= 28mm, S = 2,08mm
Quai ĐMC: X = 24 mm, S = 2,28mm. ĐMC
ngực xuống: X = 22mm, S = 2,53mm
Khảo sát trên 81 bệnh nhân nữ: ĐMC ngực
lên: X = 26mm, S = 2,3mm
Hình 4: Đo quai ĐMC
3
Hình 5: Đo ĐMC ngực xuống
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 6* Số 1* 2002
Nghiên cứu Y học
Hình 5: Đo ĐMC ngực xuống
Đường kính ngang của ĐMC ngực trên chụp
cắt lớp điện toán xoắn ốc
Khảo sát 63 bệnh nhân nam: ĐMC ngực lên:
X = 32mm, S = 5,57mm
Quai ĐMC ngực: X = 26mm, S = 4,16mm.
ĐMC ngực xuống : X = 26mm, S = 3,73mm
Khảo sát trên 68 bệnh nhân nữ: ĐMC ngực
lên : X = 31mm, S = 5mm
Quai ĐMC: X = 24mm, S = 4mm. ĐMC
ngực xuống: X = 23mm, S = 3.7mm
Khảo sát 131 bệnh nhân không phân biệt giới
tính : ĐMC ngực lên: X = 32mm, S = 5,31mm
Quai ĐMC: X = 25mm, S = 4,15mm. ĐMC
24mm 25mm
24mm 24mm
61-70 71-80
34mm 34mm
27mm 27mm
26mm 28mm
Hình 7: Đo quai ĐMC ngực
So sánh sự khác biệt giữa các phương pháp đo
So sánh giữa siêu âm tim qua thành ngực và
qua thực quản: ĐMC ngực lên không khác nhau
giữa 2 phương pháp đo. Quai ĐMC và ĐMC ngực
xuống khác nhau giữa 2 phương pháp đo với độ
tin cậy 95%.
So sánh giữa siêu âm tim qua thành ngực và
chụp cắt lớp xoắn ốc: cả 3 số trung bình của ĐMC
ngực lên, quai và ĐMC ngực xuống đều khác
nhau ở ngưởng 95%.
So sánh giữa siêu âm tim qua thực quản và
chụp cắt lớp xoắn ốc: quai ĐMC không khác nhau
giữa 2 phương pháp đo. ĐMC ngực lên và xuống
khác nhau giữa 2 phương pháp đo ở độ tin cậy
95%.
BÀN LUẬN
Đặc điểm về kích thước của ĐMC ngực
Đường kính ngang của ĐMC ngực trong
nghiên cứu của chúng tôi
trên người sống thì các chỉ số của chúng tôi cũng
nằm trong giới hạn đó nhưng có vẻ lệch về phía
giới hạn dưới hơn, có thể do tầm vóc của người
Việt Nam bé hơn.
Các chỉ số của chúng tôi lớn hơn của tác giả
Lê Văn Cường do tính chất xác ướp formol đã làm
thay đổi sức căng bề mặt và làm mạch máu co lại.
So sánh trò số trung bình giữa các phương pháp
đo
Trò số trung bình của ĐMC ngực lên bằng
nhau trên siêu âm tim qua thành ngực vì cả 2
phương pháp đều trình bày rõ đoạn lên của ĐMC.
Siêu âm tim qua thành ngực có hạn chế nhất đònh
với khảo sát quai và ĐMC ngực xuống nên cho sự
khác biệt với siêu âm tim qua thực quản về các số
đo này.
Trò số trung bình của ĐMC ngực đo trên chụp
cắt lớp khác và lớn hơn so với siêu âm có thể do
trong nhóm chụp cắt lớp bệnh nhân có tuổi trung
bình và tỉ lệ nam/nữ lớn hơn trong các nhóm siêu
âm. Cần khảo sát thêm với số lượng bệnh nhân
lớn hơn trước khi đưa ra nhận xét chính xác.
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 6* Số 1* 2002
Nhận xét sự thay đổi về kích thước ĐMC ngực
theo lớp tuổi
Các kết quả khảo sát của chúng tôi cho thấy
ĐMC ngực có đường kính ngang nhỏ nhất trong
khoảng 18 - 30 tuổi sau đó tăng dần và đạt cực đại
ở khoảng 50 - 60 tuổi, điều này cũng phù hợp với
1.
2.
3.
4.
DRUCKER EA. (1988). Acquired diseases of the Thoracic
Aorta. In: Miller DD: Clinical Cardiac Imaging, pp 591. Mac
GrawHill, Inc. NewYork.
FEBVRE B. (1988). Mesuration de l’Aorte normale. Dans:
Repères et mesuration en tomodensitométrie et IRM, pp140143. Sauramp Medical. Montpellier.
GUTIERREZ FR. (1999). Normal Thoracic Aorta. In: Slore
RM: Thoracic Imaging, pp139 Mc GrawHill, Inc. NewYork.
LÊ VĂN CƯỜNG (1991). Các dạng và dò dạng của động mạch
ở người Việt Nam. Tóm tắt luận án phó tiến sỹ y học, p 16.
5
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 6* Số 1* 2002
5.
6
MOELLER TB., REIF E (2000). CT: Chest. In: Normal
Findings in CT and MRI, pp33. Thieme. NewYork.
Nghiên cứu Y học
6.