ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
------o0o------
PHẠM NGỌC HÒA
BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI BẰNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2016
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
------o0o------
PHẠM NGỌC HÒA
BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI
BẰNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số
: 60 38 01 04
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẪN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI
BẰNG QUY ĐỊNH VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰTRONG LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM ..............................................................................................................14
1.1 Khái niệm Trách nhiệm hình sự và khái niệm Quyền con người ...................14
1.1.1 Khái niệm, vai trò và ý nghĩa của chế định trách nhiệm hình sự trong
luật hình sự .......................................................................................................14
1.1.2 Quyền con người và các cơ chế pháp lý bảo vệ quyền con người ..........19
1.2 Mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và quyền con người ............................28
1.2.1 Vị trí của chế định trách nhiệm hình sự trong bảo vệ quyền con người. ......28
1.2.2 Vai trò của chế định trách nhiệm hình sự trong bảo vệ quyền con người ....28
1.2.3 Ý nghĩa của chế định trách nhiệm hình sự trong bảo vệ quyền con người
.......................................................................... Error! Bookmark not defined.
1.2.4 Đặc điểm của việc bảo vệ quyền con người bằng quy định về trách
nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam...... Error! Bookmark not defined.
Kết luận chƣơng 1 ................................................... Error! Bookmark not defined.
CHƢƠNG 2: BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI BẰNG QUY ĐỊNH VỀ
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM. .... Error!
Bookmark not defined.
2.1 Sự thể hiện nội dung bảo vệ quyền con người bằng quy định về cơ sở của
TNHS. ................................................................... Error! Bookmark not defined.
2.2 Sự thể hiện nội dung bảo vệ quyền con người bằng quy định về tuổi chịu
TNHS. ................................................................... Error! Bookmark not defined.
2.3 Sự thể hiện nội dung bảo vệ quyền con người bằng quy định về tình trạng
không có năng lực TNHS. .................................... Error! Bookmark not defined.
4
2.4 Sự thể hiện nội dung bảo vệ quyền con người bằng quy định về thời hiệu
truy cứu TNHS. ..................................................... Error! Bookmark not defined.
quốc gia. Như vậy, cùng với sự biến chuyển của thời cuộc, tôn trọng và bảo vệ các
quyền con người đã dần trở thành thước đo cơ bản cho trình độ văn minh của các
nước, các dân tộc trên toàn cầu.
Không nằm ngoài xu thế ấy, trong quá trình phát triển, hội nhập sâu rộng với
các quốc gia trên thế giới, Việt Nam đã cho thấy những nỗ lực không ngừng của
mình trong việc khẳng định và thúc đẩy quyền con người. Thực tiễn lịch sử dân tộc
ta chỉ ra rằng, việc nghiên cứu quyền con người và những cơ chế bảo vệ quyền con
người không hề mâu thuẫn với lý tưởng cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam.
Bởi, cuộc cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc do Đảng cộng sản Việt Nam tiến
hành dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh không có mục đích gì hơn là
giành lại và giữ gìn, phát triển quyền con người cho toàn thể dân tộc cũng như mỗi
cá nhân người Việt Nam. Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước được phản ánh nhất
quán từ tư tưởng chính sách đến những nguyên tắc phổ quát và từng quy định pháp
luật cụ thể trên tất cả các lĩnh vực từ trước đến nay.
Trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay, việc xây
dựng được một hệ thống pháp luật đầy đủ và áp dụng được chúng một cách chính
xác, linh hoạt sẽ góp phần quan trọng trong việc đảm bảo những quyền và tự do cơ
bản của con người. Trong đó, không thể không kể đến pháp luật hình sự với tư cách
là một công cụ hữu hiệu trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm; nâng
cao nhận thức pháp luật và ý thức pháp lý; từng bước tiến tới hạn chế đến mức thấp
6
nhất những ảnh hưởng của tội phạm gây ra. Từ đó, nâng cao pháp chế, giữ gìn trật
tự pháp luật, duy trì kỷ cương xã hội, bảo vệ và bảo đảm quyền con người.
Để đạt được mục tiêu này, việc xây dựng hoàn thiện và áp dụng chính xác
pháp luật hình sự được đặt ra như là một trong những yêu cầu cấp thiết của việc
khẳng định và bảo vệ quyền con người. Qua thực tiễn nghiên cứu cũng như thi hành
Bộ luật hình sự, mặc dù đã đạt được những thành tựu mang ý nghĩa tích cực trong
lọc nhiều quan điểm, công trình nghiên cứu của các tác giả, với nhiều góc nhìn khác
nhau. Khi nghiên cứu về vấn đề TNHS, ít nhiều các tác giả đã đề cập đến phần nào
những nội dung liên quan đến quyền con người. Bởi, trách nhiệm hình sự là vấn đề
liên quan trực tiếp đến số phận pháp lý của một người. Do đó, trong quá trình
nghiên cứu, chúng ta không thể không đề cập đến những công trình nghiên cứu về
trách nhiệm hình sự.
Nhìn chung, trách nhiệm hình sự là một vấn đề khoa học phức tạp và nhận
được sự quan tâm của đông đảo các nhà khoa học trong và ngoài nước. Qua nghiên
cứu những công trình khoa học vô cùng có giá trị của GS. TSKS Lê Văn Cảm và
GS. TSKH Đào Trí Úc, người viết được tiếp cận với nhiều công trình nghiên cứu về
chế định này của các học giả của Liên Xô cũ, tiêu biểu trong số đó phải đề cập đến:
Trách nhiệm hình sự và cơ sở của trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Xô Viết
của Brainhin Ia. M (năm 1963); Nhân thân người phạm tội và trách nhiệm hình sự
của Leikina N. X (năm 1968); Trách nhiệm hình sự và cấu thành tội phạm của
Karpusin M. P., Kurlianđxki V. I ( năm 1974); Trách nhiệm hình sự và hình phạt
của Bagri-Sakhmatov L. V ( năm 1976); hay Những vấn đề lý luận của trách nhiệm
hình sự của Xantalov A. I ( năm 1982)...
Ở nước ta, hiện nay khi nghiên cứu về chế định trách nhiệm hình sự nói riêng
và bảo vệ quyền con người bằng các quy định về trách nhiệm hình sự nói riêng ít
nhiều đã được đề cập đến tại các công trình đáng chú ý sau:
* Sách chuyên khảo, tham khảo và đề tài khoa học:
GS.TSKH. Lê Văn Cảm, Hệ thống tư pháp hình sự trong giai đoạn xây dựng
Nhà nước pháp quyền, (Sách chuyên khảo) Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009;
GS.TSKH. Lê Văn Cảm, Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (phần
8
chung), (Sách chuyên khảo), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005; TS. Trần Quang
Tiệp, Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự, luật tố tụng hình sự Việt Nam,
nhiệm hình sự là một vấn đề có phạm vi nghiên cứu rộng, nội dung nghiên cứu vẫn
còn là một đề tài tranh luận sôi nổi và chưa có sự đồng thuận từ các nhà khoa học.
Với tình hình đó, đề tài “Bảo vệ quyền con người bằng các quy định về trách
nhiệm hình sự trong Luật hình sự Việt Nam” sẽ được nghiên cứu ở cấp độ luận
văn thạc sỹ một cách tương đối toàn diện, đảm bảo tính khoa học, logic và không
trùng lặp với những công trình đã được công bố.
3. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn đúng như tên gọi
của nó - Bảo vệ các quyền con người bằng các quy định về TNHS trong luật hình sự
Việt Nam. Tuy nhiên, bảo vệ quyền con người bằng các quy định về TNHS là
một đề tài vô cùng rộng lớn, cần phải nghiên cứu nhiều nội dung, từ nhiều khía cạnh
khác nhau, mà chỉ một công trình ở cấp độ cao hơn mới có thể, thể hiện được đủ
những đòi hỏi đó. Còn ở cấp độ luận văn thạc sĩ này, với trình độ có hạn, tác giả chỉ
dừng lại ở việc đề cập, nghiên cứu một cách tương đối có tính hệ thống một số nội
dung mà theo tác giả cho là chủ yếu đối với vấn đề bảo vệ các quyền con người bằng
các quy phạm về TNHS được quy định trong phần chung và một số quy định trong
phần các tội phạm của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999.
* Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận văn là một số vấn đề lý
luận và một phần nhỏ những vấn đề về thực tiễn bảo vệ các quyền con người bằng
các quy định về TNHS trong Phần chung và một số quy định trong phần các tội phạm
của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999. Luận văn đi sâu nghiên cứu sự bảo vệ
quyền con người thể hiện qua các quy định về trách nhiệm hình sự nói chung được
quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 và không đi
sâu vào nghiên cứu những vấn đề liên quan đến các yếu tố tăng nặng hay giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự do đây là nội dung thuộc một chế định khác.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu: Làm rõ khái niệm, đặc điểm quyền cơ bản của con
người được bảo vệ thông qua các chế định về trách nhiệm hình sự trong pháp luật
hình sự. Đồng thời, người viết đi sâu phân tích tính nhân đạo của pháp luật hình
11
6. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
- Đã khái quát một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền
con người bằng quy định về trách nhiệm hình sự trong các văn bản quy phạm pháp
luật Việt Nam.
- Có những phân tích, đánh giá ý nghĩa và hiệu lực của những quy định về
TNHS trong công tác bảo vệ quyền con người.
- Phân tích rõ nội dung bảo vệ quyền con người của từng chế định về lý luận
cũng như thực tiễn.
- Phân tích, đánh giá thực tiễn tình hình bảo vệ quyền con người bằng những
quy định về TNHS trong Bộ luật hình sự năm 1999; thực tiễn áp dụng pháp luật và
chỉ ra những khó khăn vướng mắc khi áp dụng pháp luật.
- Đề xuất những giải pháp mang tính đồng bộ và toàn diện góp phần nâng
cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền con người bằng quy định về TNHS.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
* Ý nghĩa về mặt lý luận
Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, người viết đã phân tích và chỉ
ra một số nội dung bảo vệ các quyền con người bằng những quy phạm về TNHS
trong Phần chung và một số điều trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự, mà
theo tác giả cho là chủ yếu, cơ bản và quan trọng nhất. Đồng thời, đưa ra một số
kiến nghị, nhằm khắc phục phần nào những hạn chế còn tồn tại trong những quy
định của pháp luật thực định, hướng tới tăng cường bảo vệ các quyền con người.
* Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Cùng với ý nghĩa về mặt lý luận, luận văn đã nghiên cứu, nhận ra một số tồn
tại, trong hoạt động thực tiễn,xét về bình diện bảo vệ các quyền con người bằng các
quy định về TNHS, đưa ra căn cứ và giải pháp nhằm khắc phục phần nào tồn tại và
hạn chế, nâng cao hiệu quả trong việc bảo vệ các quyền con người. Ngoài ra, luận
pháp luật; hoặc đó là việc chủ thể phải thực hiện một yêu cầu của cơ quan, cá nhân
có thẩm quyền nhân danh Nhà nước buộc họ phải làm một công việc nào đó. Thứ
hai, trách nhiệm là việc chủ thể phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi được
quy định trong phần chế tài của các quy phạm pháp luật khi họ thực hiện hành vi vi
phạm pháp luật hoặc khi có thiệt hại xảy ra do những nguyên nhân khác được pháp
luật quy định. Với cách hiểu như vậy, trách nhiệm pháp lý có mối quan hệ mật thiết
với các hành vi vi phạm pháp luật. Trách nhiệm pháp lý là một quan hệ đặc biệt
giữa một bên là Nhà nước và bên còn lại là các chủ thể vi phạm pháp luật. Trong
mối quan hệ này, "Nhà nước có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế có tính
chất trừng phạt được quy định trong các chế tài của quy phạm pháp luật đối với chủ
thể vi phạm pháp luật và chủ thể đó có nghĩa vụ gánh chịu hậu quả bất lợi do hành
vi của mình gây ra" [34]. Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi vi
phạm pháp luật, các mối quan hệ được các ngành luật tương ứng điều chỉnh cũng
như tầm quan trọng của các khách thể được từng ngành luật điều chỉnh, chúng ta có
các loại trách nhiệm pháp lý như sau: trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, trách
nhiệm hành chính và trách nhiệm pháp lý kỷ luật. Trong phạm vi nội dung luận văn,
người viết chỉ đề cập đến chế định "trách nhiệm hình sự".
Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý
bất lợi mà một người phải gánh chịu trước nhà nước do việc thực hiện hành vi phạm
14
tội của mình. Hành vi phạm tội có thể là các hành vi vi phạm những điều pháp luật
hình sự cấm, hoặc không thực hiện những nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện; từ đó
gây ra hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được pháp
luật hình sự ghi nhận và bảo vệ. Nhà nước quy định TNHS để áp dụng đối với
người phạm tội theo một thủ tục duy nhất là thủ tục tố tụng hình sự. Việc áp dụng
thủ tục này không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người phạm tội, hoặc ý
muốn của người bị hại (trừ một số trường hợp đặc biệt được quy định tại những
Từ đó ta có thể rút ra năm đặc điểm của trách nhiệm hình sự như sau. Thứ nhất,
TNHS là dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất phản ánh sự lên án của Nhà
nước đối với người thực hiện hành vi phạm tội thể hiện thông qua những biện pháp
cưỡng chế về hình sự - bao gồm hình phạt và các biện pháp tước bỏ hoặc hạn chế
một hay một số quyền, lợi ích hợp pháp áp dụng với đối tượng này. Thứ hai, TNHS
là hậu quả pháp lý bất lợi, là hệ quả tất yếu của việc thực hiện hành vi nguy hiểm
cho xã hội được quy định là tội phạm trong pháp luật hình sự. Thứ ba, TNHS được
xác lập bằng trình tự đặc biệt theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành buộc một người phải chịu trách nhiệm về
hành vi phạm tội của mình đã gây ra. Thứ tư, TNHS là trách nhiệm mà người phạm
tội phải chịu trước Nhà nước chứ không phải với đối tượng bị hành vi phạm tội của
người này xâm hại; vì vậy TNHS chỉ được giới hạn trong phạm vi quan hệ pháp
luật hình sự giữa hai chủ thể vừa nêu trên. Thứ năm, TNHS mang tính quyền lực
nhà nước, theo đó, chỉ có Nhà nước mới có quyền buộc người phạm tội phải chịu
TNHS thông qua bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật – việc phải chịu TNHS
của một người là chịu trách nhiệm trước nhà nước, phản ánh sự phủ định của Nhà
nước với các hành vi phạm tội, thể hiện sự lên án của cả cộng đồng xã hội chức
người phạm tội không phải chịu trách nhiệm trước bất kỳ cá nhân, tổ chức nào.
* Vai trò của chế định TNHS trong luật hình sự Việt Nam
Tội phạm và trách nhiệm hình sự là cặp phạm trù có mối quan hệ logic, biện
chứng, là hai chế định trung tâm của pháp luật hình sự. Việc xác định tội phạm và
TNHS trong một ngành luật riêng biệt là sản phẩm tất yếu của quá trình vận động
xã hội. Theo đó, sự tư hữu xuất hiện dẫn đến hệ quả xã hội bắt đầu phân chia giai
cấp, từ đây, những hành vi nguy hại với tính chất, mức độ nguy hại cao, hậu quả để
16
lại sâu rộng, ảnh hưởng lớn đến đời sống đã phát sinh mà những quy phạm đạo đức
hay phong tục tập quán trước đây không còn đủ khả năng điều chỉnh. Do đó, yêu
đặc biệt là nhóm người đang có thái độ tâm lý chưa vững vàng, đang đứng trước
nguy cơ trở thành người phạm tội. Việc quy định và áp dụng trách nhiệm hình sự sẽ
làm những đối tượng này thấy được hậu quả tất yếu mà mình phải gánh chịu khi
thực hiện hành vi phạm tội. Qua đó, làm cho những người này từ bỏ ý định phạm
tội và lựa chọn cách xử sự phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh, tránh việc lựa
chọn xử sự phạm tội. Các quy định về trách nhiệm hình sự còn góp phần xây dựng
một bộ khung cho những xử sự của con người trong đời sống, từng bước nâng cao ý
thức pháp luật cho nhân dân, nâng cao tính tích cực của nhân dân trong công cuộc
đấu tranh phòng chống tội phạm; góp phần từng bước tăng cường hơn nữa công tác
bảo vệ quyền con người.
* Ý nghĩa của việc ghi nhận chế định TNHS trong luật hình sự Việt Nam:
Với vị trí và vai trò quan trọng nêu trên chúng ta có thể thấy được ý nghĩa to
lớn của chế định TNHS. Chế định TNHS là một bộ phận quan trọng cấu thành nên
pháp luật hình sự. Chế định trách nhiệm hình sự ra đời dựa trên các quan điểm, chủ
trương, đường lối của giai cấp cầm quyền phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa xã
hội, truyền thống pháp lý và thực tiễn đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm ở
mỗi quốc gia. Thông qua đó, phản ánh sự lên án của Nhà nước và xã hội đối với các
hành vi phạm tội, là sự phủ định lại những hành vi mang tính chất nguy hiểm xâm
hại đến các khách thể được pháp luật hình sự xác lập và bảo vệ. Nói cách khác,
TNHS là một công cụ hữu hiệu góp phần bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của
Nhà nước, của xã hội và mỗi công dân. Chế định TNHS góp phần xác định chính
xác hậu quả pháp lý của đối tượng phạm tội, đảm bảo công bằng, nhân đạo và đặc
biệt là không để xảy ra tình trạng oan – sai trong quá trình tố tụng. Qua đó cho thấy
trước hết là sự quan tâm của Nhà nước đối với công tác đấu tranh, xử lý tội phạm và
các vi phạm pháp luật khác. Các quy định cụ thể về TNHS góp phần thể hiện hàng
loạt các nguyên tắc của luật hình sự trong đó có những nội dung liên quan trực tiếp
đến việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người. Một mặt, xử lý nghiêm minh đúng
pháp luật các hành vi vi phạm và người vi phạm. Mặt khác, chế định góp phần hạn
chế tối đa những sự xâm hại đến các quyền con người, quyền công dân gây ra bởi
chính vì vậy, hiện nay có rất nhiều định nghĩa về quyền con người. Ở mỗi định
nghĩa quyền con người được tiếp cận theo những khía cạnh riêng. Theo một tài liệu
của Liên hợp quốc, từ trước đến nay "có đến gần 50 định nghĩa về quyền con người
19
đã được công bố" [54, Tr. 4] đã cho thấy đây là hướng nghiên cứu nhận được sự
quan tâm của nhiều nhà khoa học trên khắp thế giới. Khi nghiên cứu về quyền con
người , có hai trường phái nổi bật là trường phái quyền tự nhiên và trường phái
quyền pháp lý, với sự góp mặt của nhiều học giả nổi tiếng.
Các tác giả theo học thuyết quyền tự nhiên tiêu biểu là Thomas Hobbes, John
Locke, Thomas Paine coi "quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi
cá nhân đều được hưởng chỉ đơn giản bởi họ là thành viên của gia đình nhân loại"
[13]. Mọi cá nhân sinh ra mặc nhiên đều có và đều được hưởng quyền này mà
không bị chi phối bởi bất kỳ yếu tố khách quan bên ngoài nào. Không một cá nhân
tổ chức, thiết chế xã hội nào có thể tạo ra hay phân phát quyền con người. Quyền
con người là tự nhiên vốn có, không phụ thuộc vào bất kỳ phong tục tập quán hay ý
chí của chủ thể nào; mặc dù quyền con người có liên hệ to lớn với các nhân tố vừa
nêu. Ngược lại, những học giả theo trường phái quyền pháp lý mà tiêu biểu là
Edmun Burke và Jeremy Bentham coi quyền con người "phải do các nhà nước xác
định và pháp điển hóa thành các quy phạm pháp luật hoặc xuất phát từ truyền thống
văn hóa" [13, tr. 39]. Quyền con người theo trường phái này chịu ảnh hưởng sâu sắc
của những yếu tố tác động bên ngoài, đặc biệt là ý chí của giai cấp thống trị và
những ảnh hưởng của đời sống xã hội. Hiểu theo cách này thì quyền con người ở
mỗi chế độ khác nhau sẽ có những cách hiểu, cách ghi nhận và thực thi khác nhau.
Một định nghĩa của Văn phòng cao ủy Liên hợp quốc rất phổ biến thường
được trích dẫn bởi các học giả, theo đó: "Quyền con người là những bảo đảm pháp
lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và nhóm
chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) làm tổn hại đến
Nam, con người đã được xác định là trung tâm của mọi chính sách phát triển kinh tế
xã hội ở Việt Nam. Quan điểm mang tính chiến lược ấy về con người đã đặt ra yêu
cầu bức thiết về việc nghiên cứu quyền con người cũng như những vấn đề có liên
quan. Trải qua quá trình phát triển, quyền con được phát triển ở những bản Hiến
pháp sau này, đặc biệt là lần sửa đổi mới nhất năm 2013 gần đây, quyền con người
đã được ghi nhận tại riêng Chương 2, tại Điều 14 quy định:
"1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền
con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công
nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.
2. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo
quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh
quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng "[1] .
22
Trong Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nôi, tập thể tác giả định nghĩa quyền con người là “những nhu
cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật
quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế” [13, tr. 38]. Ở một cuốn sách khác,
GS.TSKH. Lê Văn Cảm đưa ra khái niệm quyền con người như sau: “Quyền con
người là một phạm trù lịch sử - cụ thể là giá trị xã hội cao quý nhất được thừa nhận
chung của nền văn minh nhân loại và là đặc trưng tự nhiên vốn có cần được tôn
trọng và không thể bị tước đoạt của bất kỳ cá nhân con người nào sinh ra trên
trái đất, đồng thời phải được bảo vệ bằng pháp luật bởi các quốc gia – thành viên
Liên hợp quốc cũng như bởi cộng đồng quốc tế” [ 24, tr. 224]. TS Trần Quang Tiệp
cũng đưa ra định nghĩa về quyền con người một cách ngắn gọn, theo đó, quyền con
người “là những đặc lợi vốn có tự nhiên mà chỉ con người mới được hưởng trong
những điều kiện chính trị, văn hóa kinh tế, xã hội nhất định” [ 29, tr.14]. Một định
nghĩa được sử dụng tương đối phổ biến trong giảng dạy, nghiên cứu về nhân quyền
ở nước ta hiện nay coi: "Nhân quyền (hay quyền con người) là những năng lực và
nhất của nhân loại, phản ánh được sự thống nhất ý chí của toàn xã hội, được toàn xã
hội ghi nhận. Từ đó, những quy phạm pháp luật cụ thể ra đời nhằm đảm bảo vị trí
tối cao và bất khả xâm phạm của quyền con người. Không chỉ ghi nhận, pháp luật
còn xác định những chế tài dành cho những hành vi xâm hại đến các quyền con
người. Khi cần thiết, Nhà nước có thể sử dụng pháp luật như một công cụ cưỡng
chế hữu hiệu đối với những sự xâm hại đến quyền con người. Bên cạnh đó, pháp
luật cũng xây dựng một khung pháp lý nhằm đảm bảo cho hoạt động của các cơ
quan hữu quan nhằm phát hiện nhanh chóng và xử lý kịp thời những sự xâm hại
cũng như giới hạn hoạt động của những cơ quan này nhằm loại trừ những tác động
tiêu cực đến quyền con người. Pháp luật vừa là công cụ để Nhà nước bảo vệ các
quyền con người và pháp luật cũng chính là công cụ hữu hiệu để mỗi cá nhân tự bảo
vệ mình trước mọi hành vi xâm hại, từ đó xác lập những xử sự trong một khung tiêu
chuẩn đảm bảo quyền con người. Pháp luật chính là cơ sở pháp lý cần thiết góp
phần cùng các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội khác bảo vệ quyền con người một
cách toàn diện. Ở đây pháp luật cần được hiểu theo nghĩa bao gồm cả pháp luật
quốc gia và pháp luật quốc tế. Sau khi đã được xác định bằng những quy định cụ
thể chúng ta cần có "những biện pháp để bảo vệ các quyền khỏi bị vi phạm và thúc
đẩy sự tôn trọng và thực hiện các quyền trên thực tế" [13, tr. 327]. Từ đó, ta xác
định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể cũng như cách thức thực thi những quyền
25