Tóm tắt Luận văn tiến sĩ Nghệ thuật: Truyền thông thị giác từ góc nhìn thiết kế đồ hoạ Việt Nam hiện đại - Pdf 58


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ VĂN HOÁ, THỂTHAO VÀ DU LỊCH

VIỆN VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

Ngô Anh Cơ

TRUYỀN THÔNG THỊ GIÁC TỪ GÓC NHÌN
THIẾT KẾ ĐỒ HOẠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật
Mã số: 9210101

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT

Hà Nội - 2018




Công trình được hoàn thành tại:
Viện Văn hoá Nghệ thuật quốc gia Việt Nam
Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Nguyễn Ngọc Dũng
PGS. TS Lê Văn Sửu


TTTG là hình thức truyền tải một thông điệp hay cảm xúc nhất
định nào đó thông qua ngôn ngữ thị giác. Nói một cách cụ thể hơn,
chúng ta không sử dụng lời để nói chuyện với người xem, mà dùng
những hình ảnh, minh hoạ, màu sắc và bố cục...để diễn tả cảm xúc và
thông điệp. Thực tế hoạt động Mỹ thuật ứng dụng hay Mỹ thuật công
nghiệp ở Việt Nam trong nhiều năm trở lại đây đều liên quan đến
truyền thông - giao tiếp. Trong nhiều loại hình nghệ thuật thị giác,
TKĐH thể hiện rõ nhất chức năng truyền thông - giao tiếp, chức năng
truyền thông - giao tiếp đã trở thành yếu tố sống còn của TKĐH hiện
đại. Nghiên cứu TTTG từ góc nhìn TKĐH Việt Nam hiện đại qua tạo
hình sẽ mang đến cái nhìn khái quát về TTTG Việt Nam ở mọi khía
cạnh, quá trình nghiên cứu đồng thời chỉ ra những thành tựu và hạn
chế của TKĐH Việt Nam ở góc độ TTTG, từ đó rút ra kinh nghiệm để
TKĐH Việt Nam hiện đại phát triển vững chắc hơn trong hiện tại và
mạnh mẽ trong tương lai.


2

Năm 1986, Việt Nam bắt đầu đổi mới, trong bối cảnh kinh tế, văn
hoá - xã hội có nhiều thuận lợi đã tạo động lực cho TKĐH phát triển.
TKĐH Việt Nam ở giai đoạn này đã hình thành một số thể loại mới
mà trước 1986 chưa hề xuất hiện như TKĐH: nhận diện tổ chức, cá
nhân, thương hiệu, sản phẩm... các hình thức đồ hoạ giao diện người
dùng. TKĐH, ngoài thiết kế phẳng và tĩnh như trước đây đã kết hợp
với thiết kế trong không gian và môi trường động. Bên cạnh những
thuận lợi nêu trên, TKĐH Việt Nam từ 1986 đến nay còn được hỗ trợ
tích cực từ khoa học công nghệ hiện đại và thành tựu của kỷ nguyên
Số hoá. Có thể khẳng định, bắt đầu từ 1986 TKĐH Việt Nam đã phát
triển theo hướng hiện đại, thể hiện rõ chức năng truyền thông - giao

Phương pháp thống kê, phân loại; Phương pháp nghiên cứu liên
ngành.
5. Câu hỏi nghiên cứu
- Câu hỏi 1: Tại sao thiết kế đồ hoạ Việt Nam hiện đại được cho
là biểu hiện sinh động của truyền thông thị giác Việ Nam.
- Câu hỏi 2: Truyền thông thị giác được thể hiện thông qua
những yếu tố nào của thiết kế đồ hoạ.
- Câu hỏi 3: Nghiên cứu truyền thông thị giác từ góc nhìn thiết kế
đồ hoạ Việt Nam hiện đại cần làm rõ những nội dung gì.
6. Giả thuyết nghiên cứu
- Giả thuyết 1: Mối quan hệ giữa thiết kế đồ hoạ Việt Nam hiện
đại và truyền thông thị giác được thể hiện thông qua ngôn ngữ biểu
đạt và chức năng truyền thông - giao tiếp.
- Giả thuyết 2: Chỉ thông qua ngôn ngữ tạo hình và hình thức
biểu đạt của thiết kế đồ hoạ người xem cảm nhận được dấu hiệu
truyền thông thị giác.
- Giả thuyết 3: Ý nghĩa của dấu hiệu hoặc tập hợp các dấu hiệu
thị giác trong thiết kế đồ hoạ Việt Nam hiện đại mang ý nghĩa truyền
thông thị giác.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án


4

7.1. Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu khẳng định TKĐH Việt Nam
hiện đại là bộ phận quan trọng của TTTG Việt Nam. Nghiên cứu chỉ
ra hình thức biểu đạt của TKĐH Việt Nam hiện đại mang ý nghĩa
TTTG. Nghiên cứu xác định cơ sở lý luận liên quan đến nghiên cứu
TTTG nói chung trong đó có TTTG Việt Nam.
7.2. Ý nghĩa thực tiễn: Công trình đầu tiên nghiên cứu liên quan

Visual communication: Images With Massages (Truyền thông thị giác:
Hình ảnh với thông điệp, (2013) của Paul Martin Lester, một nghiên
cứu tổng hợp trên diện rộng những vấn đề liên quan đến TTTG. Nội
dung cuốn sách đã gợi mở hướng tiếp cận nghiên cứu TTTG ở góc
nhìn TKĐH. Cuốn, A History of Visual Communication Design
(Truyền thông thị giác một lịch sử), (2013) của hai tác giả Josef Muller Brockmann là công trình nghiên cứu tương đối toàn diện về
lịch sử TTTG. Cuốn Visual Thinking: Methods for making images
memorable (Tư duy thị giác: Nguyên tắc làm cho hình ảnh được ghi
nhớ), (1988) của Henry Wolf, nội dung cuốn sách xoay quanh vấn đề
tư duy và kỹ năng tạo dựng hình ảnh hấp dẫn về thị giác.
- Công trình nghiên cứu liên quan đến thiết kế đồ hoạ: Cuốn
Graphic Design A History (Lịch sử thiết kế đồ hoạ), (2012) của
Stephen J. Eskilson, một nghiên cứu chuyên sâu và đầy đủ nhất về
Lịch sử TKĐH. Kết hợp nội dung cuốn sách này với cuốn A History of
Visual Communication Design để nhận ra mối quan hệ giữa TKĐH và
TTTG. Cuốn Graphic Design Basics (Thiết kế đồ hoạ cơ bản), (2004)
của Amy e. Arntson là cuốn giáo khoa về TKĐH, lần đầu tiên đề cập
đến cảm nhận và nhận thức trong TKĐH. Tác giả nêu ra nhận định
quan trọng: “Giao tiếp là yếu tố sống còn của thiết kế đồ họa hiện
đại”. Richard Moore là một chuyên gia về TKĐH ở góc độ tiếp thị và
thiết kế, sau nhiều năm làm việc tại Việt Nam, ông đã xuất bản một số
cuốn sách liên quan đến thương hiệu: Marketting & Thiết kế (1995),
Thương hiệu dành cho Lãnh đạo (2004), Đầu tư cho Chiến lược Hình
ảnh Thương hiệu (2009).
1.1.2. Những công trình nghiên cứu của tác giả trong nước


6

- Công trình nghiên cứu liên quan đến truyền thông thị giác: Gồm


TTTG, nhưng qua phân tích nội dung và ý nghĩa của các hình tượng,
gián tiếp các tác giả đã chỉ ra ý nghĩa TTTG trong tranh dân gian.
Cuốn sách Đồ họa cổ Việt Nam (2011), của Phan Cẩm Thượng, Lê
Quốc Việt và Cung Khắc Lược là cuốn sách đầu tiên tập hợp đầy đủ
các loại hình Đồ họa cổ và những vấn đề có liên quan đến đồ họa Việt
Nam. Với cách tiếp cận nghiên cứu các hiện vật là hướng đi mới, nhìn
nhận sự tồn tại của hiện vật để “truyền đi” một nội dung “giao tiếp”
chứ không đơn thuần để làm đẹp.
1.2. Cơ sở lý luận
1.2.1. Một số thuật ngữ và khái niệm liên quan
- Thuật ngữ Truyền thông: Truyền thông là quá trình trao đổi
thông điệp giữa các nhóm thành viên hay nhóm người trong xã hội
nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau. Trong trường hợp nghiên cứu đề
tài luận án, cách hiểu về thuật ngữ truyền thông: Truyền thông là hành
vi truyền đạt ý nghĩa từ một cá thể hay tập thể đến một cá thể hay tập
thể khác thông qua việc hiểu và sử dụng lẫn nhau dấu hiệu và quy tắc
ký hiệu học.
- Thuật ngữ Thị giác: Thị giác là khả năng nhìn được một đối
tượng hay sự vật trong môi trường ánh sáng, thông qua thị giác con
người cảm nhận các dấu hiệu như màu sắc, hình, không gian và
chuyển động của đối tượng, đó là các ý tưởng và thông tin trong các
hình thức có thể được đọc hoặc nhìn".
- Khái niệm Truyền thông thị giác: Truyền thông thị giác là một
khái niệm ghép từ hai thuạt ngữ: truyền thông và thị giác, trong tiếng
Anh gọi là Visual communication. Khi chuyển sang tiếng Việt, có một
sso cách gọi: Truyền thông thị giác, Giao tiếp thị giác, Truyền thông
hình ảnh hay Truyền thông trực quan. Trong nghiên cứu đề tài luận án
sẽ sử dụng visual communication là truyền thông thị giác.


và thông qua một số hoạt động tinh thần để nhận thức ý nghĩa. Nhận


9

thức thị giác là sự nhận thức thực tại khách quan một cách cụ thể, trực
tiếp bằng giác quan thị giác.
1.2.2. Khái quát về thiết kế đồ hoạ Việt Nam hiện đại từ 1986
đến nay
TKĐH Việt Nam hiện đại ở giai đoạn này được ghi nhận thành
công ở thể loại thiết kế logo, trong rất nhiều thiết kế logo được sử
dụng rộng rãi phải kể đến logo Petrorimex (1989) của Vũ Hiền. Sự ra
đời logo Petrorimex, đồng thời hình thành một loạt của hàng bán lẻ
Xăng dầu trên cả nước được quy chuẩn về bảng hiệu, màu sắc, kiểu
chữ, thiết kế nội thất, trang phục và thẻ nhân viên... đó là lý do để
đánh giá logo Petrorimex mang tính thương mại đầu tiên ở Việt Nam biểu hiện sinh động TKĐH hiện đại. Ngoài thiết kế logo, các hình
thức TKĐH quảng cáo như áp phích giới thiệu và quảng cáo sản
phẩm, bao bì, tờ rơi, tờ gấp...cũng phát triển mạnh mẽ. TKĐH ở giai
đoạn này chuyển dần theo hướng truyền thông - giao tiếp. Bắt đầu từ
năm 1986, máy tính hỗ trợ TKĐH xuất hiện ở Việt Nam, đã tạo nên
một cuộc "cách mạng" thực sự trong việc sử dụng chữ và hình ảnh
trong TKĐH nó rút ngắn thời gian tổng hợp, trình bày và liên kết các
thành phần của một sản phẩm TKĐH. Sự tham gia của máy tính và số
hoá vào quá trình TKĐH đã thúc đẩy các loại hình TKĐH quảng cáo
tấm lớn phát triển, bao gồm cả quảng cáo động. Đồng thời trong
TKĐH xuất hiện thuật ngữ thiết kế đồ hoạ đồng bộ và thiết kế đồ hoạ
hệ thống nhận diện để tạo dựng hình ảnh đại diện cho tổ chức, cá
nhân, sản phẩm... Hai dạng thức thiết kế này xuất hiện cho thấy
TKĐH đã quan tâm đến liên kết các thành phần đơn lẻ thành một hệ
thống nhất quán về hình thức và nội dung, thể hiện rõ chức năng

dù là chữ hay hình ảnh. Thông qua ký hiệu học để thấy được tính chất của
tín hiệu thị giác và vai trò của các mã tín hiệu thị giác trong chức năng
truyền thông - giao tiếp từ góc nhìn TKĐH Việt Nam hiện đại.
Tiểu kết


11

Mặc dù TKĐH Việt Nam đã được nghiên cứu ở nhiều góc độ
khác nhau. Tuy nhiên, hoàn toàn thiếu vắng những nghiên cứu để cập
đến TTTG trong TKĐH, trong khi đó TKĐH Việt Nam đã và đang
phát triển theo hướng truyền thông và giao tiếp, là biểu hiện sinh động
về TTTG. Nghiên cứu TTTG từ góc nhìn TKĐH, nguồn tài liệu hỗ trợ
chủ yếu là gián tiếp hoặc có nội dung gần.
Việc xác định một số thuật ngữ, khái niệm có liên quan là cơ sở
để xác định hướng tiếp cận nghiên cứu và lý thuyết áp dụng. Trong
nhiều lý thuyết liên quan đến nghiên cứu truyền thông, có hai lý thuyết
liên quan trực tiếp đến nghiên cứu TTTG là: lý thuyết Gestalt và lý
thuyết Ký hiệu học. TKĐH Việt Nam hiện đại là đối tượng nghiên cứu
của TTTG trong nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, việc khái quát về
TKĐH Việt Nam hiện đại từ 1986 đến nay và xác định mối quan hệ
giữa TKĐH với TTTG là cần thiết.
Chương 2
TRUYỀN THÔNG THỊ GIÁC QUA TẠO HÌNH
CỦA THIẾT KẾ ĐỒ HOẠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
2.1. Dấu hiệu truyền thông thị giác thông qua ngôn ngữ tạo
hình trong thiết kế đồ hoạ Việt Nam hiện đại.
2.1.1. Dấu hiệu truyền thông thị giác từ yếu tố màu sắc trong
thiết kế đồ hoạ Việt Nam hiện đại
Dấu hiệu TTTG từ yếu tố màu sắc trong TKĐH được hình thành

hình ảnh duy nhất trong sự yên tĩnh của mắt.
2.2. Truyền thông thị giác từ các tập hợp dấu hiệu thị giác
qua tạo hình của thiết kế đồ hoạ Việt Nam hiện đại
2.2.1. Truyền thông thị giác từ các tập hợp dấu hiệu thị giác
giống nhau và không giống nhau trong thiết kế đồ hoạ Việt Nam
hiện đại
Luật - giống nhau trong lý thuyết Gestalt cho rằng những dấu
hiệu tương tự sẽ được tự động nhóm lại bởi bộ não. Sự giống nhau
hoặc khác nhau của các dấu hiệu thị giác đến từ màu sắc, hình dạng,
kích thước, cấu trúc, giá trị, và hướng.


13

2.2.2. Truyền thông thị giác từ các tập hợp dấu hiệu thị giác
tiệm cận và không tiệm cận trong thiết kế đồ hoạ Việt Nam hiện đại
Sự tiệm cận trong cảm nhận dấu hiệu TTTG là người xem liên
kết chặt chẽ hơn với những đối tượng ở gần nhau hơn là những đối
tượng xa. Tương tự như vậy, trong TKĐH hai yếu tố đứng gần nhau
sẽ được xem là liên quan gần gũi hơn so với một yếu tố ở cách đó rất
xa. Tiệm cận cũng là một yếu tố thị giác phản ánh về không gian do
người xem tưởng tượng.
2.2.3. Truyền thông thị giác từ các tập hợp dấu hiệu thị giác kết
nối liên tục và không kết nối liên tục trong thiết kế đồ hoạ Việt Nam
hiện đại
Bộ não không thích sự thay đổi đột ngột hoặc bất thường trong
một dòng chuyển động của mắt. Nói cách khác, não tìm càng nhiều
càng tốt sự tiếp nối trơn tru của một chuyển động đồ hoạ hay ngụ ý
trong TKĐH để hình dung về ý nghĩa. Các dòng chuyển động hình
thành có thể là một hình minh hoạ, hoặc một số đối tượng được sắp

này, để tạo nên những hình ảnh đặc biệt và đáng nhớ. Bốn luật Gestalt
là quan trọng với người xem để hiểu ý nghĩa một thông điệp TTTG
trong TKĐH - hiểu ý nghĩa của yếu tố thành phần sẽ giúp người xem
hiểu rõ hơn toàn bộ ý nghĩa của thông điệp TTTG.
Chương 3
TRUYỀN THÔNG THỊ GIÁC QUA BIỂU ĐẠT VÀ TIẾP NHẬN
TÍN HIỆU THỊ GIÁC TRONG THIẾT KẾ ĐỒ HOẠ VIỆT NAM
HIỆN ĐẠI
3.1. Truyền thông thị giác qua tính chất của tín hiệu thị giác
3.1.1. Truyền thông thị giác qua tính hình tượng của tín hiệu
thị giác
Tín hiệu mang tính hình tượng, đơn giản là để giải thích cho tất
cả những điều có ý nghĩa mà nó đại diện. Ví dụ, hình mũi tên là gần
giống với ý nghĩa chỉ "phương hướng" mà hình mũi tên làm đại diện.
Trong xã hội tiêu dùng hiện đại, TKĐH đang hướng đến sự tối giản


15

bằng cách sử dụng nhiều hơn những tín hiệu mang tính hình tượng để
giao tiếp với người xem.
3.1.2. Truyền thông thị giác qua tính chỉ dẫn của tín hiệu thị
giác
Tính chất của tín hiệu mang tính chỉ dẫn là sự kết nối thông
thường và hợp lý với những ý nghĩa hay ý tưởng mà nó đại diện, nó
không phải là sự tương đồng trực tiếp với đối tượng. Do đó việc giải
thích ý nghĩa một tín hiệu thị giác mang tính chỉ dẫn thường là khó và
mất nhiều thời gian hơn so với dấu hiệu mang tính hình tượng. Dấu
hiệu thị giác mang tính chỉ dẫn trong TKĐH để người xem chuyển đổi
tín hiệu nhìn thấy sang ý nghĩa khác.

cho người xem giả định về ý nghĩa về những gì họ nhìn thấy. Bằng cách
đó mã hoán dụ liên quan nhiều đến tính chất chỉ dẫn của tín hiệu thị
giác. Mã tương tự là một nhóm tín hiệu thị giác để người xem so sánh
trong tâm trí, nó hỗ trợ đến ký ức và liên tưởng. Mã hoán vị, bất cứ khi
nào có một chuyển đổi ý nghĩa từ các nhóm tín hiệu thị giác, một mã
hoán vị được sử dụng. Mã súc tích, trong nhiều khía cạnh là loại mã thú
vị nhất. Mã súc tích, là một nhóm tín hiệu thị giác kết hợp lại để tạo
thành một thông điệp hỗn hợp mới.
3.3. Tiếp nhận truyền thông thị giác và các yếu tố tác động
Người xem nhìn được và hiểu ý nghĩa đúng của đối tượng là
thông qua một số hoạt động tinh thần như: ký ức, đối chiếu, kỳ vọng,
chọn lọc, quen thuộc, sự nổi bật, sự hoà hợp, văn hoá, và ngôn ngữ.
3.3.1. Ký ức trong tiếp nhận truyền thông thị giác
Ký ức là hoạt động tinh thần quan trọng nhất liên quan đến tiếp
nhận chính xác ý nghĩa TTTG trong TKĐH, ký ức tạo sự liên kết thực
tại với tất cả những gì đã xảy ra trong quá khứ bao gồm cả hình ảnh
của đối tượng. Ký ức là hoạt động tinh thần đầu tiên diễn ra trong quá
trình nhận thức ý nghĩa TTTG. Trong một TKĐH, nếu ở đó không có
những tín hiệu thị giác làm cho người xem liên hệ với quá khứ hoặc
những gì đã từng trải nghiệm, họ sẽ nhanh chóng bỏ qua.
3.3.2. Sự so sánh trong tiếp nhận truyền thông thị giác


17

Con người thường hình thành những đặc điểm, tính cách của đối
tượng nhìn thấy thông qua các hình dạng kỳ quặc do cảm nhận hay
nghĩ đến từ đó trạng thái tinh thần so sánh với ký ức hình thành tổng
quát về đối tượng đó.
3.3.3. Sự kỳ vọng trong tiếp nhận truyền thông thị giác

hoà hợp để từ đó liên tưởng với những gì đã biết. Yếu tố văn hoá, giúp
cho nhà thiết kế mã hoá thông điệp thuận lợi, người nhận thông điệp
có khả năng giải mã nhanh hơn để nhận thức ý nghĩa sâu sắc và ghi
nhớ lâu hơn thông điệp truyền thông. Mặc dù mọi thứ người xem nhìn
thấy bằng đôi mắt, những hầu hết mọi người suy nghĩ bắt đầu từ ngôn
từ, chữ viết và ngôn ngữ là bước đầu tiên để con người hình dung về
hình ảnh. Do đó, ngôn ngữ giống như bộ nhớ và văn hoá tác động đến
hiểu biết sâu sắc của con người và ghi nhận giá trị tiếp theo của hình
ảnh. Một trong những hình thức mạnh nhất để biểu đạt TTTG trong
TKĐH là ngôn ngữ kết hợp với hình ảnh.
Tiểu kết
Chương 3. nghiên cứu yếu tố TTTG qua biểu đạt và tiếp nhận tín
hiệu thị giác trong TKĐH Việt Nam hiện đại. Nội dung nghiên cứu
xoay quanh những vấn đề liên quan tín hiệu thị giác, là nhân tố quan
trọng tạo nên ý nghĩa TTTG. Một dấu hiệu thị giác chỉ trở thành tín
hiệu thị giác khi trong đó mỗi dấu hiệu có hàm chứa cái biểu đạt + cái
được biểu đạt hay nói đơn giản hơn đó là hình thức + nội dung của tín
hiệu thị giác. Nội dung đầu tiên của chương 3, nghiên cứu về cái biểu
đạt TTTG ở hai khía cạnh là tính chất của các tín hiệu thị giác và vai
trò của các mã tín hiệu thị giác. Lý thuyết ký hiệu học chỉ ra ba loại
khác nhau của tín hiệu thị giác mang tính chất: tín hiệu thị giác biểu
đạt tính chất hình tượng, tín hiệu thị giác biểu đạt tính chỉ dẫn, tín hiệu
thị giác biểu đạt tính hình tượng. Thông qua tính chất của tín hiệu thị
giác để đối tượng tiếp nhận thông điệp TTTG giả định về ý nghĩa của
các tín hiệu thị giác nhìn thấy - chưa phải ý nghĩa đúng. Nội dung thứ
hai, nghiên cứu đề cập đến TTTG biểu hiện qua các mã tín hiệu trong
TKĐH Việt Nam hiện đại. Mỗi cá nhân thường hình thành ý nghĩa của


19

cảnh kinh tế - văn hoá, xã hội nơi thông điệp TTTG đó được trình bày.
4.2. Điểm mạnh và hạn chế từ góc nhìn lịch sử
Mỗi TKĐH được trình bày, từ kiểu chữ đến hình ảnh đều có một
hoàn cảnh lịch sử độc đáo được thiết lập trong sự nỗ lực và sáng tạo
không ngừng của nhà thiết kế để thúc đẩy một phương tiện truyền
thông. TKĐH cho mục đích TTTG, ở khía cạnh lịch sử luôn cho thấy
xu hướng kỹ thuật được áp dụng, quan điểm đạo đức, quan điểm nghệ
thuật của nhà thiết kế và người xem trong quá khứ.
4.3. Điểm mạnh và hạn chế từ góc nhìn kỹ thuật
Với sự hiểu biết về các kỹ thuật liên quan đến việc trình bày một
TKĐH cho mục đích truyền thông, là cơ sở để các nhà thiết kế xác
định mức độ cần thiết về kỹ thuật áp dụng, phương pháp tiếp cận hay
vấn đề tài chính phù hợp với nội dung và mục đích của công việc
truyền thông. Việc xác định một TKĐH “đẹp” sẽ luôn là vấn đề khó
khăn, sự quyết đoán thường mang tính chủ quan. Đôi khi giá trị của
một TKĐH cho mục đích TTTG sẽ thay đổi theo thời gian và thường
khác nhau giữa các nền văn hoá. Trong tổng hòa các yếu tố tạo nên
một TKĐH, hầu hết các nhà thiết kế đều dựa trên bốn gợi ý phổ quát
để hướng đến một thiết kế “tốt” đó là: tương phản, cân bằng, nhịp
điệu, và thống nhất. Mỗi một sản phẩm TKĐH Việt Nam hiện đại luôn
có một lý do rõ ràng và nhất quán để sử dụng một trong bốn gợi ý này.
4.4. Điểm mạnh và hạn chế từ góc nhìn đạo đức
Đánh giá ý nghĩa tích cực về đạo đức từ một thông điệp TTTG
trong TKĐH Việt Nam hiện đại để chỉ ra những gì có liên quan đến


21

đạo đức chuẩn mực, là phù hợp với môi trường văn hoá - xã hội của
người xem. Một TKĐH cho mục đích TTTG phải cân bằng ba cách

ra kết luận chung về môi trường, văn hoá, bối cảnh lịch sử mà từ đó
thông điệp TTTG được hình thành. Lĩnh vực TTTG có liên quan đến
lịch sử phát triển các phương tiện truyền thông, thực tế cho thấy hoạt
động TTTG đã thay đổi rất nhanh bằng việc áp dụng phương tiện
truyền thông mới. Từ góc nhìn lịch sử để hình dung về quá khứ và
nhận thấy biểu hiệu TTTG trong TKĐH ngày nay đều có sự tiếp nối từ
trong quá khứ. Ở góc độ kỹ thuật, một TKĐH được đánh giá "tốt" hay
"không tốt" ở khía cạnh TTTG có liên quan đến các yếu tố căn bản
như: tương phản, cân đối, nhịp điệu và thống nhất. Quan điểm đạo đức
ảnh hưởng đến nhận thức TTTG, cách cư sử của người xem cũng như
nhà thiết kế dựa trên những quy phạm đạo đức để từ đó rút ra những
kinh nghiệm.
Yếu tố văn hoá tác động đến quá trình tiếp nhận TTTG trong
TKĐH có liên quan đến việc sử dụng hình thức tín hiệu được biểu
tượng hoá và tính ẩn dụ của nó. Trong thời đại toàn cầu hoá, sự tiếp
biến văn hoá là xu hướng tất yếu của cả nhân loại, và Việt Nam không
phải là ngoại lệ. Các trào lưu nghệ thuật hiện đại, hậu hiện đại và thời
ký Số hoá tác động nhiều đến TKĐH Việt nam hiện đại, mang đến cho
TKĐH Việt Nam sự "khởi sắc", tạo ra nhiều sản phẩm vượt lên những
quan niệm xưa cũ. Bên cạnh những thành tựu đạt được, TKĐH Việt
Nam ở góc nhìn văn hoá cũng bộc lộ một số hạn chế cần khắc phục
như việc quá "dễ dãi" trong sử dụng hình thức biểu tượng hoá, sử
dụng "ngôn ngữ" bao gồm cả hình thức nghệ thuật và ngôn từ xa lạ
với đại đa số nhân dân hay những vi phạm pháp lý về bản quyền,
quyền tác giả…
KẾT LUẬN
TKĐH, một loại hình nghệ thuật thị giác tạo nên những hình ảnh
giao tiếp phức tạp về hình thức và nội dung, hình ảnh trong TKĐH
luôn chứa đựng nhiều tín hiệu thị giác. Mọi hoạt động TKĐH Việt
Nam hiện tại đều liên quan đến TTTG, đã có nhiều nghiên cứu về

khác so với tổng các bộ phận hay nói cách khác: Ý nghĩa toàn bộ lớn
hơn tổng ý nghĩa các bộ phận.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status