quản lý nhà nước đối với hoạt động nhượng
quyền được thể hiện tương đối đầy đủ trong Nghị định này.
* Thông tư 09/2006/TT-BTM: do Bộ Thương mại ban hành ngày 25/5/2006 để
hướng dẫn đăng k. hoạt động nhượng quyền thương mại. Thông tư này quy định
cụ thể thủ tục tiến hành đăng ký hoạt động nhượng quyền và trách nhiệm của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận đăng ký, thương nhân thực hiện đăng ký
nhượng quyền.
11
Nhóm 2 Lớp K51 LKD – TCKD

2. Vấn đề sở hữu trí tuệ trong nhượng quyền thương mại
- Một trong những vấn đề mà các doanh nghiệp thường gặp phải là phát triển và
khai thác sở hữu trí tuệ của bên nhượng quyền thương mại.
+ Nhãn hiệu
Nhãn hiệu đã có từ rất xa xưa, trước cả khi con người có sự trao đổi hàng hóa
với nhau trên thị trường. Người Ấn Độ với chữ ký được chạm khảm trên đồ kim
hoàn mỹ nghệ, người Trung Quốc với những nét bút tinh tế trên đồ gồm, sứ để
xuất khẩu, người Nhật bản với những con dấu trên giấy viết.
Nhãn hiệu hàng hóa là bất kỳ dấu hiệu nào có khẳ năng phân biệt hàng hóa, dịch
vụ của nhà sản xuất, nhà cung cấp dịch vụ này với các nhà sản xuất, nhà cung
cấp dịch vụ khác trên thị trường, hay chỉ dẫn đền nguồn gốc của hàng hóa, dịch
vụ.
Một dấu hiệu có khả năng đăng ký nhãn hiệu phải đáp ứng được các tiêu chuẩn
do các Cơ quan nhãn hiệu quốc gia đặt ra và các tiêu chuẩn quốc tế. Có hai tiêu
chí chính để xem xét (i.) Nhãn hiệu phải độc đáo và/hoặc có khẳ năng phân biệt
các sản phẩm/dịch của doanh nghiệp này với các sản phẩm/dịch vụ của doanh
nghiệp khác (ii.) Nhãn hiệu không mô tả sản phẩm/dịch có thể gây hiểu lầm hoặc

13
Nhóm 2 Lớp K51 LKD – TCKD
dụng nó; (iii) được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để không bị
tiết lộ và không dễ dàng tiếp cận được.
Khi sử dụng phải mang lại lợi thế cho bên sử dụng. như vậy là phải có sự
kiểm chứng, điều này phải thực hiện thong qua việc sử dụng và chứng minh
trong kinh doanh của bên chuyển nhượng. Bên chuyển giao phải chứng minh
được việc sử dụng bí mật đó mang lại hiệu quả như nào và phải cam kết sự hiệu
quả đó nếu chuyển nhượng cho bên nhận.
Ngoài ra, bên chuyển giao phải có các biện pháp bảo vệ những bí mật đó
một cách cẩn trọng cần thiết. các thong tin về cá nhân, quản lý nhà nước, an ninh
quốc phòng và các thong tin không lien quan tới kinh doanh không phải là đối
tượng được coi là bí mật kinh doanh.
t sự nhận biết trên sẽ giúp bên nhận tránh được sự bưng bít thông tin và
sự lừa đảo của bên chuyển giao, đó cũng là dấu hiệu nhận biết cơ bản ngoài
những quy định của pháp luật về căn cứ để chuyển giao quyền: bên chuyển giao
phải chứng minh quyền sở hữu của mình với bên thứ ba, bí mật đó là hợp
pháp…
Do tính quan trọng trong việc có được bí mật kinh doanh là sẽ mang lại lợi
thế rất lớn về cạnh tranh nên cần phải xem xét kỹ về các thỏa thuận về phạm vi
chuyển giao, trong đó gồm giới hạn về quyền sử dụng và giới hạn lãnh thổ. Về
giới hạn về quyền sử dụng: bên chuyển giao sẽ cho phép bên nhận được sử dụng
bí mật đó vào mục đích gì, sản xuất các sản phẩm gì?
Về giới hạn về lãnh thổ, liên quan tới khía cạnh của luật cạnh tranh, nếu
bên chuyển giao chuyển giao cho quá nhiều chủ thể khác thì rõ ràng lợi thế kinh
doanh sẽ bị giảm vì sự cạnh tranh lẫn nhau, như vậy thỏa thuận về giới hạn lãnh
14
Nhóm 2 Lớp K51 LKD – TCKD


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status