BỘ GIÁO DỤC
VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
NGUYỄN VĂN GIANG
NGHIÊN CỨU KHU HỆ CÁ LƢU VỰC SÔNG BẰNG GIANG KỲ CÙNG THUỘC ĐỊA PHẬN VIỆT NAM
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
HÀ NỘI – 2018
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học và Công nghệ Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học 1: PGS.TS. Nguyễn Hữu Dực
Người hướng dẫn khoa học 2: TS. Nguyễn Kiêm Sơn
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước đồng đánh giá luận án tiến sĩ cấp Học
viện, họp tại Học viện Khoa học và Công nghệ - Viện Hàn lâm Khoa
học và Công nghệ Việt Nam vào hồi … giờ ….’, ngày … tháng …
năm 2018
3. Nội dung nghiên cứu chính của luận án
Nghiên cứu đa dạng sinh học thành phần loài cá hệ thông sông Bằng Giang Kỳ Cùng.
Phân tích đặc điểm phân bố địa lí, phân bố theo sinh thái thủy vực của các loài
cá ở KVNC.
Đặc điểm, tính chất địa động vật của khu hệ cá Cao Lạng đối với khu hệ cá
nước ngọt Việt Nam.
Đánh giá hiện trạng nguồn lợi, nhu cầu sử dụng, tình hình khai thác của người
dân tại KVNC phục vụ cho công tác quản lý, bảo vệ nguồn lợi cá ở KVNC, đề ra biện
pháp bảo tồn nguồn lợi cá và phát triển nguồn lợi thủy sản thuộc hệ thống sông Bằng
Giang – Kỳ Cùng.
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Tình hình nghiên cứu cá nƣớc ngọt
1.1.1. Lược sử nghiên cứu khu hệ cá nước ngọt Việt Nam
1.1.2. Lược sử nghiên cứu khu hệ cá lưu vực sông Bằng Giang – Kỳ Cùng
Công trình nghiên cứu đầu tiên ở khu hệ cá Cao Bằng – Lạng Sơn là Vailant
E., (1891, 1904), thu thập và định loại 6 loài và mô tả 4 loài mới ở Lai Châu, ghi
2
nhận 5 loài cá ở Lạng Sơn. Chevey P. (1930, 1932, 1936, 1937) nghiên cứu thành
phần loài cá nước ngọt ở miền Bắc Việt Nam trong đó có khu hệ cá này.
Năm 1978, trong cuốn sách “Định loại cá nước ngọt các tỉnh phía Bắc Việt
Nam” Mai Đình Yên đã ghi nhận khu hệ cá Cao Bằng - Lạng Sơn có 56 loài thuộc 47
giống 13 họ, 5 bộ.
Công trình “Cá nước ngọt Việt Nam” tập 1 của Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sĩ
Vân (2001) và “Cá nước ngọt Việt Nam” tập 2, tập 3 của Nguyễn Văn Hảo (2005), đã
ghi nhận khu hệ cá Cao Bằng – Lạng Sơn có 101 loài cá thuộc 69 giống, nằm trong
18 họ và 5 bộ.
Năm 2005, Nguyễn Kiêm Sơn đã tiến hành điều tra “Khu hệ cá trong các thủy
3
1.2.1.2. Đặc điểm về hình thái và địa hình
Hệ thống sông Bằng Giang – Kỳ Cùng nằm trong vùng trũng xuống so với khu
vực xung quanh, thường gọi là máng trũng Cao – Lạng. Bao quanh về phía Tây Bắc,
Tây và Tây Nam là những dãy núi cao nhất khu Đông Bắc mà đỉnh cao nhất là Pia
Oắc 1930 m. Phía Đông Nam là vùng núi thấp với đỉnh cao nhất là đỉnh Mẫu Sơn
1541 m, Bà Xá 1166 m. Phía Cực Bắc, các đỉnh cao nhất đều đạt từ 900 đến trên
1000 m.
Về mặt hình thái lưu vực, sông Bằng có độ cao và độ dốc lưu vực lớn hơn sông
Kỳ Cùng. Dòng chính sông Bằng cũng thẳng hơn sông Kỳ Cùng, độ rộng bình quân
lưu vực nhỏ hơn sông Kỳ Cùng. Tuy vậy, tính chất máng trũng của địa hình vẫn thể
hiện rõ rệt
1.2.1.3. Đặc điểm khí hậu
Vị trí lưu vực sông Bằng Giang – Kỳ Cùng tương đối khuất đối với gió mùa hạ
và trực tiếp đón gió mùa đông lạnh nên khô và ít mưa, lượng mưa tăng dần từ Đông
Nam lên Tây Bắc. Cũng do vị trí lưu vực khuất, lùi sâu trong lục địa mà lượng mưa
do bão gây ra thuộc loại thấp; tại Lạng Sơn 246mm/năm và Cao Bằng là
140mm/năm. Do ảnh hưởng mạnh mẽ của gió mùa đông và sự che khuất đối với ảnh
hưởng của biển, là nguyên nhân giảm lượng mưa trong vùng, mùa mưa ngắn nhất
miền Bắc.
1.2.1.4. Chế độ thủy văn
Lƣu vực sông Bằng Giang: Mật độ sông suối của tỉnh Cao Bằng thuộc loại
trung bình (0,5 – 1,0km/km2). Mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 9 hàng năm, đỉnh lũ cao
nhất vào tháng 8, lượng nước trong mùa lũ chiếm từ 70 -80%. Ngược lại, mùa khô
kéo dài tám tháng, lượng nước trong mùa chiếm 20 – 30%.
Lƣu vực sông Kỳ Cùng: Mật độ sông suối của tỉnh Lạng Sơn khá phát triển,
mật độ sông suối thuộc loại trên trung bình (từ 0,6 – 1,2 km/km2) so với mật độ trung
tại Phòng thí nghiệm Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I, Bắc Ninh; Phòng thí
nghiệm, Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam. Mẫu vật được lưu giữ tại Bảo tàng Thiên
nhiên Việt Nam.
2.2. Tƣ liệu nghiên cứu
Tư liệu để viết luận án gồm: toàn bộ mẫu vật cá chúng tôi thu thập được tiến
hành phân tích, định loại trong thời gian thực hiện đề tài là 1270 mẫu, nhật ký thực
địa ghi chép các dẫn liệu điều tra phỏng vấn người dân, ảnh chụp và các tài liệu khoa
học có liên quan.
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
- Phƣơng pháp nghiên cứu ngoài thực địa
Phương pháp lựa chọn điểm nghiên cứu
Điểm thu mẫu đã bao trùm toàn bộ lưu vực nghiên cứu, từ các con suối nhỏ
đến các dòng sông chính, các phụ lưu, các ngã ba sông, các ao , hồ, đầm ruộng.
Điểm thu mẫu đã đại diện cho từng khu vực, lưu vực, đặc trưng cho từng thủy
vực, sinh cảnh sống cuả cá: vùng núi, đồng bằng, vùng có nước chảy nhanh, mạnh;
nước chảy chậm, nước tĩnh, nơi có thực vật che phủ, nơi thoáng đãng, vùng núi đá
vôi, vùng núi đất.
Thu thập mẫu cá
Tại mỗi địa điểm, chúng tôi đều tiến hành điều tra số loài có thể bắt gặp. Xử lý
mẫu: Định hình tạm thời để chụp ảnh, sau đó chuyển sang định hình có định trong
formalin với nồng độ từ 8 – 10%, kèm theo phiếu ghi tên phổ thông, tên địa phương,
thời gian và địa điểm thu mẫu, tên người thu mẫu.
5
Phỏng vấn người dân
Điều tra người dân có tham gia đánh bắt cá thường xuyên và không thường
6
Bảng 3. 1. Danh lục thành phần loài cá sông Bằng Giang – Kỳ Cùng
(Sắp xếp theo hệ thống Eschmeyer, 1998)
Số loài đƣợc biết
3
Cá Cháo thường
Opsariichthys bidens Günther, 1873
Opsariichthys duchuunguyeni Huynh & Chen, 2014 Ꚛ Cá Cháo đông bắc
Cá Cháo
Opsariichthys sp.
4
Opsarius pulchellus (Smith, 1931)
Cá Xảm
5
Cá Dầm suối thường
6
Nicholsicypris normalis (Nichols & Pope, 1927)
Zacco platypus (Temminck & Schlegel, 1844)
NE
20
+
-
IUCN
Họ cá Chép
2
BNN
Cyprinidae
1
SĐVN
Bộ cá Chép
Loài bảo tồn
Số
mẫu
KVNC
Cá Chàm
-
+
Rasbora steineri (Nichols & Pope, 1927)
Cá Mại sọc
-
8
Rasbora aurotaenia Tirant, 1885
Cá Lòng tong đuôi vàng
-
+
LC
9
Rasbora trilineata Steindachner, 1866
Cá Lòng tong sọc
Ctenopharyngodon idella (Valenciennes, 1844) * ⸫
Ochetobius elongatus (Kner, 1867)
Cá Trắm cỏ
Cá Chày tràng
-
+
14
Luciobrama macrocephalus (Lacepede, 1803)
Cá Rồng măng
-
+
+
15
Cá Chày mắt đỏ
5
+
+
18
Hemiculter leucisculus (Basilewsky, 1855) *
Cá Mương xanh
30
+
+
+
19
Toxabramis houdemeri Pellegrin, 1932
Cá Dầu hồ cao
17
+
20
Pseudohemiculter dispar (Peters, 1881)
NE
+
DD
+
NE
LC
DD
DD
+
VU
VU
DD
LC
+
+
LC
+
Cá Mương gai
18
24
Hainania serrata Koller, 1927
Megalobrama mantschuricus (Basilewsky, 1855)
Cá Vền
-
25
Sinibrama macrops Gunther, 1868
Cá Nhác 1
-
26
Sinibrama affinis (Vaillant, 1892) Θ
Sinibrama melrosei (Nichols & Pope, 1927)
Cá Nhác 2
7
-
32
Chanodichthys mongolicus (Basilewsky, 1855)
Cá Ngão lạng sơn
-
+
+
33
Rasborinus lineatus (Pellegrin, 1907)
Cá Mại bầu
-
+
+
34
Xenocypris davidi Bleeker, 1871
Hemibarbus macracanthus Lu, Luo & Chen, 1977 *
Cá Đục chấm
-
40
Hemibarbus medius Yue, 1995 *
Cá Đục ngộ
30
41
Cá Đục ó lạng sơn
35
+
42
Hemibarbus umbrifer (Lin, 1931)
Sarcocheilichthys parvus Nichols, 1930
Cá Nhọ chảo
-
46
Squalidus atromaculatus (Nichols & Pope, 1927) *
Cá Đục trắng dài
15
+
47
Squalidus chankaensis Dybowski, 1872
Cá Đục trắng dày
30
48
Squalidus argentatus (Sau. & Dab., 1874) *
Cá Đục trắng mỏng
23
27
28
35
+
+
DD
+
+
+
15
+
+
NE
DD
+
DD
+
LC
LC
+
+
+
+
+
+
NE
LC
+
DD
+
NT
+
DD
DD
+
NE
+
8
49
Abbottina binhi Nguyen, 2001 Θ
Cá Đục đanh hoa
5
50
Abbottina sp.
Cá Đục đanh
4
51
Microphysogobio labeoides (Nichols & Pope, 1927) *
Cán Đục đanh chấm râu
8
+
+
Cá Đục đanh chấm đại
-
57
Pseudogobio guilinensis Yao & Yang, 1977
Pseudogobio banggiangensis Nguyen, 2001 Ꚛ
Saurogobio immaculatus Koller, 1927
58
Saurogobio dabryi Bleeker, 1871
59
Gobiobotia kolleri Banarescu & Nalbant, 1966
Cá Đục đanh đốm
Cá Đục râu
20
5
8
+
61
Gobiobotia meridionalis Chen & Cao, 1977
Cá Thè be vây dài
-
+
DD
65
Acheilognathus lamensis Nguyen, 1983 Θ
Cá Thè be sông lam
-
+
DD
66
Acheilognathus meridianus Wu, 1939
Cá Thè be nhánh
-
67
+
+
NE
71
Cá Ngựa bắc
5
+
72
Folifer brevifilis (Peters, 1881)
Paraspinibarbus macracanthus(Pel. & Chev., 1936)
Cá Cầy bắc
-
+
73
Spinibarbus babeensisNguyen, 2001 Θ
+
+
+
+
DD
Spinibarbus denticulatus (Oshima, 1926) *
Cá Bỗng
20
+
+
+
+
+
LC
52
DD
+
DD
+
+
+
15
+
-
+
DD
+
+
+
+
+
+
DD
+
+
DD
+
+
+
+
DD
+
+
VU
VU
DD
DD
DD
81
Acrossocheilus iridescens (Nichols & Pope, 1927) *
Acrossocheilus krempfi (Pellegrin & Chevey, 1936)
82
+
+
+
+
+
DD
+
+
LC
DD
+
DD
+
+
+
DD
83
Acrossocheilus macroquadatus (Mai, 1978) Θ
Cá Chát vảy to
-
+
84
Acrossocheilus malacopterus Zhang, 2005
Cá Chát ma la
35
+
85
Acrossocheilus clivosius (Lin, 1935)
Cá Sỉnh
90
Onychostoma laticeps Günther, 1896 *
Cá Sỉnh gai
15
91
Cá Phao
5
92
Onychostoma leptura (Boulenger, 1900) *
Luciocyprinus langsoni Vaillant, 1904
Cá Măng giả
-
+
+
93
+
+
+
+
NE
96
Ptychidio jordani Myers, 1930
Cá Miệng cuộn
2
+
+
+
+
CR
97
+
+
DD
88
Cá Sỉnh gai si mum
Vietnamia sp.
Cá Rèm tua nhiều sọc
100
Semilabeo notabilis Peters, 1881 *
Cá Anh vũ
101
102
Semilabeo obscurus Lin, 1981
Bangana tonkinensis (Pellegrin & Chevey, 1934)
103
Labeo pierrei (Sauvage, 1880)
+
DD
+
NT
DD
+
+
+
+
VU
+
+
+
NE
+
NE
23
VU
CR
+
+
+
+
VU
VU
DD
LC
VU
+
VU
LC
10
105
Cirrhinus molitorella (Valenciennes, 1844)
+
+
LC
109
Cá Bậu
18
+
+
+
+
110
Garra orientalis Nichols, 1925
Garra pingi Tchang, 1929
Cá Đo
-
Cá Bám sừng cao bằng
4
+
115
Discogobio caobangi Nguyen, 2001 Ꚛ
Discogobio pacboensis Nguyen, 2001 Ꚛ
Cá Bám sừng pác pó
-
+
116
Carassius auratus (Linnaeus, 1758) *
Cá Diếc mắt đỏ
117
Carassioides cantonensis (Heincke, 1892)
118
113
LC
LC
+
NE
+
NE
LC
19
+
+
+
Cá Nhưng
-
+
+
+
121
Cá Lợ thân cao
Cá Lợn con
122
Cyprinus rubrofuscus Lacepede, 1803
Cá Chép
-
(2)
Cobitidae
Họ cá Chạch
123
124
Leptobotia elongata (Bleeker, 1870)
Cobitis taenia Linnaeus, 1758
Cá Chạch cát đóm
5
Cá Chạch hoa đốm tròn
NE
Cá Chạch bùn
Họ cá Chạch vây bằng
10
+
+
LC
(3)
Misgurnus anguillicaudatus Cantor, 1842 *
Balitoridae
129
Vanmanenia caobangensis Nguyen, 2005 Θ
Cá Vây bằng cao bằng
-
130
Vanmanenia ventrosquamata (Mai, 1978) Θ
+
+
VU
LC
+
LC
+
+
+
+
+
+
DD
DD
+
+
LC
133
Balitora brucei Gray, 1830
Cá Chạch vây bằng vảy
-
+
NT
134
Sinogastromyzon rugocauda Mai, 1978
Cá Bám đá
3
+
135
Sinogastromyzon cf puliensis Liang, 1974
136
5
-
+
LC
DD
140
Schistura chapaensis (Rendahl, 1944)
Cá Chạch suối Sapa
-
+
DD
141
Schistura sp1.
Cá Chạch suối 1
8
+
II
Characiformes
Bộ cá Hồng nhung
(5)
Characidae
Họ cá Hồng nhung
145
III
Piaractus brachypomus (Cuvier, 1818) * ⸫
Siluriformes
Cá Chim trắng
Bộ cá Nheo
(6)
Bagridae
Họ cá Lăng
146
Pelteobagrus intermedius Nichols & Pope, 1927
+
150
Pseudobagrus crassilabris (Günther, 1864)
Cá Bò vàng lạng sơn
10
+
151
Hemibagrus pluriradiatus (Vaillant, 1892) *
Cá Lường
3
+
152
Hemibagrus guttatus (Lacepède, 1803) *
Hemibagrus dongbacensis Nguyen, 2005 Θ
Cá Lăng chấm
9
+
DD
+
+
+
+
+
LC
LC
+
1
+
+
NE
+
+
+
DD
12
Cá Huốt
3
+
155
Hemibagrus vietnamicus Mai, 1978 Θ
Hemibagrus hongus Mai, 1978
Cá Lăng
-
+
(7)
Cranoglanididae
Họ cá Ngạnh
156
Cranoglanis bouderius (Richardson, 1846)
Silurus meridionalis Chen, 1977 *
Cá Nheo lạng sơn
32
161
Silurus langsonensis Nguyen, Vu & Nguyen, 2015 Θ
Cá Nheo lạng sơn
162
Silurus caobangensis Nguyen, Vu & Nguyen, 2015 Θ
Cá Nheo vàng
Cá Thèo
154
158
(8)
+
EN
DD
DD
+
DD
+
LC
+
+
+
+
+
+
+
+
Pterocryptis cochinchinensis (Valenciennes, 1840) *
Sisoridae
164
Bagarius rutilus Ng & Kottelat, 2000
Cá Chiên
Cá Trê
10
169
Clarias gariepinus (Burchell, 1822) * ⸫
Cá Trê phi
1
170
Cá Trê
Bộ cá Ốt me
9
IV
Clarias sp.
Osmeriformes
(11)
Salangidae
Họ cá Ngần
Aplocheilus panchax (Hamilton, 1822)
Cá Bạc đầu
V
EN
+
163
(9)
167
(10)
+
Họ cá Chiên
-
+
+
+
+
LC
+
+
DD
DD
+
+
VU
+
DD
DD
NE
LC
13
(13)
Poeciliidae
176
Oryzias latipes (Temm. & Schl., 1846)
Cá Sóc
-
177
VII
Oryzias sinensis Chen, Uwa & Chu, 1989
Synbranchiformes
Cá Sóc trung hoa
-
(15)
Synbranchidae
Họ Lƣơn thƣờng
178
(16)
Monopterus albus (Zuiew, 1793) *
Mastacembelidae
182
Siniperca kwangsiensis Fang & Chong, 1932
Cá Rô mo dài
183
Cá Rô mo ser chê
184
Siniperca scherzeri Steidanchner, 1892
Siniperca chuatsi(Basilewsky, 1855)
Cá Rô mo
-
185
Siniperca vietnamensis Mai, 1978
Cá Rô mo cao
-
186
+
LC
+
+
NE
+
NE
+
LC
Bộ cá Mang liền
5
+
+
+
+
+
+
+
+
DD
+
+
+
+
+
+
+
NE
+
+
5
+
Cá Rô phi đen
+
DD
+
LC
+
NE
+
NT
LC
+
LC
14
191
Sineleotris namxamensis Chen & Kottelat, 2004
Cá Bống nhỏ
3
8
194
Rhinogobius giurinus (Rutter, 1897)
Cá Bống đá
3
195
Rhinogobius leavelli (Herre, 1935)
Cá Bống than
6
196
Rhinogobius brunneus (Tem. & Sch., 1845)
Anabantidae
Cá Bống khe
4
+
Cá Chành dục
-
200
Channa maculata (Lacepède, 1801) *
Cá Chuối
5
201
Channa gachua (Hamilton, 1822)
Cá Chuối suối
6
Channa striata (Bloch, 1793)
Cá Lóc
4
+
+
+
+
LC
+
+
+
LC
+
DD
+
DD
+
LC
Họ cá Rô đồng
Họ cá Sặc
Họ cá Quả
+
3
124
54
Tổng cộng
+
Ghi chú:
1 – Mai Đình Yên (1978); 2 – Nguyễn Văn Hảo (2001, 2005); 3 – Ngô Sỹ Vân (2005a); 4 – Nguyễn Kiêm Sơn (2005b); 5 – Tác giả
(2017); (*) - Loài có giá trị kinh tế; (⸫) - Loài nhập nội và nuôi; (Θ) – Loài đặc hữu cho miền Bắc; (Ꚛ) – Loài đặc hữu cho KVNC; (-)
– Loài ghi nhận trước đây tại KVNC không thu được mẫu; SĐVN – Sách Đỏ Việt Nam; IUCN – Danh Lục đỏ IUCN; BNN-loài có
tên trong danh mục các loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển của Bộ
NN&PTNT.
(NE – Không đánh giá; LC – ít quan tâm; DD – thiếu dẫn liệu; NT – gần bị đe dọa; VU – sẽ nguy cấp; EN – nguy cấp; CR – rất nguy
cấp; EW – tuyệt chủng ngoài thiên nhiên).
15
3.1.2. Nhận xét về danh pháp và vị trí phân loại
Để có được danh sách loài trên đã hiệu chỉnh tên đơn vị phân loại, tên tác giả
hoặc vị trí phân loại của 53 loài 16 giống.
3.1.3. Tính chất đa dạng thành phần loài của khu hệ
Lưu vực sông Bằng Giang – Kỳ Cùng thể hiện độ đa dạng thành phần loài cả
về bậc bộ, bậc họ, bậc giống và bậc loài được trình bày ở Bảng 3. 2.
Bảng 3. 2. Số lƣợng và tỷ lệ % các họ, các giống, các loài có trong các bộ
Họ
1
4,17 1
1,01 2
0,99
6 Perciformes
Bộ cá Vược
8 33,33 11 11,11 21 10,40
7 Siluriformes
Bộ cá Nheo
5 20,83 10 10,10 25 12,38
8 Synbranchiformes
Bộ cá Mang liền
2
8,33 3
3,03 4
1,98
Tổng cộng
24 100 99 100 202 100
Về bậc bộ: bộ cá Vược có số họ nhiều nhất với 8 họ, chiếm 33,33%; tiếp theo
là bộ cá Nheo có 5 họ, chiếm 20,83%; bộ cá Chép có 4 họ, chiếm 16,67%; bộ cá
Mang liền và bộ cá Sóc cùng có 2 họ, chiếm 8,33%; có 3 bộ cá chỉ có 1 họ là bộ
Hồng nhung, bộ cá Kìm và bộ cá Ngần chiếm 4,17% (Bảng 3. 2).
Về bậc họ: họ cá Chép (Cyprinidae) cho số lượng giống lớn nhất với 59 giống,
chiếm 59,60%; ba họ có 4 giống là họ cá Chạch vây bằng (Balitoridae), họ cá Chạch
(Cobitidae), họ cá Lăng (Bagridae) chiếm 4,04%; 8 họ cá có 2 giống gồm: họ cá
Bống trắng (Gobiidae), họ cá Chạch sông (Mastacembelidae), họ cá Chạch cật
(Nemacheilidae), họ cá Bống tròn (Odotobutidae), họ cá Rô mo (Percichthyidae), họ
cá Ăn muỗi (Poeciliidae), họ cá Nheo (Siluridae) và họ cá Chiên (Sisoridae), chiếm
2,02%; 12 họ có 1 giống, chiếm 1,01%.
Về bậc giống: 99 giống cá có 52 giống đa loài, có từ 2 đến 7 loài, chiếm
28 loài cá đặc hữu Miền Bắc Việt Nam có phân bố ở KVNC, chiếm 13,86 %.
Có 12 loài đặc hữu mới chỉ tìm thấy ở KVNC mà chưa tìm thấy ở các khu vực khác ở
Việt Nam, chiếm 5,9%.
So sánh số loài đặc hữu trong bộ cá Chép có ở KVNC với số loài đặc hữu
trong bộ cá chép trên cả nước và Bắc Việt Nam được trình bày ở Hình 3. 18.
Bộ cá Chép (Cypriniformes) có 79 loài đặc hữu trên cả nước, thì Miền Bắc có
23 loài (chiếm, 29,1%) phân bố ở KVNC; riêng lưu vực sông Bằng Giang- Kỳ Cùng
có 8 loài (chiếm, 10,1%).
Ở Miền Bắc có 63 loài đặc hữu trong bộ cá Chép (Cypriniformes), thì số loài
phân bố tại KVNC là 23 loài (chiếm, 36,5%), riêng KVNC là 8 loài (chiếm, 12,7%).
Có 1 giống và 4 loài đặc hữu từ phía Nam Trung Quốc có phân bố ở KVNC
gồm: Ptychidio và loài cá Miệng cuộn Ptychidio jordani, loài cá Anh Rectoris
longibarbus, loài cá Chát Acrossocheilus malacopterus và loài cá Chép gốc
Procypris mera.
Hình 3. 18. Biểu đồ chỉ số lƣợng, tỷ lệ % loài đặc hữu có ở KVNC
17
3.2.2. Số loài ghi nhận có trong SĐVN, QĐ 82 –BNN, danh lục đỏ IUCN
3.2.2.1. Loài ghi trong SĐVN
Theo Sách Đỏ Việt Nam (2007) đã ghi nhận được tại khu hệ nghiên cứu có 9
loài được ghi trong Sách Đỏ (chiếm 4,45%). Trong đó có 5 loài mức độ sẽ nguy cấp
(VU), 2 loài ở mức nguy cấp (EN), 1 loài mức rất nguy cấp (CR) và 1 loài tuyệt
chủng ngoài tự nhiên (EW).
3.2.2.2. Loài có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo tồn và phát triển theo QĐ 82 –BNN
& PTNT
Theo QĐ 82 – BNN & PTNT năm 2008, trong khu vực nghiên cứu có 9 loài có
giá trị bảo tồn, (chiếm 4,45% tổng số loài tại KVNC) bao gồm: 7 loài ở mức nguy
hình núi đồi và địa hình máng trũng bằng phẳng, tuy nhiên ở mỗi lưu vực sông lại có
sự khác nhau. Lưu vực sông Bằng Giang địa hình đồi núi có số loài bắt gặp nhiều hơn
so với địa hình máng trũng, với 105 loài, địa hình máng trũng có số loài thấp hơn, chỉ
có 66 loài, số loài bắt gặp ở cả hai dạng địa hình là 59 loài. Ngược với lưu vực sông
Bằng Giang, lưu vực sông Kỳ Cùng địa hình máng trũng có số loài cao hơn với 103
loài, địa hình đồi núi có số loài thấp hơn, chỉ là 51 loài, số loài chung cho cả hai dạng
địa hình là 42 loài (Hình 3. 25).
19
Hình 3. 25. Biểu đồ số loài cá bắt gặp theo địa hình tại KVNC
3.3.4. Đặc điểm phân bố theo chiều thẳng đứng
Trên cơ sở hình thái tự nhiên về sinh cảnh sống, điều kiện môi trường và theo
Fishbase (2017). Trong tổng số 202 loài cá đã xác định tại khu vực nghiên cứu, được
phân chia thành 3 nhóm: nhóm cá sống tầng đáy và giáp đáy, nhóm cá tầng giữa sống
lơ lửng, và nhóm cá sống tầng trên, cá nổi.
Nhóm cá tầng trên có số loài thấp nhất, 3 loài (chiếm 1,5%); nhóm cá tầng giữa
có số loài nhiều nhất, 140 loài (chiếm 69,3%), nhóm cá tầng đáy và giáp đáy có 59
loài (chiếm 29,2%) (Hình 3. 26).
Hình 3. 26. So sánh số lƣợng, tỷ lệ (%) các loài cá phân bố theo các tầng nƣớc
20
3.4. So sánh thành phần loài khu hệ cá KVNC với các khu hệ cá khác
3.4.1. So sánh các đơn vị phân loại giữa khu hệ cá KVNC với các khu hệ cá khác
Khu vực nghiên cứu có mức độ đa dạng sinh học cao so với các khu vực khác
Nguồn gốc Bắc Việt Nam - Hoa Nam có 145 loài, chiếm 82,9%; nguồn gốc
Ấn Độ - Mã Lai có số loài rất ít với 7 loài, chiếm 4,0%. Như vậy, khu hệ cá lưu vực
sông Bằng Giang – Kỳ Cùng có nguồn gốc Bắc Việt Nam - Hoa Nam chiếm ưu thế
so với nguồn gốc Ấn Độ - Mã Lai.
3.6. Giá trị của các loài cá thuộc lưu vực sông Bằng Giang – Kỳ Cùng
Khu vực nghiên cứu đã xác định được có 34 loài cá có giá trị kinh tế, 25 loài
có giá trị bảo tồn, 15 loài có giá trị làm thuốc, 47 loài có giá trị làm cảnh, 13 loài có
giá trị phòng bệnh cho người và 10 loài có giá trị diệt sâu bệnh cho cây trồng.
22
3.7. Tình hình khai thác của ngƣ dân, ngƣ cụ khai thác
Quá trình thực địa, điều tra, phỏng vấn người dân tham gia đánh bắt tại các địa
phương trên địa bàn nghiên cứu cho thấy nguồn lợi cá tự nhiên ở lưu vực sông Bằng
Giang – Kỳ Cùng đang suy giảm.
3.7.1. Một số ngư cụ dùng trong khai thác chính ở KVNC
Khu vực nghiên cứu sử dụng 3 ngư cụ khai thác cá chính là: lưới, xung điện và
chài.
3.7.2. Nguồn lợi cá nuôi, cá tự nhiên trên địa bàn nghiên cứu
Khu vực nghiên cứu có 18 loài cá nuôi với mục đích cung cấp nguồn thực
phẩm, làm cảnh cho nhân dân trong vùng, chiếm 8,9%. Nhìn chung, sản lượng cá
nuôi tại khu vực nghiên cứu cao gấp 3 – 4 lần so với tổng sản lượng cá khai thác tự
nhiên (Hình 3. 44 và 3. 45).
Hình 3. 44. Tỷ lệ % sản lƣợng cá nuôi, cá tự nhiên tại tỉnh Cao Bằng
Hình 3. 45. Tỷ lệ % sản lƣợng cá nuôi, cá tự nhiên tại tỉnh Lạng Sơn
loại được đến loài. Có 28 loài đặc hữu miền Bắc Việt Nam, 12 loài mới chỉ ghi
nhận được tại KVNC, 25 loài cần được bảo tồn (9 loài SĐVN, 9 loài QĐ 82 và 15
loài theo IUCN). Bộ cá Vược có số họ nhiều nhất với 8 họ chiếm 33,33%; họ cá
Chép có số giống nhiều nhất 59 giống chiếm 59,6%; về bậc giống có 52 giống đa
loài, 47 giống đơn loài, giống cá Chát (Acrossocheilus) cho số loài nhiều nhất 7
loài; về bậc loài bộ cá Chép có 144 loài và họ cá Chép có 122 loài, chiếm ưu thế
so với các bộ, họ khác.
2. Về phân bố: KVNC huyện Phục Hòa và huyện Tràng Định có số loài nhiều nhất,
74 và 75 loài; HST nước chảy ưu thế hơn so với HST nước tĩnh, sông chính có số
loài nhiều hơn phụ lưu; sông Bằng Giang ở địa hình đồi núi và sông Kỳ Cùng ở
địa hình máng trũng có số loài nhiều hơn; phân bố theo tầng nước thì số loài sống