BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƢỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-----------------
NGUYỄN THỊ THU HẬU
RỐI LOẠN PHOSPHO MÁU
VÀ HỘI CHỨNG NUÔI ĂN LẠI
Chuyên ngành: Nhi khoa
Mã số: 62720135
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2019
Công trình được hoàn thành tại:
ĐẠI HỌC Y DƢỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. NGUYỄN ĐỖ NGUYÊN
2. PGS.TS. NGUYỄN ANH TUẤN
Phản biện 1: ............................................................
Phản biện 2: ............................................................
Phản biện 3: ............................................................
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp trường
Hồi sức (ICU), ảnh hưởng xấu đến kết quả điều trị. Hội chứng Nuôi
ăn lại (HCNAL), hậu quả của việc cung cấp chất dinh dưỡng quá
nhiều và quá nhanh ở những BN có thiếu hụt dinh dưỡng nặng hoặc
suy dinh dưỡng nặng trước đó, cơ chế chính là hạ phospho máu, có
thể gây ảnh hưởng đến tính mạng BN nếu không nhận ra và không
điều trị đúng. HCNAL dù chỉ xảy ra ở 2-3% BN nội trú, nhưng có
tần suất khá cao, tới 20-80% ở BN nặng, tuy vậy vẫn chưa được các
bác sĩ điều trị quan tâm đúng mức.Trong nhi khoa, mới chỉ có các
nghiên cứu (NC) về yếu tố nguy cơ của hạ phospho máu chứ chưa
có NC về HCNAL.Với những BN hạ phospho máu nặng, việc cung
cấp phospho qua đường miệng không hiệu quả, đòi hỏi phải truyền
qua đường tĩnh mạch. Ở Việt nam hầu như chưa có chế phẩm bù
phospho tĩnh mạch, các phác đồ điều trị bệnh chưa cập nhật xử trí
hạ phospho và HCNAL, các bác sĩ cũng chưa quan tâm. Vì vậy, NC
để tìm ra tỉ lệ hạ phospho máu, tỉ lệ HCNAL ở BN nặng và các yếu
tố liên quan là rất cần thiết. Từ kết quả NC này, bước đầu đưa ra
những cảnh báo cho các bác sĩ điều trị về nguy cơ xảy ra, chuẩn bị
sẵn các phương tiện, thuốc men, biện pháp hỗ trợ để ứng phó khi
cần, cũng như xây dựng hướng dẫn phòng ngừa hạ phospho máu và
HCNAL khi hỗ trợ dinh dưỡng cho BN nặng.
Mục tiêu nghiên cứu
1. Xác định nguy cơ hạ phospho máu trong 1 tuần điều trị đầu ở bệnh
nhân khoa Hồi sức nhi (PICU).
2. Xác định nguy cơ hội chứng Nuôi ăn lại trong 1 tuần điều trị đầu ở
bệnh nhân khoa Hồi sức nhi.
2
Điểm mới của đề tài
3
nghiệm lâm sàng và một NC hồi cứu, còn lại đều là báo cáo ca bệnh.
Tần suất giảm phospho máu là trên 50%. Những yếu tố liên quan
nhiều nhất là suy dinh dưỡng (SDD), nhiễm trùng huyết, dùng lợi
tiểu, dùng steroid, bệnh lý hô hấp, có sử dụng dopamine.
Ở Việt nam, mới có 5 NC về hạ phospho máu. Tại khoa ICU bệnh
viện(BV) Nhân dân Gia định, tỉ lệ hạ phospho máu trong 3 ngày đầu
là 31,97% (2013), của BN thở máy tại BV Thống nhất là 65,17%
(2015). Tỉ lệ hạ phospho máu tại khoa Hồi sức BV Nhi đồng 2 khi
vào khoa là 69,5%, ngày 3 44,9%, ngày 7 là 48,1% và ngày 14 là
37,3%, làm kéo dài thời gian nằm điều trị tại khoa (2012).
1.3.1 Định nghĩa và tiêu chuẩn chẩn đoán HCNAL
Là sự dịch chuyển bất thường một cách nhanh chóng của
dịch và điện giải khi được nuôi dưỡng trở lại bằng đường tĩnh mạch
hoặc đường tiêu hóa sau một thời gian thiếu năng lượng (E) hoặc suy
dinh dưỡng (SDD) nặng. Cơ chế chính và bệnh cảnh chính là tình
trạng hạ phospho hay hạ phosphat máu và những biểu hiện lâm sàng
của hạ phospho. Ngoài ra, có thể biểu hiện bằng mất cân bằng dịch
và Na, thiếu vitamin B1, hạ kali máu, hạ magne máu, thay đổi trong
chuyển hóa glucose, protein và lipid, gây suy đa cơ quan nếu không
được phát hiện và xử lí sớm. Ở nhi khoa, chỉ có báo cáo ca bệnh
HCNAL, chưa có NC tìm yếu tố nguy cơ và tỉ lệ bị HCNAL.
1.3.3 Cơ chế bệnh sinh của HCNAL
Khi đói kéo dài, sử dụng hết dự trữ glycogen, cơ thể có
những biến đổi về chuyển hóa và hormone nhằm mục đích ngăn ngừa
sự giáng hóa của protein và bảo toàn khối cơ. Insulin được giảm tiết
và chuyển hóa cơ bản giảm đi từ 20-25% để tiết kiệm năng lượng,
nhịp tim sẽ chậm hơn, huyết áp giảm và thân nhiệt giảm. Cơ thể sử
dụng keton, các acid béo tự do làm nguồn năng lượng chính. Gan
Nghiên cứu bệnh chứng xuất phát từ trong đoàn hệ: xác định yếu
tố nguy cơ của hạ phospho máu và HCNAL trong 1 tuần đầu điều trị.
5
Tất cả những biến số phơi nhiễm được ghi nhận ngay sau khi
được chọn vào đoàn hệ, bảo đảm được trình tự thời gian nhân quả khi
xét mối liên quan giữa phơi nhiễm với bệnh, trong quá trình theo dõi
một tuần.Thống kê phân tích hồi quy đa biến sẽ loại trừ ảnh hưởng
của các yếu tố gây nhiễu, từ đó xác định mối liên quan giữa các yếu
tố phơi nhiễm và hạ phospho máu (mục tiêu 1), HCNAL (mục tiêu 2)
2.2. Đối tƣợng nghiên cứu
2.2.1. Dân số mục tiêu :Các bệnh nhi nặng được trợ giúp dinh dưỡng
2.2.2. Dân số chọn mẫu
Các bệnh nhi được trợ giúp dinh dưỡng tại khoa Hồi sức BV Nhi
đồng 2, TP Hồ Chí Minh trong thời gian từ 10/2014 đến 4/2016.
2.3. Cỡ mẫu
Tính cỡ mẫu cho phần thiết kế mô tả: Sử dụng công thức ước
lượng một tỉ lệ để xác định tỉ lệ mới mắc của hạ phospho máu, hoặc
HCNAL, với p là tỉ lệ hạ phospho máu (dưới chuẩn), hoặc tỉ lệ
HCNAL từ tài liệu tham khảo.
N = Z2 1-α/2 p(1-p)/ d2
N = Số trường hợp cần NC
α: xác suất sai lầm loại 1 = 0,05
Z (1 - α /2) = 1,96, tương ứng độ tin cậy 95%, từ phân phối chuẩn
d: độ chính xác tuyệt đối = 0,06 p: trị số mong muốn của tỉ lệ
Các NC trước đây: tỉ lệ mắc mới của giảm phospho máu ở bệnh
HCNAL, đủ cho nhóm bệnh của nghiên cứu bệnh-chứng.
2.4 Kĩ thuật chọn mẫu
Tất cả những BN khi nhập ICU chưa có hạ phospho máu, hoặc
HCNAL, đồng ý tham gia NC, được chọn tuần tự cho đến khi đủ cỡ
mẫu cho NC mô tả.
Tất cả những BN từ mẫu nghiên cứu của NC mô tả khi được phát
hiện có hạ phospho máu, hoặc HCNAL, ở ngày 3 (N3) hoặc ngày 7
(N7), sẽ đưa vào nhóm bệnh của NC bệnh chứng. Những trường hợp
không giảm phospho máu, hoặc không bị HCNAL, từ cùng mẫu của
NC mô tả sẽ được chọn vào nhóm chứng. Chỉ chọn một lần khi có
chẩn đoán giảm phospho máu, hoặc HCNAL đầu tiên.
Tiêu chí loại trừ : cho cả nhóm bệnh và chứng
-
Những BN được ra khỏi khoa trong vòng 3 ngày (< 72 giờ)
-
BN tử vong trong vòng 72 giờ sau khi nhập khoa Hồi sức
-
BN chưa được nuôi ăn lại khi ra khỏi khoa (năng lượng = 0)
7
-
Có bệnh lý khác gây giảm nồng độ phospho trong máu như
2.6.1 Biến số phụ thuộc: gồm 2 biến là “hạ phospho máu” và "hội
chứng Nuôi ăn lại ", là biến định tính, có 2 giá trị: “có” và “không”.
* Hạ phospho máu: ghi nhận tại thời điểm nhập khoa (N0), ngày
thứ 3 sau nhập khoa (N3), ngày thứ 7 sau nhập khoa (N7), có hạ
phospho máu nếu phospho máu dưới chuẩn theo lứa tuổi (phân loại
theo Worley 1998, Shah 2016, Nelson 2016)
sơ sinh : Phospho máu < 40 mg/l
< 2 tuổi: Phospho máu 7,5 mg/l (theo Marik 1996, Marvin 2007, Marvin 2008, Doig 2015)
BN giảm phospho máu hoặc HCNAL nhiều lần: lấy kết quả đầu
2.6.2 Biến số độc lập và biến kiểm soát
Các biến số độc lập là các can thiệp (về điều trị bệnh và chăm
sóc dinh dưỡng), bệnh lí khi nhập khoa
Các biến số kiểm soát là các đặc tính nền trước khi vào khoa
2.6.3 Kiểm soát sai lệch thông tin
Các bước thu thập thông tin được tác giả đề tài, là người chịu
trách nhiệm NC trực tiếp thu thập số liệu, thực hiện cẩn trọng trên
từng bệnh nhi. Phiếu dữ kiện được ghi chép theo mẫu với các tiêu chí
đã định trước. Các công cụ đo lường đều được chuẩn hóa. Qui trình
độc lập giữa các yếu tố phơi nhiễm với các kết cuộc (hạ phospho
10
máu, hoặc HCNAL), và mức độ kết hợp được ước lượng bằng OR
điều chỉnh cùng với KTC 95% của OR điều chỉnh. Các đặc tính liên
quan có ý nghĩa đã được tìm thấy trong các nghiên cứu trước đây và
các biến số có p
3.3.2 Những yếu tố liên quan với nguy cơ hạ phospho máu (trong
phân tích đơn biến)
Chỉ có thời gian ăn uống kém trước khi nhập ICU và thời gian
bệnh trước khi vào ICU có khác biệt có ý nghĩa thống kê.Với bệnh lí
khi vào ICU, chỉ có bệnh lí nội tiêu hóa là yếu tố nguy cơ gây hạ
phospho máu lên gần 4 lần, với p< 0,001. Cung cấp kali tĩnh mạch
(OR 0,54), cung cấp magne tĩnh mạch (OR 0,47), có dùng vận mạch
(OR2,1) và có sonde dạ dày dẫn lưu (OR 2,45) có liên quan đến hạ
phospho máu và khác biệt có ý nghĩa thống kê. Không có sự khác
biệt khi khảo sát các yếu tố cung cấp canxi tĩnh mạch (OR 1,92), Lợi
tiểu (OR1,27), morphin (OR 1,18), antacid (OR1,2), thở máy(OR
1,61), dùng corticoid toàn thân (OR 0,76), lọc máu (OR 1,4)
Mối liên hệ giữa hạ phospho máu và các đặc tính về trợ giúp dinh
dưỡng được khảo sát, gồm đường nuôi dưỡng trong thời gian điều trị,
đáp ứng nhu cầu E, protein. BN hạ phospho máu ở N3 sẽ lấy các điều
trị và trợ giúp dinh dưỡng ở lúc nhập khoa và các BN hạ phospho
máu ở N7 sẽ lấy các điều trị và các trợ giúp dinh dưỡng của lúc nhập
12
khoa và N3. Do khoảng thời gian từ ngày 4-7, BN ra khỏi Hồi sức
nhiều (60 BN), số BN hạ phospho máu mới ít (26 BN), nên các biến
số ở N7 sẽ không khảo sát trong phân tích đa biến. Đường nuôi trước
khi vào ICU ( tĩnh mạch, tiêu hóa) đều không khác biệt. Nuôi đường
tiêu hóa trong ICU là yếu tố bảo vệ (OR 0,17) và nuôi tĩnh mạch
trong ICU làm tăng nguy cơ hạ phospho máu (OR 5,78), khác biệt có
ý nghĩa thống kê. Mức cung cấp năng lượng (E), tốc độ tăng E từ
ngày 0-3 và từ ngày 4-7 được phân nhóm để khảo sát. Kết quả khảo
nuôi lại thành công, nhóm có HCNAL với trung vị 2 (0-5) cho thấy
75% số BN thiếu E trong khoảng 5 ngày và 75% số BN không
HCNAL với trung vị 2,3(0-6) bị thiếu E trong khoảng 6 ngày, sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Mối liên quan giữa HCNAL và mức cung cấp nhu cầu E được khảo
sát ở N3 và chung cho quãng thời gian trước khi xảy ra HCNAL. Mức
cung cấp E theo nhu cầu cơ bản và nhu cầu hàng ngày trước khi có
HCNAL ≥ 50% là yếu tố giúp làm giảm nguy cơ mắc HCNAL và sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê. Tốc độ tăng E từ ngày 0 đến ngày 3
0,2 vào phân tích đa biến, kết quả như sau:
Bảng 3.20 Các yếu tố liên quan đến nguy cơ bị HCNAL, phân
tích đa biến với hồi quy logistic (n=297)
OR điều chỉnh
Yếu tố nguy cơ gây HCNAL
(KTC 95%)
Tốc độ tăng E (ngày 0 – ngày 3) ≥
6,44 (3,02 – 13,74)
25%
Có cung cấp canxi tĩnh mạch
5,79 (1,63 – 20,52)
Có bệnh lí nội tiêu hóa
2,38 (1,04 – 5,42)
Có nuôi đường tiêu hóa
0,46 (0,24 – 0,88)
Mức cung cấp năng lượng cơ bản
0,26 (0,11 – 0,58)
Tỉ lệ nam/ nữ là 1,54, khá tương đồng với NC năm 2010. Tỉ lệ
SDD là 47,5% với 33,7% SDD nặng, tương tự NC 2010 là 37,3%.
Năm 2017, tỉ lệ SDD cấp của BN PICU Nhi đồng 1 là 33,8%, mạn
33,1% và nhẹ cân là 36,9%. Như vậy, tỉ lệ SDD ở PICU vẫn khá cao,
là thách thức lớn khi điều trị và phục hồi dinh dưỡng.
Đa số các BN được nuôi ăn đường tiêu hóa (71%) trong 24 giờ
trước khi nhập khoa, phù hợp với các khuyến cáo về dinh dưỡng cho
BN hồi sức. So với NC năm 2010 tại Nhi đồng 2, khi vào khoa nuôi
tĩnh mạch hoàn toàn 63,7%, nuôi đường tiêu hóa hoàn toàn 19,7%,
vừa nuôi tĩnh mạch vừa nuôi đường tiêu hóa 8,5%, không nuôi gì
8,2%, tỉ lệ nuôi tĩnh mạch cũng giảm nhiều (72,2% năm 2010 so với
36,7% của NC này), tỉ lệ nuôi qua đường tiêu hóa tăng cao (28,2%
năm 2010 so với 71% ở NC này). Tỉ lệ nuôi đường tiêu hóa cũng khá
gần với các NC khác trên thế giới, báo cáo năm 2012 ở 31 khoa
PICU chuẩn ở 8 nước của tác giả Mehta, 67% BN được nuôi đường
tiêu hóa trong vòng 48 giờ sau khi nhập khoa.
Nhiễm trùng nặng và các vấn đề về hô hấp vẫn là bệnh cảnh chính
của BN phải nhập PICU, tương tự các NC khác. Bệnh lí phẫu thuật
thần kinh ở NC này cao hơn các BV nhi khác do BV Nhi đồng 2 là
nơi duy nhất ở miền Nam Việt nam có khoa Ngoại thần kinh.
4.2 Nguy cơ hạ phospho máu trong 1 tuần đầu tại Hồi sức
16
Tổng số 51,9% bệnh nhân nhập PICU với phospho máu bình
thường sẽ xuất hiện hạ phospho máu trong 1 tuần điều trị đầu tiên là
kết quả tương tự với các NC khác. Phân tích gộp 8 NC về hạ phospho
máu ở trẻ em từ 2004-2009 trên thế giới cho tỉ lệ là trên 50%, NC
Menesez 2009 ở Sao Paolo, Braxin là 61%, 2 NC mới năm 2016 và
dài,dẫn lưu dạ dày cũng gây hạ phospho máu do làm mất cân bằng hệ
đệm acid - base. Khi cơ thể bị mất acid, nồng độ phospho máu sẽ
giảm đi do phospho tham gia vào hệ đệm.
Trong NC này, nhóm BN thở máy, nghĩa là có tổn thương hô hấp
nặng có nguy cơ hạ phospho máu cao gấp hơn 3 lần so với nhóm
không thở máy, với OR= 2,75 (1,2 – 6,25)và p=0,02. Điều này cũng
phù hợp với kết quả của các NC trước đây về hạ phospho máu ở BN
nặng, các BN suy hô hấp hoặc có thở máy có tỉ lệ hạ phospho máu
cao.Trong NC của tác giả Menezes ở Sao Paolo, suy hô hấp làm tăng
nguy cơ hạ phospho máu ở BN khoa PICU lên 3,22 lần. Kiềm hô hấp
gây ra do thở máy làm hạ phospho máu nặng nề hơn. BN suy hô hấp
phải thở máy cũng là BN nặng, phải sử dụng nhiều loại thuốc có thể
gây hạ phospho máu như dãn phế quản,vận mạch, corticoid...cũng
như chịu ảnh hưởng của stress chuyển hóa và đáp ứng viêm. Do có
tình trạng rối loạn chức năng hồng cầu, mô thiếu oxy khi bệnh nặng
và rối loạn huyết động học, cơ thể cần nhiều ATP và 2,3
diphosphoglyceric acid để cung cấp oxy cho tế bào, càng dẫn đến
nhu cầu phospho tăng cao. Khi phải thở máy, cung cấp dinh dưỡng
cũng thường bị giới hạn, dẫn đến thiếu các chất dinh dưỡng, trong đó
có phospho, đặc biệt là ở những BN phải nuôi tĩnh mạch toàn phần
mà không có phospho truyền tĩnh mạch như ở Việt nam hiện nay.
Truyền magne tĩnh mạch trong điều trị giúp giảm nguy cơ hạ
phospho máu còn 23%. NC Beleidy 2017 ở PICU cũng chỉ ra rằng
hạ magne và kali máu là yếu tố nguy cơ gây hạ phospho máu. Kali,
magne, phospho cùng là các ion nội bào, tham gia quá trình tổng hợp
18
protein và sẽ có cùng cơ chế hạ ion nội bào theo cơ chế tái phân bố
Ở nhi khoa, chưa có NC tìm ra tỉ lệ bị HCNAL mà chỉ có tỉ lệ hạ
phospho máu ở PICU. Có vài NC về phục hồi dinh dưỡng cho BN
SDD nặng đề cập đến hạ phospho máu khi nuôi ăn lại. Tỉ lệ hạ
phospho máu ở nhóm này khá cao, theo Manary (1998) ở 68 bệnh
nhân Kwashiokor là 76%, cao hơn NC này (41,4%). So với tỉ lệ
HCNAL ở người lớn, NC này tương tự với nhóm BN phải trợ giúp
dinh dưỡng hoặc BN nằm ICU.
Bảng 4.4 Tỉ lệ HCNAL ở ngƣời lớn dựa trên hạ phospho máu
Tác giả
năm
n
Dân số
Tỉ lệ(%)
Goyale
2015
52
BN nuôi ăn tĩnh mạch
60
Thời
điểm
132
BN chán ăn tâm thần
37
-
Marik
1996
62
BN ICU đói ≥ 48 giờ
34
Marvin
2007
250
BN nuôi ăn tĩnh mạch
34
1,9 ± 1,1
ngày
24,5
Zeki
2011
321
BN lão khoa ăn kém >
72 giờ
BN ung thư nuôi tm/
sonde
BN nuôi tm / sonde
Trong 72
giờ
-
15
Thời điểm xảy ra HCNAL trong NC này chủ yếu ở ngày 3 khi
nhập PICU, cũng tương tự như kết quả các NC khác.
Tốc độ tăng E ngày 0-3 phân nhóm ≥ 25% nhu cầu cơ bản là yếu
tố nguy cơ gây HCNAL. Những BN có nguy cơ bị HCNAL, nên thận
trọng khi tăng E trong 3 ngày đầu, vì đây là lúc BN đang có stress
chuyển hóa, gây tăng đường huyết thông qua dị hóa protein, có
kháng insulin do tác động của các hormone dị hóa và các chất trung
20
21
trọng khi trợ giúp dinh dưỡng trong PICU. Đường tiêu hóa toàn vẹn
giúp hấp thu đủ nhu cầu phospho hàng ngày, do đó bất kỳ tổn thương
về chức năng hoặc giải phẫu sẽ làm giảm khả năng nhận phospho cho
cơ thể và làm mất phospho qua phân tiêu chảy, dịch dẫn lưu, vết
thương mất đạm... Một số thuốc sử dụng trong bệnh lí tiêu hóa như
antacid, thủ thuật như dẫn lưu dạ dày... làm tăng khả năng hạ
phospho máu thêm. Đặt sonde để dẫn lưu dịch dạ dày làm tăng nguy
cơ hạ phospho máu trong 1 số NC.
Có nuôi đường tiêu hóa trong thời gian khảo sát là yếu tố bảo vệ
khỏi HCNAL. BN nuôi được đường tiêu hóa thì chức năng tiêu hóa
và hấp thu còn bảo tồn, nhận được nhiều chất dinh dưỡng hơn, nhiều
đạm hơn và cũng nhiều phospho cũng như các khoáng chất cần thiết
khác. Cứ 1 gram protein cung cấp khoảng 15mg phospho, do đó dễ
dàng cung cấp đủ phospho hơn với chế độ ăn đủ đạm.Trong NC này,
41,4% bệnh nhân có HCNAL trong 1 tuần điều trị và khoảng 85,5%
tổng số BN này sẽ xuất hiện HCNAL trong vòng 3 ngày đầu, như
vậy kết quả NC cho thấy mức cung cấp năng lượng cơ bản đạt ≥ 50%
trước khi xảy ra HCNAL, cung cấp protein cơ bản đạt ≥ 50% trước
khi có HCNAL thì đa số là ở thời điểm nhập ICU và trong 3 ngày
đầu, và giúp giảm nguy cơ mắc HCNAL. Kết quả này hoàn toàn phù
hợp với các NC trước đây về HCNAL. Nên bắt đầu nuôi với năng
lượng thấp, nhưng không quá thấp, tức đạt ≥ 50% năng lượng cơ bản,
chưa nên áp dụng hệ số stress khi bắt đầu nuôi ăn lại.
Với kết quả NC về mức cung cấp protein, cung cấp ngay khi vào
ICU ≥ 50% nhu cầu protein cơ bản, là yếu tố bảo vệ tránh bị
HCNAL. Kết quả này phù hợp với bằng chứng của các NC RCT, và
NC đoàn hệ khác về mức protein cơ bản khuyến cáo cho bệnh nhi
mới và yếu tố nguy cơ của hạ phospho máu ở bệnh nhi nặng nằm
khoa Hồi sức, và cũng là NC đầu tiên về tỉ lệ và yếu tố nguy cơ của
HCNAL trong nhi khoa, có ý nghĩa ứng dụng trong thực tế lâm sàng.
23
Hạn chế trong nghiên cứu này
Mẫu xét nghiệm lấy vào ngày 0,3,7, theo quyết định của bác sĩ
điều trị chứ chưa khảo sát được mỗi ngày, nên có một số hạn chế khi
phân tích số liệu. Tỉ lệ mất mẫu còn cao, chưa theo dõi được BN tiếp
tục sau khi ra khỏi khoa Hồi sức hoặc theo dõi thời gian lâu hơn.
KẾT LUẬN
Trong thời gian từ tháng 10/2014 đến tháng 4/2016, qua NC 297
BN nhập khoa Hồi sức BV Nhi đồng 2, chưa hạ phospho máu khi
nhập khoa, điều trị tại khoa tối thiểu 72 giờ, được theo dõi các yếu tố
liên quan đến hạ phospho máu và HCNAL. Chúng tôi nhận thấy:
1.Có 51,9% BN bị hạ phospho máu trong 1 tuần điều trị đầu tại khoa
Hồi sức nhi, với 43,1% trong 3 ngày đầu (chiếm 83%)
Các yếu tố làm tăng nguy cơ hạ phospho máu là: nuôi tĩnh mạch OR
8,27 (3,44 – 19,89), có bệnh lí nội tiêu hóa OR 4,89 (2,0 – 11,97) ,
thở máy OR 2,75 (1,2 – 6,25). Yếu tố giúp giảm nguy cơ hạ phospho
máu là nuôi đường tiêu hóa OR 0,18 (0,1 – 0,33), cung cấp magne
tĩnh mạch OR 0,23(0,12 – 0,44).
2. Có 41,4 % số BN có biểu hiện HCNAL trong 1 tuần điều trị đầu
tại khoa Hồi sức nhi, ở ngày thứ 3 là 35,4% (chiếm 85,5%)
Các yếu tố làm tăng nguy cơ HCNAL là : tốc độ tăng năng lượng
ngày 0-3 ≥ 25% nhu cầu cơ bản OR 6,44 (3,02 – 13,74), có nuôi
canxi tĩnh mạch OR 5,79 (1,63 – 20,52), có bệnh lí nội tiêu hóa OR