VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ THỊ CÚC
ĐẠO ĐỨC MÔI TRƢỜNG Ở SINH VIÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC HẢI DƢƠNG HIỆN NAY:
THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI, 2018
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ THỊ CÚC
ĐẠO ĐỨC MÔI TRƢỜNG Ở SINH VIÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC HẢI DƢƠNG HIỆN NAY:
THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ
Ngành: Triết học
Mã số: 82 29 001
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS. HỒ SĨ QUÝ
3.4. Huy động các nguồn kinh phí chi cho hoạt động bảo vệ môi trường ........... 73
KẾT LUẬN ................................................................................................................. 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 80
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một đất nước đang phát triển mạnh với thành tựu kinh tế - xã hội
được cộng đồng thế giới đánh giá cao. Những năm gần đây cùng với sự tăng trưởng
cao của nền kinh tế, sự phát triển nhanh chóng của đời sống xã hội cũng đã ít nhiều
để lại những hệ lụy về bảo vệ môi trường. Ô nhiễm môi trường chất thải, kể cả chất
thải khí, chất thải rắn, và chất thải hóa chất đều đã xảy ra. Tai nạn và sự cố môi
trường ở một số địa phương đã trở thành hiểm họa đe dọa sự phát triển. Rác thải công
nghiệp thế hệ cũ đã tràn vào Việt Nam. Môi trường thực phẩm cũng trở nên không an
toàn…Trên thực tế, ô nhiễm môi trường đã và đang là vấn đề báo động ở Việt Nam.
Vấn đề đặt ra là phải làm sao để ngăn chặn vấn nạn đó? Câu hỏi này đặt ra
không chỉ đối với sự quản lý vĩ mô của chính phủ, mà còn đặt ra đối với hoạt động
của các ngành các cấp, với thái độ và hành vi của toàn thể cộng đồng. Đặc biệt, câu
hỏi đặt ra không chỉ về phương diện kinh tế - xã hội hay pháp luật, mà còn đặt ra về
phương diện văn hóa và đạo đức. Đạo đức môi trường ngày nay là giá trị tinh thần
không thể thiếu để các xã hội phát triển bền vững.
Thế hệ trẻ nước ta chiếm tỉ lệ khoảng 27% dân số và đây cũng chính là những
chủ nhân tương lai của đất nước, là những người sẽ góp phần thúc đẩy đất nước phát
triển theo hướng hiện đại hóa, công nghiệp hóa. Để thúc đẩy được đất nước phát triển
thì một điều không thể thiếu là cần ngăn không cho môi trường tiếp tục bị ô nhiễm,
giải quyết được vấn nạn ô nhiễm môi trường. Điều này ở một mức độ lớn, phụ thuộc
vào ý thức, văn hóa và đạo đức của cộng đồng cũng như của mỗi người thông qua
hành động của họ với việc bảo vệ môi trường.
Nói đến thế hệ trẻ, cần thiết phải chú ý đến lớp người rất có ý nghĩa đối với sự
phát triển đất nước là những bạn trẻ còn đang ngồi trên ghế nhà trường, những sinh
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Môi trường là hệ vấn đề đã được khá nhiều tác giả nghiên cứu, tìm hiểu và đề
cập tới bởi tính cần thiết và cấp bách ngày càng nghiêm trọng của nó. Đã có nhiều
công trình nghiên cứu đi vào cả chiều sâu và chiều rộng của vấn đề, đi từ chuyên
ngành đến đa ngành và liên ngành với nhau. Trong đó, từ góc độ khoa học xã hội
2
nhân văn và từ chuyên ngành triết học, chúng tôi thấy có một số công trình nghiên
cứu đáng chú ý sau đây:
Trước tiên cần phải nhắc đến: “Báo cáo môi trường quốc gia”. Đây là những
báo cáo hàng năm về vấn đề môi trường do Bộ tài nguyên và Môi trường thực hiện.
Từ báo cáo môi trường quốc gia năm 2016 với chủ đề là môi trường đô thị cho biết
tình trạng ô nhiễm môi trường ở các khu đô thị của Việt Nam đang diễn ra rất phức
tạp với sự ô nhiễm tiêu biểu hàng đầu là hoạt động của ngành giao thông vận tải,
ngành xây dựng, ngành công nghiệp... gây ra.Ô nhiễm môi trường không khí, chủ
yếu là bụi gây ảnh hưởng trực tiếp và nghiêm trọng đến sức khỏe của người dân sinh
sống tại chính khu đô thị đó. Đặc biệt là trẻ em với sức đề kháng còn yếu. Bên cạnh ô
nhiễm không khí là ô nhiễm môi trường nước do việc xử lý nước thải chưa đúng quy
định và do việc vứt rác thải xuống sông, hồ ven khu đô thị gây nên tình trạng bốc mùi
hôi thối, nước sông hồ chuyển màu đen làm ảnh hưởng tới đời sống sinh hoạt của
người dân và làm xấu đi hình ảnh đẹp của khu đô thị. Ngoài ra còn ô nhiễm do chất
thải rắn gây ra, đó là hiện tượng thu gom và vận chuyển rác thải chưa nhanh chóng và
kịp thời làm bốc mùi hôi thối và mất mỹ quan đô thị. Cuối cùng là ô nhiễm môi
trường đất do nước thải chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đúng theo quy định, các bãi
chôn lấp rác thải gây ra...
Báo cáo môi trường quốc gia năm 2017 với nội dung chính đề cập tới là quản
lý chất thải. Theo báo cáo vấn đề quản lý chất thải còn nhiều bất cập, chỉ tính về nước
thải mới giải quyết được trên 10% tổng lượng nước thải, còn lại vẫn thải ra môi
phân biệt tuổi tác, trình độ. Vì đạo đức môi trường được thể hiện ở tất cả các phương
diện của xã hội từ sản xuất, du lịch, giải trí, học tập đến sinh hoạt hàng ngày của con
người. Hiện nay ô nhiễm môi trường không chỉ tập trung ở thành phố, các khu đô thị,
công nghiệp mà đã len lỏi về tận thôn quê và trường học. Điều đó đòi hỏi càng phải
đẩy nhanh giáo dục đạo đức môi trường cho từng người dân. Các công trình nghiên
cứu trên đã nhấn mạnh đến thực trạng môi trường hiện nay, các vấn đề cần giải quyết
và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao đạo đức môi trường để bảo vệ môi trường
4
đang bị suy thoái. Các giải pháp đó thể hiện ở tầm quốc gia và được thực hiện trên
phạm vi cả nước với tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Trong số những nghiên cứu có liên quan đến đạo đức môi trường, chúng tôi
thấy một số công trình ít nhiều có nghiên cứu sâu hơn, hệ thống hơn về đạo đức môi
trường như: Vũ Dũng, “Đạo đức môi trường ở nước ta: lí luận và thực tiễn”, Nxb.
Từ điển bách khoa, Hà Nội 2010; Dự án điều tra cơ bản “Đánh giá đạo đức môi
trườngở nước ta hiện nay”, do Viện Khoa học xã hội Việt Nam thực hiện (2009 –
2010); Nguyễn Văn Phúc, “Đạo đức môi trường”, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội
2013; “Xây dựng đạo đức môi trường ở Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ Triết
học của Hoàng Thị Thanh chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử, Hà Nội, 2017. Đây là những công trình đề cập đến cả mặt lý luận và
nhận thức về đạo đức môi trường với những khái niệm cụ thể và chi tiết bao gồm:
khái niệm môi trường, đạo đức, đạo đức môi trường và các tiêu chí để đánh giá đạo
đức môi trường... Ví dụ: Các tiêu chí để đánh giá đạo đức môi trường thể hiện như
sau: Đạo đức môi trường là những hành vi mang tính chuẩn mực (thông qua các văn
bản pháp luật, các quy định, nghị định hiện hành của Đảng và Nhà nước về môi
trường); Ý thức về nghĩa vụ của con người đối với việc bảo vệ môi trường; Ý thức tự
giác, tự nguyện của chủ thể đối với việc bảo vệ môi trường; Sự tác động của lương
tâm chủ thể đối với việc bảo vệ môi trường; Việc bảo vệ môi trường gắn với việc hài
Hải Dương. Xác định những vấn đề đặt ra.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao đạo đức môi trường ở sinh viên đại
học trong học tập và trong cuộc sống.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đạo đức môi trường (trong luận văn chủ yếu nghiên cứu môi trường tự nhiên)
ở sinh viên Trường Đại học Hải Dương.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu đạo đức môi trường (luận
văn chủ yếu nghiên cứu môi trường tự nhiên) ở sinh viên đại học đang học tập tại
Trường Đại học Hải Dương trong những năm gần đây.
6
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận văn là triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, chủ yếu là về quan hệ con người với tự
nhiên, về môi trường và về đạo đức môi trường.
Luận văn có sự kế thừa những quan điểm và thành tựu nghiên cứu của các nhà
khoa học đi trước về môi trường và đạo đức môi trường… trong đời sống xã hội và
trong quá trình đổi mới ở Việt Nam hơn 30 năm qua.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài kết hợp sử dụng các phương pháp phân tích - tổng hợp; logic - lịch sử;
hệ thống - cấu trúc, phân tích tài liệu thứ cấp và liên ngành khoa học xã hội .
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm rõ lý luận và những vấn đề đạo đức môi trường ở sinh
viên đại học hiện nay.
để đảm bảo sự hoạt động của cộng đồng nói chung. Đạo đức được hình thành dựa
trên cơ sở tự giác, tự nguyện không mang tính cưỡng ép, bắt buộc. Chỉ có những
hành vi được thực hiện trên cơ sở tự giác, tự nguyện và phù hợp với lợi ích xã hội
mới được coi là hành vi đạo đức.
Theo Từ điển Tiếng Việt, “đạo đức” là “những tiêu chuẩn, nguyên tắc được
dư luận xà hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và
đối với xã hội phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những tiêu chuẩn
nhất định mà có” [39, tr.464].
Theo Giáo trình đạo đức học của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh:
“Đạo đức thuộc hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc nhằm
điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau, với xã
hội, với tự nhiên trong hiện tại hoặc quá khứ cũng như tương lai. Chúng được thực
hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội.” [17,
tr.116].
8
Như vậy có thể hiểu đạo đức theo các khía cạnh sau:
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, trong đó tập hợp những qui tắc,
chuẩn mực xã hội và từ những quy tắc, chuẩn mực đó con người sẽ tự giác điều
chỉnh hành vi của bản thân mình để phù hợp với lợi ích và hạnh phúc của con
người, với tiến bộ xã hội.
Đạo đức là hệ thống những qui tắc, nguyên tắc, chuẩn mực thể hiện sự tự
giác của con người trong mối quan hệ giữa con người với con người, con người với
cộng đồng xã hội, con người với tự nhiên và con người với chính bản thân mình.
Cấu trúc của đạo đức
Với tư cách là một bộ phận của triết học, đạo đức là một hiện tượng xã hội
có cấu trúc phức tạp, gồm các thành phần sau: ý thức đạo đức, hành vi đạo đức và
quan hệ đạo đức.
quyền của đạo đức, bởi vì trong xã hội, con người tạo ra rất nhiều phương thức điều
chỉnh hành vi của mình như: pháp luật, tôn giáo, chính trị, nghệ thuật, nhận thức
khoa học...Chức năng này nhằm bảo đảm hài hòa quan hệ lợi ích cộng đồng và cá
nhân. Nếu như sức mạnh của pháp luật là sự cưỡng chế, bắt buộc phải thực hiện thì
sức mạnh của đạo đức chính là niềm tin cá nhân, là truyền thống và dư luận xã hội.
Chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đức được thực hiện bằng hai phương
thức chủ yếu như sau: Thứ nhất là xã hội tạo ra sức mạnh dư luận để khen ngợi,
động viên những người có đạo đức và có những hành vi tốt đẹp. Đồng thời cũng lên
án, phê phán những hành vi gây ảnh hưởng xấu đến mọi người xung quanh và đến
cộng đồng xã hội. Thứ hai là bản thân mỗi người phải tự giác, xuất phát từ chính ý
thức của mình để điều chỉnh hành vi thông qua những chuẩn mực đạo đức xã hội và
bản thân cũng phải tham gia các hoạt động thực tiễn để bổ sung nhận thức, rèn
luyện ý chí.
Chức năng giáo dục: Đây cũng là một trong những chức năng cơ bản của
đạo đức, chức năng này có tác dụng hình thành những nguyên tắc, quy tắc và
chuẩn mực đạo đức trong từng con người cụ thể và phát triển nhân cách của họ.
Đây cũng là con đường đặc trưng cơ bản để loài người tồn tại và phát triển. Có
thể hiểu, chức năng giáo dục của đạo đức chính là làm cho “tính người” ở mỗi
10
người được nhiều lên để ngày càng có nhiều hành động đẹp cho những người khác
học tập và noi theo.
Về thực chất chức năng này là đạo đức hóa con người và xã hội loài người.
Hiệu quả của chức năng này phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế, xã hội, vào
mức độ tự giác của mỗi người trong quá trình giáo dục đạo đức để hướng tới nhân
cách và phẩm chất cần có.
Chức năng nhận thức: Ngoài hai chức năng nêu trên, đạo đức còn có chức
năng nhận thức. Chức năng này bao gồm: nhận thức và tự nhận thức. Nhận thức của
khổ nhất định, từ đó dần dần hình thành sức mạnh tập thể to lớn tạo thuận lợi
cho sự phát triển, và đây cũng là điểm khác biệt giữa cuộc sống của con người và
các sinh vật khác.
Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, đó là tất cả
các nhân tố do con người tạo ra, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống, như xe
máy, ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu đô thị, khu công nghiệp, các khu công
viên nhân tạo phục vụ cho vui chơi giải trí...
Từ những trình bày ở trên có thể hiểu môi trường sống là tất cả những gì có
xung quanh con người, đem lại cho con người điều kiện, cơ sở để tồn tại, để sống
và phát triển, như C.Mác đã từng trình bày trong tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết
học năm 1844: “Giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người, và chính nó là giới
tự nhiên trong chừng mực của bản thân nó không phải là thân thể con người. Con
người sống dựa vào tự nhiên. Như thế nghĩa là tự nhiên là thân thể của con người;
để khỏi chết, con người phải ở trong quá trình giao dịch thường xuyên với thân thể
đó. Sinh hoạt vật chất và tinh thần của con người liên hệ khăng khít với tự nhiên,
điều đó chẳng qua chỉ có nghĩa là tự nhiên liên hệ khăng khít với bản thân tự nhiên,
vì con người là một bộ phận của tự nhiên”[7, tr.91-92].
Chức năng của môi trường
Môi trường chính là không gian sống của con người và sinh vật. Vậy môi
trường có chức năng gì? Môi trường cho chúng ta không khí để thở và duy trì sự
sống, cho đất đai để trồng trọt chăn nuôi và xây dựng nhà cửa, ngoài ra môi trường
còn có rất nhiều loại khoáng sản ở cả trên mặt đất và trong lòng đất, đó là nguồn tài
nguyên rất quý phục vụ cho nhu cầu sản xuất. Không chỉ phục vụ cho nhu cầu sinh
hoạt, sản xuất mà môi trường còn có rất nhiều danh lam thắng cảnh đẹp là nơi du
13
lịch, nghỉ mát cho con người sau những ngày làm việc vất vả, cho cuộc sống của
con người tưoi đẹp và sinh động hơn. Tuy nhiên khả năng cung cấp của môi trường
14
cạn kiệt dẫn đến việc môi trường tự nhiên không thể tự điều chỉnh, tự cân bằng
được và gây ra hiện tượng ô nhiễm môi trường. Với tình trạng ô nhiễm môi trường
như hiện nay việc bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của từng quốc gia
riêng lẻ mà nó mang tính toàn cầu, mang tính quốc tế với mọi quốc gia trên thế
giới.Từ sự ô nhiễm môi trường đang diễn ra nghiêm trọng như hiện nay chúng ta
nhận thấy rằng mỗi quốc gia nên có thay đổi về chiến lược, chính sách, cách thức và
mô hình phát triển về kinh tế để từ đó đảm bảo được sự cân bằng, hài hòa giữa con
người với xã hội và tự nhiên.
Ph.Ăngghen từng phân tích: “Khi đốt rừng trên các triền núi và lấy số phân
tro đủ để bón cho một đời cây cà phê đem lại một số thu hoạch rất lớn, thì những
người chủ đồn điền Tây Ban Nha ở Cu Ba có cần gì phải suy nghĩ rằng sau này,
những trận mưa rào ở vùng nhiệt đới sẽ cuốn sạch lớp đất bên trên không có sự che
chở và chỉ để lại những lớp đá trơ trụi”[8, tr. 658]. Có thể thấy, từ trong lịch sử con
người vì lợi ích kinh tế cũng đã bất chấp làm những hành động tàn phá tự nhiên.
Do vậy, để đảm bảo được sự cân bằng, hài hòa giữa con người với tự nhiên
thì bên cạnh việc khai thác tự nhiên con người cũng cần phải bảo vệ tự nhiên, bảo
vệ môi trường. Muốn bảo vệ môi trường thì phải có những hành động, việc làm về
bảo vệ môi trường ví dụ như: vứt rác đúng nơi quy định kể cả ở nhà hay ở trường
học, bệnh viện, nơi công cộng; không đưa nước thải chưa qua xử lý ra môi trường;
không bẻ cành cây, hái hoa hay dẫm lên cỏ ở những khuôn viên trường học, công
viên, khu đô thị làm xấu cảnh quan môi trường; hay rộng hơn là trồng cây phủ xanh
đất trống, trồng cây gây rừng, không chặt phá rừng bừa bãi, săn bắn trái phép những
loài vật quý đang trong danh sách cần được bảo tồn.... Những hành động và việc
làm đó phải xuất phát từ trong suy nghĩ, nhận thức, thái độ của mỗi người và phải
mang tính tự nguyện, tự giác không bắt buộc phải thực hiện. Đây chính là cơ sở để
hình thành và cho ra đời một cách ứng xử mới đối với môi trường thuộc về phạm
trù đạo đức được mang tên là đạo đức môi trường.
16
- Đạo đức môi trường biểu hiện thiết thực trong hành vi của mỗi người, mỗi
cộng đồng. Trình độ cao của đạo đức môi trường biểu hiện ở ý thức và kỹ năng xử
lý những vấn đề môi trường.
- Có thể trong tư tưởng, trong suy nghĩ của mình, những người dân bình
thường không hề biết các lý thuyết cao siêu nào đó về hệ sinh thái và bảo vệ môi
trường; song, không hẳn vì thế mà họ kém ý thức về mặt đạo đức môi trường. Đạo
đức môi trường, trước hết, được biểu hiện ở tình cảm tự nhiên của con người - con
người biết ửng xử thân thiện và biết tôn trọng môi trường sống quanh họ.
- Đạo đức môi trường độc lập nhất định với học vấn. Người có học vấn cao
chưa chắc đã có đạo đức môi trường ở trình độ cao. Người có học vấn thấp vẫn có
thể có đạo đức môi trường đáng tôn trọng” [36].
Từ những định nghĩa về đạo đức môi trường của các tác giả trong và ngoài
nước, khái niệm đạo đức môi trường được xác định như sau: Đạo đức môi trường
là một hệ thống bao gồm các quan điểm, nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức để trên cơ
sở đó con người sẽ tự điều chỉnh những hành vi của bản thân một cách tự giác, tự
nguyện, không cần ai chỉ đạo với môi trường nhằm hướng đến sự phát triển hài
hòa, ổn định và bền vững giữa con người với môi trường tự nhiên.
Như vậy, khái niệm đạo đức môi trường gồm một số nội dung cơ bản đáng
chú ý như sau:
1) Đạo đức môi trường là một hệ thống các quan điểm, quy tắc, chuẩn mực
đạo đức để hướng dẫn con người và điều chỉnh hành vi của con người đối với môi
trường nhằm thực hiện những mục đích của mình với môi trường nhưng cũng vẫn
bảo vệ môi trường để tạo ra sự phát triển hài hòa và bền vững giữa con người với
môi trường.
2) Trên cơ sở các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức con người đã tự giác và
chủ động điều chỉnh hành vi của mình với môi trường sa cho phù hợp với chuẩn
không vứt rác bừa bãi, không bẻ cành, hái hoa hay dẫm lên cỏ ở những nơi công
cộng... và ngược lại là những người không muốn bảo vệ môi trường. Để nhận biết
18
được một người có đạo đức môi trường hay không chỉ cần thông qua hành động và
việc làm của họ đối với môi trường.
Như vậy để thực hiện được đạo đức môi trường đòi hỏi mỗi người cần trang
bị cho mình những tri thức khoa học không chỉ về lĩnh vực môi trường mà còn bao
gồm các lĩnh vực khác, từ đó phát huy sức sáng tạo của mình để khai thác và bảo vệ
tự nhiên sao cho hợp lý và mỗi con người cũng cần đạo đức và tinh thần trách
nhiệm với hành động của mình.
Những chuẩn mực cơ bản của đạo đức môi trường
Nói đến đạo đức không thể không nói đến chuẩn mực đạo đức. Chuẩn mực
đạo đức có tư cách là sự thể hiện những yêu cầu, những đòi hỏi của xã hội đối với
hành vi cá nhân và chuẩn mực đạo đức thể hiện một cách tập trung chức năng điều
chỉnh của đạo đức. Vai trò điều chỉnh của các chuẩn mực đạo đức biểu hiện như
sau: những đòi hỏi, những yêu cầu của xã hội (ngăn cấm hoặc khuyến khích) thể
hiện trong chúng tạo nên giới hạn cho hành vi, xác định điều gì cần làm và điều gì
không được làm trong những hoàn cảnh, những tình huống cụ thể nhất định. Chuẩn
mực đạo đức, do vậy, là yếu tố trung tâm của ý thức đạo đức. Đồng thời nó cũng
phản ánh những yêu cầu về mặt đạo đức của xã hội đối với con người. Bởi vậy, một
hệ chuẩn mực đạo đức nhất định sẽ xác định đặc trưng của một nền đạo đức nói
chung hay một lĩnh vực đạo đức cụ thể.
Ở đây, có thể thấy đạo đức môi trường là một lĩnh vực đạo đức đặc thù, vì
vậy đi kèm với nó là một hệ thống chuẩn mực đạo đức đặc thù phản ánh những đặc
quá trình tiến hóa một cách tự nhiên của hệ thống con người – xã hội – tự nhiên.
Trước khi có con người, tự nhiên là một hệ thống thuần túy, có cơ chế tự
điều chỉnh. Nhưng từ khi con người xuất hiện hệ thống đó không còn là hệ thống tự
nhiên thuần túy nữa mà đã thay vào đó là hệ thống con người - xã hội - tự nhiên.
Con người khác với các thành tố khác của tự nhiên là họ có ý thức, có lí trí và có
năng lực để cải biến tự nhiên. Tuy nhiên với sự tác động của con người tới tự nhiên
trong suốt thời gian dài đã và đang gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Cùng với
nhận thức của mình, con người phải có những hành động thực tiễn nhằm bảo đảm
sự hài hoà, cân bằng của hệ thống con người- xã hội- tự nhiên. Bằng lí trí, ý thức và
20
bằng thực tiễn, con người sẽ nhận ra tôn trọng vàbảo vệ sự hài hoà của hệ thống
con người- xã hội- tự nhiên là một yêu cầu,một chuẩn mực đạo đức.
Thái độ, tình cảm tôn trọng, bảo vệ sự hài hoà của hệ thống con người - xã
hội- tự nhiên sẽ định hướng cho con người có sự tự giác và tự nguyện bảo vệ sự đa
dạng sinh học, bởi chính sự đa dạng sinh học là một trong những nhân tố, điều kiện
đảm bảo cho sự hài hòa của hệ thống con người – xã hội – tự nhiên luôn luôn được
bền vững. Và cũng chính thái độ, tình cảm đó sẽ định hướng cho chúng ta tự giác và
tự nguyện giải quyết một cách tối ưu những vấn đề đang tồn tại của con người, của
xã hội. Bởi vì, những vấn đề của môi trường không thể độc lập giải quyết mà không
giải quyết những vấn đề của con người, xã hội và những vấn đề của xã hội, con
người cũng chỉ có thể giải quyết được triệt để khi giải quyết được các vấn đề của
môi trường, của tự nhiên. Chính vì vậy, tôn trọng và bảo vệ sự hài hoà của hệ thống
con người - xã hội- tự nhiên là chuẩn mực đạo đức phổ quát, đồng thời cũng là sự
phản ánh về mặt đạo đức của bản thân quá trình phát triển bền vững lấy kinh tế, xã
hội và môi trường cùng làm mục tiêu để hướng tới.
Như vậy, đạo đức môi trường không những đòi hỏi bản thân mỗi người phải
biết tôn trọng môi trường tự nhiên mà còn phải biết đấu tranh chống lại các quan