Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 10152:2013 - IEC 62301:2011 - Pdf 59

TIÊU CHUẨN QUỐC GIA
TCVN 10152:2013
IEC 62301:2011
THIẾT BỊ ĐIỆN GIA DỤNG - ĐO CÔNG SUẤT Ở CHẾ ĐỘ CHỜ
Household electrical appliances - Measurement of standby power
Lời nói đầu
TCVN 10152:2013 hoàn toàn tương đương với IEC 62301:2011;
TCVN 10512:2013 do Ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia TCVN/TC/E1 Máy điện và khí cụ điện
biên soạn, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đề nghị, Bộ Khoa học và Công nghệ công
bố.
Lời giới thiệu
Các phương pháp xác định trong tiêu chuẩn này dùng cho các chế độ công suất thấp. Các
phương pháp này không sử dụng để đo công suất tiêu thụ của các sản phẩm trong chế độ hoạt
động (còn gọi là “on mode”) vì chúng thường nằm trong các tiêu chuẩn IEC hoặc tiêu chuẩn sản
phẩm khác (xem tài liệu viện dẫn) mặc dù vậy các kỹ thuật đo, xác định độ không đảm bảo đo và
các yêu cầu kỹ thuật thử nghiệm có thể được chấp nhận cho những phép đo này nhưng cần xem
xét cẩn thận.
THIẾT BỊ ĐIỆN GIA DỤNG - ĐO CÔNG SUẤT Ở CHẾ ĐỘ CHỜ
Household electrical appliances - Measurement of standby power
1. Phạm vi áp dụng
Tiêu chuẩn này quy định các phương pháp đo công suất tiêu thụ điện ở các chế độ chờ và chế
độ công suất thấp khác (chế độ tắt và chế độ mạng) tùy theo từng trường hợp. Tiêu chuẩn
này áp dụng cho các sản phẩm điện có điện áp vào danh định hoặc dải điện áp vào danh định
nằm hoàn toàn hoặc một phần trong dải từ 100 V xoay chiều đến 250 V xoay chiều đối với các
sản phẩm một pha và từ 130 V xoay chiều đến 480 V xoay chiều đối với các sản phẩm khác.
Mục đích của tiêu chuẩn này nhằm đưa ra phương pháp thử nghiệm để xác định công suất tiêu
thụ của một loạt sản phẩm ở chế độ công suất thấp liên quan (xem 3.4), thường là khi sản
phẩm không ở chế độ hoạt động (tức là không thực hiện chức năng chính của nó).
CHÚ THÍCH 1: Phép đo năng lượng tiêu thụ và tính năng của sản phẩm trong quá trình sử dụng
dự kiến thường được quy định trong các tiêu chuẩn sản phẩm liên quan mà không được đề cập
trong tiêu chuẩn này.

● chức năng phụ do người sử dụng định hướng (xem 3.6 - chế độ chờ)
● chức năng phụ liên quan đến mạng (xem 3.7 - chế độ mạng)
● chức năng chính (xem 3.8 - chế độ hoạt động, không phải là trọng tâm của tiêu chuẩn này)
● các chức năng khác (các chức năng này không ảnh hưởng đến việc phân loại chế độ)
CHÚ THÍCH: Danh mục các chức năng điển hình của các sản phẩm được đề cập trong Phụ lục
A. Việc ghi lại chính xác và lập tài liệu các chức năng trong chế độ sản phẩm liên quan là yếu
tố then chốt về lập tài liệu trong tiêu chuẩn này (xem 6.3). Các loại chức năng thường được
phân loại là chính hoặc phụ (từ xa, mạng, cảm biến và bảo vệ).
3.2. Chế độ (mode)
Trạng thái không có chức năng, có một chức năng hoặc kết hợp của nhiều chức năng.
CHÚ THÍCH 1: Việc phân loại chế độ công suất thấp trong tiêu chuẩn này nhằm cung cấp
hướng dẫn để xây dựng các định nghĩa về chế độ cụ thể cho các sản phẩm.
CHÚ THÍCH 2: Phụ lục A đưa ra hướng dẫn về các chế độ có thể có trong các cấu hình và thiết
kế sản phẩm khác nhau dựa trên mạch điện và sơ đồ bố trí của chúng nhưng không xác định các
chế độ này. Phụ lục A cũng đưa ra cơ sở và hướng dẫn cho người sử dụng tiêu chuẩn này liên
quan đến việc xây dựng các định nghĩa về chế độ cho các sản phẩm cụ thể.
CHÚ THÍCH 3: Xem Phụ lục C về các ví dụ cách tính tổng năng lượng tiêu thụ từ các phép đo
công suất khi đã biết thời gian của từng chế độ.
3.3. Chế độ sản phẩm (product mode)
Chế độ trong đó có các chức năng, nếu có, và việc chúng có được kích hoạt hay không phụ
thuộc vào cấu hình cụ thể của sản phẩm.
CHÚ THÍCH: Việc đặt tên gọi thích hợp cho các chế độ sản phẩm là một vấn đề đối với các ban
kỹ thuật khi xây dựng tiêu chuẩn cho các sản phẩm liên quan. Mặc dù tên gọi của chế độ sản
phẩm thường phản ánh các chức năng được kích hoạt nhưng chúng không nhất thiết phải có
các thuật ngữ “chờ” hoặc “mạng” ngay cả trong trường hợp chế độ sản phẩm nằm trong các
loại chế độ này.
3.4. Chế độ công suất thấp (low power mode)
Chế độ sản phẩm thuộc một trong các loại chế độ sau:



thời gian;
● chức năng liên tục: hiển thị thông tin hoặc hiển thị trạng thái kể cả đồng hồ;
● chức năng liên tục: các chức năng dựa vào cảm biến
CHÚ THÍCH: Hướng dẫn về chế độ và chức năng có trong Phụ lục A. Bộ định thời gian là chức
năng đồng hồ liên tục (có thể kết hợp hoặc không kết hợp bộ hiển thị) cung cấp các nhiệm vụ
được lập lịch trình đều đặn (ví dụ như đóng cắt) và hoạt động liên tục.
3.7. Chế độ mạng (network mode)
Chế độ sản phẩm bất kỳ trong đó sản phẩm sử dụng năng lượng được nối vào nguồn lưới và ít
nhất có một chức năng mạng được kích hoạt (ví dụ như kích hoạt lại thông qua yêu cầu mạng
hoặc truyền thông tích hợp mạng) nhưng trong đó chức năng chính không hoạt động.
CHÚ THÍCH: Trong trường hợp có chức năng mạng nhưng không hoạt động và/hoặc không
được nối vào mạng thì không áp dụng chế độ này. Chức năng mạng có thể hoạt động một cách
gián đoạn theo lịch trình cố định hoặc để đáp ứng với yêu cầu mạng. "Mạng’’ trong trường hợp
này bao gồm sự giao tiếp giữa hai hoặc nhiều cơ cấu hoặc sản phẩm riêng rẽ được cấp nguồn
độc lập. Mạng không bao gồm một hoặc nhiều bộ điều khiển dành riêng cho một sản phẩm đơn
lẻ. Chế độ mạng có thể gồm một hoặc nhiều chức năng chờ.


3.8. Chế độ hoạt động (active mode)
Chế độ sản phẩm trong đó sản phẩm sử dụng năng lượng được nối vào nguồn lưới và ít nhất
một chức năng chính được kích hoạt.
CHÚ THÍCH: Các thuật ngữ thường được sử dụng như “bật”, “đang sử dụng” và “hoạt động bình
thường” cũng mô tả chế độ này.
3.9. Chế độ ngắt điện (disconnected mode)
Trạng thái trong đó tất cả các dây nối vào nguồn lưới của sản phẩm sử dụng năng lượng được
tháo ra hoặc được gián đoạn.
CHÚ THÍCH: Các thuật ngữ thường được sử dụng như “không cắm điện” hoặc “cắt nguồn lưới"
cũng mô tả chế độ này. Chế độ này không thuộc loại chế độ công suất thấp.
3.10. Điện áp danh định (rated voltage)
(Dải) điện áp cung cấp được nhà chế tạo ấn định.

Trong trường hợp điện áp và tần số thử nghiệm chưa được xác định trong tiêu chuẩn khác thì


điện áp thử nghiệm và tần số thử nghiệm phải là điện áp danh nghĩa và tần số danh nghĩa của
quốc gia thực hiện thử nghiệm với dung sai ± 1 % (xem Bảng 1).
CHÚ THÍCH: Có thể yêu cầu nguồn công suất ổn định để đáp ứng các yêu cầu này.
Bảng 1 - Chi tiết về nguồn điện danh nghĩa điển hình cho một số khu vực
Quốc gia/Khu vực

Điện áp danh nghĩa và tần số danh nghĩa-

Châu Âu

230 V, 50 Hz

Bắc Mỹ
Nhật Bản

115 V, 60 Hz
b

100 V, 50/60 Hz

Trung Quốc

220 V, 50 Hz

Úc và Niu Di Lân

230 V, 50 Hz

tính then chốt của tải sử dụng để xác định độ không đảm bảo đo lớn nhất cho phép là tỷ số dòng
điện lớn nhất (MCR), được tính như sau:
Tỷ số dòng điện lớn nhất (MCR) =

Hệ số đỉnh (CF)
Hệ số công suất (PF)

trong đó
● Hệ số đỉnh (CF) là dòng điện đỉnh đo được từ sản phẩm chia cho dòng điện hiệu dụng đo được
từ sản phẩm;
● Hệ số công suất (PF) là đặc tính của công suất do sản phẩm tiêu thụ. Hệ số này là tỷ số giữa
công suất thực tế đo được và công suất biểu kiến đo được.


a) Độ không đảm bảo đo cho phép đối với các giá trị MCR

10

Đối với các giá trị công suất đo được lớn hơn hoặc bằng 1,0 W, độ không đảm bảo đo tương đối
cho phép lớn nhất do thiết bị đo công suất đưa vào, Umr, phải nhỏ hơn hoặc bằng 2 % giá trị công
suất đo được ở mức tin cậy 95 %.
Đối với các giá trị công suất đo được nhỏ hơn 1,0 W, độ không đảm bảo đo tuyệt đối cho phép
lớn nhất do thiết bị đo công suất đưa vào, Uma, phải nhỏ hơn hoặc bằng 0,02 W ở mức tin cậy 95
%.
b) Độ không đảm bảo đo cho phép đối với các giá trị MCR >10
Giá trị Upc phải được xác định theo công thức dưới đây:
Upc = 0,02 x [1 + (0,08 x {MCR -10})]
trong đó Upc là độ không đảm bảo đo tương đối cho phép lớn nhất đối với các trường hợp MCR
>10.
Đối với các giá trị công suất đo được lớn hơn hoặc bằng 1,0 W, độ không đảm bảo đo tương đối



5. Phép đo
5.1. Yêu cầu chung
Mục đích của phương pháp thử nghiệm này là xác định công suất tiêu thụ ở chế độ sản phẩm
liên quan, thường được duy trì hoặc tồn tại trong một khoảng thời gian giới hạn. Chế độ được
xem là duy trì khi mức công suất là không đổi hoặc trong trường hợp có một vài mức công suất
xuất hiện theo một trình tự đều đặn trong một khoảng thời gian không xác định.
CHÚ THÍCH 1: Trong quá trình chuyển đổi từ một chế độ này sang chế độ khác (tự động hoặc do
người sử dụng khởi động), một số thiết bị có thể chờ ở trạng thái công suất cao hơn trong khi
các nhiệm vụ chuyển đổi được thực hiện hoặc các mạch điện được đóng hoặc ngắt điện, vì vậy
có thể phải mất một khoảng thời gian để chúng đi vào trạng thái ổn định.
CHÚ THÍCH 2: Trong trường hợp chế độ sản phẩm này thay đổi tự động, đôi khi có thể cần tác
động đến sản phẩm thông qua một trình tự tự động trong một vài lần trên cơ sở thử để đảm bảo
rằng trình tự này được thông hiểu hoàn toàn và được tài liệu hóa trước khi kết quả thử nghiệm
được ghi lại và được báo cáo lại. Trình tự của các chế độ sản phẩm riêng rẽ cũng có thể thể
hiện một dạng đồ thị đều đặn của các mức công suất đang diễn ra. Xem Phụ lục B để có hướng
dẫn thêm.
CHÚ THÍCH 3: Mặc dù các chế độ thời gian giới hạn có thể được lập thành tài liệu bằng cách sử
dụng các phép đo trong tiêu chuẩn này thì các kết quả cho các chế độ này cần được báo cáo ở
dạng năng lượng tiêu thụ (Wh) và thời gian. Chế độ sản phẩm ổn định cần được duy trì mà
không có sự can thiệp của người sử dụng.
5.2. Chuẩn bị sản phẩm
Thử nghiệm trong tiêu chuẩn này được thực hiện trên một sản phẩm đơn lẻ.
Sản phẩm phải được chuẩn bị và bố trí theo hướng dẫn sử dụng trừ khi có mâu thuẫn với yêu
cầu của tiêu chuẩn này và/hoặc tiêu chuẩn tính năng của sản phẩm liên quan. Nếu không có
hướng dẫn sử dụng thì phải sử dụng các chế độ đặt của nhà máy hoặc chế độ “mặc định" hoặc
trong trường hợp không có chỉ dẫn cho các chế độ đặt này thì sản phẩm được thử nghiệm như
được cung cấp.
CHÚ THÍCH: Tiêu chuẩn sản phẩm thích hợp có thể là, ví dụ IEC 60436 (máy rửa bát) hoặc IEC

- phương pháp lấy mẫu: bằng cách sử dụng thiết bị để ghi các số đo công suất ở các khoảng
thời gian đều đặn trong suốt thời gian đo (xem 5.3.2). Lấy mẫu là phương pháp ưu tiên của phép
đo cho tất cả các chế độ và các loại sản phẩm trong tiêu chuẩn này. Đối với các chế độ trong đó
công suất thay đổi theo chu kỳ hoặc không ổn định hoặc các chế độ có thời gian giới hạn thì lấy
mẫu là phương pháp đo duy nhất cho phép trong tiêu chuẩn này; hoặc
- phương pháp số đọc trung bình: trong trường hợp giá trị công suất là ổn định và chế độ ổn
định, bằng cách lấy trung bình các số đọc công suất của thiết bị đo trong khoảng thời gian quy
định hoặc, một cách khác, bằng cách ghi lại năng lượng tiêu thụ trong khoảng thời gian xác định
và chia cho thời gian (xem 5.3.3 để có mô tả chi tiết khi nào phương pháp này có hiệu lực); hoặc
- phương pháp lấy số đọc trực tiếp trên đồng hồ đo: trong trường hợp giá trị công suất là ổn định
và chế độ ổn định, bằng cách ghi lại số đọc công suất trên thiết bị đo (xem 5.3.4 để có mô tả chi
tiết khi nào phương pháp này có hiệu lực).
CHÚ THÍCH: Việc xác định công suất trung bình từ năng lượng tích lũy trong một khoảng thời
gian là tương đương. Bộ tích lũy năng lượng được sử dụng phổ biến hơn các chức năng lấy
trung bình công suất trong một khoảng thời gian do người vận hành xác định.
5.3.2. Phương pháp lấy mẫu
Phương pháp luận này phải được sử dụng trong trường hợp công suất không ổn định (chu kỳ
hoặc không ổn định) hoặc chế độ có thời gian giới hạn. Phương pháp này cũng đưa ra phương
pháp thử nghiệm nhanh nhất khi chế độ là ổn định. Tuy nhiên, cũng có thể sử dụng phương
pháp luận này cho tất cả các chế độ và là phương pháp tiếp cận được khuyến cáo cho tất cả
các phép đo trong tiêu chuẩn này. Nên sử dụng phương pháp này nếu có nghi ngờ liên quan đến
đáp ứng của sản phẩm hoặc độ ổn định của chế độ.
Nối sản phẩm vào nguồn công suất và thiết bị đo công suất. Chọn chế độ sản phẩm cần đo
(việc này có thể đòi hỏi một chuỗi các thao tác, kể cả việc chờ cho sản phẩm tự động vào chế độ
mong muốn) và bắt đầu ghi công suất. Số đọc công suất cùng với các tham số then chốt khác
như điện áp, dòng điện phải được ghi lại ở các khoảng thời gian bằng nhau và không quá 1 s với
giai đoạn nhỏ nhất quy định.
CHÚ THÍCH 1: Thu thập dữ liệu ở các khoảng thời gian bằng nhau bằng 0,25 s hoặc nhanh hơn
được khuyến cáo cho các tải không ổn định hoặc trong trường hợp có thăng giáng công suất đều
hoặc không đều.

- sau đó, đóng điện cho sản phẩm trong thời gian đủ để bao trùm hai giai đoạn so sánh, mỗi giai
đoạn phải bao gồm không ít hơn hai chu kỳ và có thời gian không nhỏ hơn 10 min (các giai đoạn
so sánh phải có số chu kỳ bằng nhau);
- tính công suất trung bình cho từng giai đoạn so sánh;
- tính điểm giữa trong thời gian của từng giai đoạn so sánh, tính bằng giờ;
- độ ổn định được thiết lập khi chênh lệch công suất giữa hai giai đoạn so sánh chia cho chênh
lệch thời gian của các điểm giữa của các giai đoạn so sánh có độ dốc nhỏ hơn:
● 10 mW/h, đối với các sản phẩm có công suất vào nhỏ hơn hoặc bằng 1 W; hoặc
● 1 % công suất vào đo được trong một giờ đối với các sản phẩm có công suất vào lớn hơn 1 W.
- trong trường hợp tiêu chí ổn định nêu trên không được thỏa mãn thì thêm số lượng bằng nhau
các chu kỳ bổ sung vào từng giai đoạn so sánh cho đến khi đạt được tiêu chí liên quan nêu trên;
- khi đạt được ổn định, công suất được xác định là giá trị trung bình của tất cả các số đọc từ cả
hai giai đoạn so sánh.
Trong trường hợp các chu kỳ không ổn định hoặc không đều, phải đo đủ dữ liệu để định rõ đủ
đặc điểm công suất tiêu thụ của chế độ (nên sử dụng tối thiểu 10 chu kỳ).
CHÚ THÍCH 3: Trong mọi trường hợp, công suất trong giai đoạn ghi dữ liệu cần được thể hiện ở
dạng đồ thị để hỗ trợ thiết lập giai đoạn khởi động, giai đoạn có dạng chu kỳ, giai đoạn không ổn
định và giai đoạn ổn định.
Các chế độ được biết đến là có thời gian giới hạn (dựa vào hướng dẫn sử dụng, yêu cầu kỹ
thuật hoặc phép đo) phải được ghi lại trong toàn bộ thời gian của chúng. Kết quả cho các chế độ
này phải được ghi vào báo cáo là năng lượng tiêu thụ (Wh) và thời gian cùng với công bố rằng
chế độ có thời gian giới hạn.
CHÚ THÍCH 4: Không yêu cầu sản phẩm hoạt động trong một khoảng thời gian ban đầu nhỏ
nhất trước khi các số đo dữ liệu được ghi lại khi thực hiện thử nghiệm nêu trên.
Đối với các sản phẩm trong đó một chuỗi các chế độ sản phẩm riêng rẽ xuất hiện ở dạng đều
đặn thì mức công suất cho từng chế độ phải được xác định theo điều này và lập tài liệu trình tự


và thời gian đã biết của từng chế độ theo dạng này. Xem Phụ lục B để có hướng dẫn thêm.
5.3.3. Phương pháp số đọc trung bình

lá oát.
CHÚ THÍCH 3: Ví dụ 1 - nếu thiết bị đo có độ phân giải về thời gian ví dụ là 1 s thì đòi hỏi phải có
tối thiểu 200 s (3,33 min) để lấy tích phân trên thiết bị đo này.
CHÚ THÍCH 4: Ví dụ 2 - nếu thiết bị đo có độ phân giải về năng lượng ví dụ là 0,1 mWh thì đòi
hỏi phải có tối thiểu 20 mWh để tích lũy năng lượng trên thiết bị đo này (ở tải bằng 0,1 W mất
khoảng 12 min, ở tải bằng 1 W mất khoảng 1,2 min). Lưu ý rằng các số đọc cũng như giai đoạn
ghi nhỏ nhất được quy định ở trên (10 min) cần thỏa mãn cả yêu cầu về độ phân giải thời gian và
năng lượng.
5.3.4. Phương pháp số đọc trực tiếp từ đồng hồ đo
Phương pháp số đọc trực tiếp từ đồng hồ đo chỉ có thể được sử dụng trong trường hợp chế độ
không thay đổi và số đọc công suất hiển thị trên thiết bị đo là ổn định. Phương pháp này không
được sử dụng cho mục đích chứng nhận. Trong trường hợp có nghi ngờ, bất kỳ kết quả nào sử
dụng các phương pháp ở 5.3.2 hoặc 5.3.3 đều được ưu tiên hơn các kết quả sử dụng phương


pháp này.
CHÚ THÍCH 1: Có thể rút ngắn khoảng thời gian đo bằng cách sử dụng phương pháp lấy mẫu xem 5.3.2.
Công suất tiêu thụ sử dụng phương pháp số đọc trực tiếp được đánh giá như sau:
- nối sản phẩm cần thử nghiệm vào nguồn công suất và thiết bị đo công suất rồi chọn chế độ
sản phẩm cần đo;
- cho sản phẩm hoạt động trong ít nhất 30 min. Nếu công suất được xem là ổn định thì lấy số đọc
trong phép đo công suất từ thiết bị đo. Nếu số đọc vẫn biến đổi thì kéo dài giai đoạn 30 min cho
đến khi được xem là ổn định;
- sau một khoảng thời gian không nhỏ hơn 10 min, lấy số đọc bổ sung trong phép đo công suất
và ghi lại thời gian giữa các số đọc trong phép đo công suất, tính bằng giờ;
- kết quả là trung bình của hai số đọc với điều kiện là chênh lệch công suất giữa hai số đọc chia
cho khoảng thời gian giữa hai lần đọc nhỏ hơn:
● 10 mW/h, đối với các sản phẩm có công suất vào nhỏ hơn hoặc bằng 1 W; hoặc
● 1 % công suất vào đo được trong một giờ đối với các sản phẩm có công suất vào lớn hơn 1 W.
- trong trường hợp tiêu chí liên quan nêu trên không đáp ứng thì không được sử dụng phương

hoặc bằng 10 W, phải ghi vào báo cáo tối thiểu là đến ba chữ số có nghĩa.
● độ không đảm bảo đo tính được của kết quả do thiết bị đo (Ue) (xem Phụ lục D) và kết quả có
phù hợp với 4.4.1 hay không;
● phương pháp đo được sử dụng (xem 5.3.2, 5.3.3 hoặc 5.3.4). Trong trường hợp 5.3.3, cần chỉ
ra xem sử dụng cách tiếp cận công suất trung bình hay năng lượng tích lũy;
● khoảng thời gian lấy mẫu, thời gian tổng của các phép đo và giai đoạn ổn định (5.3.2 nếu thuộc
đối tượng áp dụng);
● năng lượng tích lũy và khoảng thời gian đo (giây/phút/giờ) (5.3.3 nếu thuộc đối tượng áp
dụng);
● năng lượng và thời gian của bất kỳ chế độ có thời gian giới hạn nào. Lập tài liệu mô tả dạng
đồ thị (hoặc các dạng đồ thị) đối với chế độ tự động lặp lại theo trình tự;
● lưu ý bất kỳ liên quan đến hoạt động của sản phẩm;
● ghi lại các điều kiện môi trường xung quanh như mức độ chói trong khi đo trong trường hợp
các mức độ chói này ảnh hưởng đến số đọc công suất;
● phân loại chế độ sản phẩm đo được thành một trong các loại chế độ liên quan trong Điều 3,
hoặc chế độ khác nếu thuộc đối tượng áp dụng.
CHÚ THÍCH 1: Công suất biểu kiến (VA), hệ số công suất thực và hệ số đỉnh đều là các tham số
hữu ích và nên đưa vào báo cáo thử nghiệm. Nên thể hiện các dữ liệu thu thập được bằng cách
lấy mẫu ở dạng đồ thị.
CHÚ THÍCH 2: Khuyến cáo rằng độ không đảm bảo đo tổng của kết quả (U total) cũng cần tính
toán và ghi vào báo cáo (xem Phụ lục D).
6.4. Mô tả chi tiết thử nghiệm và phòng thử nghiệm
Các thông tin dưới đây phải được ghi lại trong báo cáo thử nghiệm:
● số hiệu/tham chiếu của báo cáo thử nghiệm
● ngày thử nghiệm
● tên và địa chỉ phòng thử nghiệm
● (các) thử nghiệm viên.

PHỤ LỤC A
(tham khảo)

phẩm; trong trường hợp này, đây được xem là chế độ ngắt điện. Việc có mặt các thành phần để
tạo điều kiện thuận lợi cho tương thích điện từ (EMC) không được xem là chức năng do người
sử dụng định hướng và không liên quan đến việc xác định chế độ sản phẩm.
Các chức năng liên quan đến lưu giữ bộ nhớ và lịch sử sử dụng, ưu tiên của người sử dụng,
v.v... không được xem là chức năng trong chế độ chờ vì các chức năng này cần được giữ lại
trong chế độ tắt, trong thời gian ngừng cấp điện và trong chế độ ngắt điện (ví dụ lưu giữ trong
bộ nhớ không thay đổi được).
Các chức năng không phải là bảo vệ và/hoặc không thể kiểm chứng (ví dụ trong hướng dẫn sử
dụng hoặc thông tin) không được xem là chức năng trong chế độ chờ.
Trong chế độ mạng, cần cẩn thận để đảm bảo rằng mạng có cấu hình đúng là sẵn có và được
nối đến sản phẩm khi thử nghiệm để đạt được phép đo chính xác về công suất tiêu thụ trong chế
độ này. Cần cẩn thận trong các chế độ này vì có thể có một số mức công suất (ví dụ công suất
có thể bị ảnh hưởng bởi tốc độ nối mạng hoặc số lượng và kiểu đấu nối mạng). Công suất tiêu
thụ cũng có thể thay đổi theo chu kỳ trong các chế độ này. Đối với mạng không dây, có thể có
sự chênh lệch trong công suất tiêu thụ giữa cơ cấu không dây đang tìm kết nối (đang nghe) và
trường hợp đấu nối mạng đã thực sự được thiết lập. Trong môi trường mạng, điều quan trọng là
cân nhắc xem năng lượng tiêu thụ của sản phẩm tiêu thụ năng lượng có thể bị ảnh hưởng bởi
thiết kế sản phẩm và tương tác của người sử dụng cũng như tương tác của mạng.
Trong hầu hết các trường hợp, năng lượng tiêu thụ trong chế độ hoạt động là phức tạp và đòi
hỏi phân tích chi tiết chu kỳ làm việc của sản phẩm cùng với sự ảnh hưởng do tương tác bất kỳ
của người sử dụng và dãy các nhiệm vụ chung. Trong nhiều trường hợp có sẵn các tiêu chuẩn
sản phẩm cụ thể đề cập đến năng lượng tiêu thụ trong chế độ hoạt động và cần được viện dẫn
trong trường hợp sẵn có. Tuy nhiên, ban kỹ thuật về sản phẩm có thể quyết định xem phương
pháp đo xác định trong Điều 5 của tiêu chuẩn này có thể áp dụng cho chế độ hoạt động có công
suất tương đối thấp và công suất tiêu thụ ổn định.
Đối với các sản phẩm xách tay có pin/acqui nạp lại được, các chế độ công suất thấp liên quan có
thể:
● có bộ nạp hoặc trạm nối/trạm gốc nối vào nguồn lưới nhưng tách rời với sản phẩm (pin/acqui
được tháo ra); và
● có bộ nạp hoặc trạm nối/trạm gốc nối vào nguồn lưới cùng với sản phẩm và được nạp đầy

● điều khiển thứ cấp tải (tự động tắt, khởi động hoặc tắt có trễ);
● bộ cảm biến như cảm biến ánh sáng, có người, nhiệt, khói, nhiệt độ, lưu lượng nước (lưu ý
rằng bộ điều nhiệt khống chế tải làm việc không được xem là một cảm biến trong trường hợp
này);
● hiển thị (có thể là chế độ, trạng thái, chương trình, điều kiện hoặc đồng hồ, v.v...);
● chức năng nhớ và định thời gian;
● bộ điều khiển điện tử, khóa và cơ cấu đóng cắt;
● chức năng mạng (có dây, không dây, hồng ngoại);
● nạp pin/acqui (trong trường hợp đây không phải chức năng chính của thiết bị);
● bộ lọc tương thích điện từ (EMC);
● cảm biến để bảo vệ sản phẩm và/hoặc người sử dụng.
Một số ví dụ về chức năng và phân loại chế độ tương ứng được trình bày trong Bảng A.1.
Việc xem xét (các) chức năng phụ như các mô đun riêng rẽ với tải chính (hoặc chức năng
chính) là hữu ích để hiểu tại sao công suất tiêu thụ có thể xuất hiện trong một số chế độ công
suất thấp. Chức năng phụ sẽ tiêu thụ một lượng nhỏ công suất trong một số cấu hình thiết kế.
Một số chức năng phụ có thể có cơ cấu đóng cắt riêng rẽ để ngắt chúng khỏi nguồn lưới ở một
số chế độ sản phẩm. Dãy các cấu hình có thể có đối với mô đun chức năng phụ được thể hiện
trên Hình A.1.
A.4. Cơ cấu đóng cắt công suất


Cơ cấu này cho phép người sử dụng kích hoạt và khử kích hoạt một chức năng chính. Cơ cấu
đóng cắt công suất thường được đặt trên sản phẩm. Một số chức năng phụ có thể duy trì hoạt
động hoặc được kích hoạt khi chức năng chính bị khử kích hoạt. Một số sản phẩm có thể có
nhiều hơn một cơ cấu đóng cắt công suất (một số cơ cấu đóng cắt có thể chỉ tác động lên các
chức năng phụ). Một số sản phẩm có thể không có cơ cấu đóng cắt. Cơ cấu đóng cắt công suất
không được phân loại là một chức năng trong tiêu chuẩn này. Cơ cấu đóng cắt công suất có
một số dạng như sau:
● cơ cấu đóng cắt công suất nguồn lưới: nguồn công suất cho chức năng chính được điều
khiến bởi cơ cấu đóng cắt điện áp nguồn lưới do người sử dụng kích hoạt. Một số chức năng

từ xa
thấp (có dây) hoặc tín
hướng
hiệu radio hoặc tín hiệu
hồng ngoại (không dây)

Chức năng từ xa phải hoạt động. Không
bao gồm cơ cấu đóng cắt điện áp nguồn
lưới có thể gắn ở xa sản phẩm. Bao gồm
các bộ điều khiển từ xa bình thường phổ
biến trên các sản phẩm tiêu dùng và một
số thiết bị (ví dụ máy sưởi).

Cơ cấu Cơ cấu đóng cắt đưa
Khác
đóng cắt sản phẩm sang một chế
bên trong độ mà không có chức
năng do người sử dụng
định hướng bên ngoài
hoạt động.

Tắt

Cơ cấu đóng cắt đặt trên sản phẩm. Làm
mất hiệu lực các cơ cấu đóng cắt từ xa và
chức năng mạng. Một số cơ cấu đóng cắt
không khử kích hoạt tất cả các chức năng
(ví dụ đồng hồ, điều khiển từ xa v.v...) chúng ở chế độ chờ.

Khóa

Cơ cấu

Xem

Cơ cấu bảo vệ ngắt nguồn công suất trong

Cơ cấu dòng rò xuống

Khác


đóng cắt đất, cơ cấu dòng dư
an toàn hoặc bộ ngắt sự cố
mạch điện với đất hoặc
bộ ngắt sự cố mạch điện
hồ quang

chú
trường hợp sự cố điện để bảo vệ người
thích 3 sử dụng hoặc sản phẩm - người sử dụng
không nhận biết được sự có mặt của cơ
cấu này.

Bộ lọc
EMC

Bộ lọc tương thích điện Khác
từ

Tắt

Chặn nước chảy ngược Khác
từ sản phẩm về nguồn
nước cung cấp (ví dụ
như máy giặt)

Tắt

Nhiều sản phẩm đòi hỏi bộ bảo vệ này và
hầu hết đây là cơ cấu cơ (không điện).
Bảo vệ người sử dụng khác nối vào nguồn
nước.

Cơ cấu
khử kích
hoạt khi
không di
chuyển

Tắt sản phẩm nếu không Khác
di chuyển trong một
khoảng thời gian xác
định (ví dụ như bàn là)

Hoạt
động

Tự động thay đổi chế độ từ hoạt động
sang tắt hoặc chờ - không phải là trạng
thái hoạt động bình thường, bảo vệ tài sản
trong trường hợp sử dụng sai (ngẫu

tắt bình thường. Tuy nhiên, chúng là các chức năng thực và có thể đòi hỏi một ít công suất. Đây
là một vấn đề có các quan điểm khác nhau và ban kỹ thuật sản phẩm cần xem xét các trường
hợp đặc biệt. Cơ cấu này bảo vệ tài sản.
CHÚ THÍCH 3: Cơ cấu đóng cắt an toàn cần được bỏ qua khi xác định loại chế độ nhưng nếu
được ghi chú trong sổ tay hướng dẫn cho người sử dụng thì có thể cần phân loại là chế độ chờ.
Cơ cấu này bảo vệ người sử dụng.
A.5. Kiểu thiết bị
Điều này trình bày theo dạng sơ đồ một số cấu hình sản phẩm phổ biến và liệu chúng có tiêu thụ


công suất hay không ở chế độ công suất thấp. Các thành phần chính trong sản phẩm ảnh
hưởng đến công suất tiêu thụ được mô tả dưới đây cùng với một số ví dụ và mô tả cho từng kiểu
(A đến G) (xem Hình A.1). Dưới đây cũng đưa ra mô tả tóm tắt từng kiểu và một số ví dụ. Các
sản phẩm ví dụ được liệt kê để minh họa các sản phẩm gia dụng điển hình có cấu hình theo
cách riêng và việc đưa chúng vào ví dụ vào không nhất thiết đã là một sự phân loại chính xác đối
với các biến thể sản phẩm có thể có.
CHÚ THÍCH: Các chữ cái ấn định cho từng kiểu thiết bị là tùy chọn.
Kiểu A: Sản phẩm không có tải chức năng phụ và không có cơ cấu đóng cắt công suất. Sản
phẩm hoạt động khi cắm phích cắm vào. Có thể có một số điều chỉnh bên trong tải (ví dụ bộ điều
nhiệt hoặc cơ cấu điều khiển nhiệt độ). Không có chế độ công suất thấp.
Vi dụ về sản phẩm kiểu A là: ấm điện (không có cơ cấu cắt tự động), một số thiết bị cỡ nhỏ dùng
cho nhà bếp, bình đun nước nóng có giữ nhiệt dùng điện và máy sưởi phòng, tủ lạnh và tủ kết
đông.
Kiểu B: Sản phẩm có cơ cấu đóng cắt công suất. Chức năng chính của sản phẩm hoạt động khi
được bật cơ cấu đóng cắt công suất bằng tay và ngừng khi tắt. Cơ cấu đóng cắt công suất có
thể là loại tự động tắt (tự động tắt khi hoàn thành công việc). Vì không có chức năng phụ nên
chế độ công suất thấp thường tiêu thụ ít công suất hoặc không tiêu thụ công suất.
Ví dụ về sản phẩm kiểu B: máy sưởi điện (không có bộ điều nhiệt), máy sấy tóc, lò nướng bánh,
ấm điện (ngắt khi sôi), một số thiết bị chính (một số máy rửa bát, máy giặt và máy sấy quần áo),
nhiều thiết bị cỡ nhỏ dùng cho nhà bếp, bếp và một số lò.


dùng cho nhà bếp, sản phẩm bất kỳ thường được nối đến nguồn lưới qua một nguồn công suất
bên ngoài.
Kiểu G: Sản phẩm có nguồn công suất bên ngoài cung cấp điện cho sản phẩm chủ yếu dùng để
nạp pin/acqui. Chức năng chính của sản phẩm thường được thực hiện với bộ phận chính của
sản phẩm được ngắt khỏi nguồn công suất (sản phẩm hoạt động bằng pin/acqui và sản phẩm di
động) nhưng một số sản phẩm cũng có thể được sử dụng với nguồn công suất được nối vào.
Nguồn cung cấp thường là điện áp cực thấp (
Để thực hiện các phép đo theo tiêu chuẩn này, điều quan trọng là sử dụng đồng hồ đo công suất
cho số đọc “ngoài dải” nếu dòng điện đỉnh trong dải đó bị vượt quá. Đối với các chế độ công
suất thấp, dạng sóng dòng điện thường có hệ số đỉnh trong dải từ 3 đến 10, đôi khi có thể lớn
hơn và do đó, điều quan trọng là phải kiểm chứng được rằng bộ chỉ thị “ngoài dải” bất kỳ không
tác động.
Đối với các tải có hệ số đỉnh rất cao và/hoặc hệ số công suất rất thấp, điều 4.4.1 sửa đổi độ
không đảm bảo đo yêu cầu vì thừa nhận có sự khó khăn về mặt kỹ thuật trong việc đọc các loại
tải này, ngay cả với đồng hồ đo có độ chính xác cao. Một ví dụ về tính toán để xác định độ không
đảm bảo đo Upc ở 4.4.1 được thể hiện dưới đây:
Tính toán ví dụ về độ không đảm bảo đo yêu cầu đối với sản phẩm giả định:
- công suất tiêu thụ bởi sản phẩm = 0,2 W
- Umr = 0,020 W đối với tải < 1 W (xem 4.4.1)
- hệ số công suất (PF) = 0,12
- hệ số dòng điện đỉnh của sản phẩm (CF) = 13
tỷ số dòng điện lớn nhất (MCR) = CF / PF = 13/0,12 = 108,3


Trong trường hợp tỷ số dòng điện lớn nhất (MCR) vượt quá 10, giá trị U pc được cho là:
Upc = 2 % x (1 + (0,08 x (108,3 - 10))) = 2 % x 8,86 = 17,7 %
(tức là khoảng 8 lần độ không đảm bảo đo tương đối cho phép)
Độ không đảm bảo đo tuyệt đối đối với tải này là giá trị lớn hơn của U pc x giá trị đo được hoặc
0,02 W:
Upc x giá trị đo được = 17,7 % x 0,02 W = 0,0354 W
Vì 0,0354 W lớn hơn 0,02 W nên độ không đảm bảo đo cho phép là 0,0354 W.
CHÚ THÍCH: Cách tính chi tiết hơn về độ không đảm bảo đo được nêu trong Phụ lục D.
B.1.3. Ảnh hưởng của hệ số công suất thấp
Tải hệ số công suất thấp có thể làm tăng độ không đảm bảo đo theo một vài cách. Tải có hệ số
công suất thấp sẽ có công suất biểu kiến tính được (tính bằng VA) cao hơn nhiều so với công
suất thực (tính bằng W). Để đo chính xác dòng điện lớn hơn tương đối này mà không gây ra tình
trạng “ngoài dải” có thể đòi hỏi phải chọn dải dòng điện cao hơn trên thiết bị đo nhưng vì công

băng sao cho tất cả các mẫu được tính đến khi cung cấp kết quả đo được;


- khả năng tạo tín hiệu báo xuất hiện tình trạng ngoài dải;
- khả năng tắt chức năng tự động thay đổi dải đo.
CHÚ THÍCH: Khi đo tải không thuần trở, thay đổi theo thời gian thì có thể cần tắt chức năng tự
động thay đổi dải để ngăn ngừa tình trạng ngoài dải đo hoặc thay đổi dải đo trong khi thử
nghiệm.
Khi xem xét việc mua thiết bị đo công suất, cần xem xét ảnh hưởng của các tham số khác nhau
lên độ không đảm bảo đo tổng. Ngoài độ không đảm bảo đo điện áp, dòng điện và công suất, các
hệ số như hệ số công suất và hệ số đỉnh có thể ảnh hưởng đến độ không đảm bảo đo tổng của
số đọc trên thiết bị đo. Một số tải có thể có hệ số công suất thấp bằng 0,05 và hệ số đỉnh cao
bằng 10 (hoặc lớn hơn đối với các tải điện dung nhỏ).
Trong tiêu chuẩn này, các sản phẩm được đo trong khoảng thời gian xác định để xác định công
suất tiêu thụ của chúng và liệu công suất tiêu thụ này có thay đổi theo thời gian hay không. Do
đó, quan trọng là thiết bị đo công suất bất kỳ cung cấp cơ sở nhất quán để xác định công suất
theo thời gian. Sự biến thiên của số đo công suất theo thời gian của thiết bị đo công suất cần
được xem xét khi chọn đồng hồ đo công suất. Để định hướng, cần đạt được sự biến thiên của
phép đo công suất nhỏ hơn 0,1 % trong khoảng thời gian 8 h khi thử nghiệm với nguồn tài đã
hiệu chuẩn khoảng 1 W. Điều quan trọng là phải theo hướng dẫn của nhà chế tạo về thời gian
khởi động và thời gian làm nóng thiết bị đo (nguồn công suất và thiết bị đo) trước khi sử dụng
chúng để đo.
Độ phân giải của thiết bị đo công suất có thể có ảnh hưởng đáng kể đến độ không đảm bảo đo
tổng của phép đo công suất nếu thiết bị có độ phân giải không đủ để ghi lại kết quả một cách
chính xác. Độ phân giải sẵn có cần tốt hơn nhiều so với độ không đảm bảo đo tổng của phép đo
công suất nếu muốn giảm thiểu ảnh hưởng lên độ không đảm bảo đo tổng.
Khả năng mong muốn nhất đối với đồng hồ đo công suất là khả năng lấy mẫu số đọc trong thời
gian 1 s hoặc nhanh hơn và xuất ra dữ liệu này đến máy tính hoặc bộ ghi dữ liệu theo thời gian
thực. Tất cả các tham số liên quan cần được xuất ra song song (ví dụ, điện áp, dòng điện, công
suất, VA, hệ số đỉnh). Xem B.2.5. Trong một số trường hợp, cũng có thể là rất tốt nếu như thiết bị

cao hơn hoặc thấp hơn trong một khoảng thời gian ngắn. Một số sản phẩm có thể tạo xung công
suất ở các khoảng thời gian không đều đặn. Trong trường hợp này, điều quan trọng là hiểu được
đáp ứng của sản phẩm trước khi bắt đầu phép đo. Trong trường hợp có chu kỳ “đều đặn" của
trạng thái năng lượng khác nhau thì cần kiểm tra toàn bộ số lượng chu kỳ khi xác định công suất
trung bình. Để hiểu đúng hơn về đáp ứng của sản phẩm thì việc kiểm tra profin tải bằng máy hiện
sóng được cài đặt để tác động khi có sự thay đổi đáng kể của tải là hữu ích.
Một số sản phẩm có thể thể hiện một chuỗi các chế độ sản phẩm khác nhau tự động xuất hiện
ở dạng đều đặn. Trong những trường hợp này, mỗi một chế độ sản phẩm riêng rẽ cần được
xác định, đo và lập tài liệu về thời gian của chúng một cách riêng rẽ.
Trong một số trường hợp, có thể yêu cầu phán đoán để xác định xem một chế độ sản phẩm
đơn lẻ thể hiện dạng công suất chu kỳ hoặc sản phẩm trên thực tế có chuỗi các chế độ sản
phẩm khác nhau xuất hiện trong dạng đều đặn hay không. Yếu tố xác định then chốt xem liệu có
các chức năng khác nhau trở nên hoạt động hoặc mất hoạt động trong các mức công suất khác
nhau hay không - nếu điều này xảy ra thì các chức năng này cần được xử lý như các chế độ
sản phẩm riêng rẽ.
Hướng dẫn chung là tải chu kỳ trong một chế độ thường thay đổi các mức công suất trong vài
giây hoặc có thể là vài phút trong một giai đoạn khoảng vài giây đến vài chục phút, trong khi đó,
dạng của các chế độ thường thay đổi trạng thái công suất trong vài phút hoặc vào giờ trong giai
đoạn khoảng từ vài giờ đến vài ngày. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng dễ dàng cho bên thứ
ba để phân biệt các trường hợp này mà không có tài liệu sản phẩm khác.
Ví dụ về các dạng công suất chu kỳ trong một chế độ sản phẩm gồm
- bộ gia nhiệt hoạt động theo chu kỳ để duy trì điều kiện làm việc; và
- tạo công suất ngắn hạn yêu cầu để nạp lại tụ điện để duy trì các chức năng bên trong phạm vi
một trạng thái làm việc cụ thể.
Ví dụ về sản phẩm thể hiện một chuỗi các chế độ là sản phẩm có chế độ công suất thấp hầu
như mọi lúc, hoạt động một hoặc hai lần một ngày trong thời gian ngắn (ví dụ, khoảng 2 min đến
30 min) để nối vào mạng để tải thông tin hoạt động. Trong trường hợp này, sản phẩm rõ ràng là
vào một chế độ thời gian giới hạn khác vì nó đã kích hoạt các chức năng liên quan đến mạng
mà không xuất hiện trong chế độ công suất thấp.
Vì những lý do nêu trên mà thiết bị đo cần cung cấp dữ liệu đầu ra cho máy tính, như mô tả ở

ứng của chúng và cách chúng ghép nối với thiết bị ghi hoặc máy tính. Đặc biệt có một vấn đề
thường gặp liên quan đến việc sử dụng máy phân tích công suất digital khi chúng được điều
khiển từ bên ngoài. Đối với nhiều loại, một khi giao diện bên ngoài với bộ ghi dữ liệu hoặc máy
tính được ghép/hoạt động và bắt đầu thu thập dữ liệu thì chức năng tự động lấy dải thường
được làm mất hiệu lực. Điều này có nghĩa là kỹ thuật viên phòng thử nghiệm cần đoán trước dải
công suất có thể có và hệ số đỉnh yêu cầu trong thời gian theo dõi và đặt bằng tay đồng hồ đo
vào đúng dải trước khi ghi dữ liệu (đối với cả công suất và dòng điện). Do đó, nên chạy thử để
đặt đồng hồ đo đúng (để tránh số đọc ngoài dải). Phần mềm tự động bất kỳ cũng nên phát hiện
và chỉ thị/ghi lại trong trường hợp đồng hồ đo công suất ở tình trạng “ngoài dải”, xem B.1.2 đến
B.1.4 để có thêm thông tin.
B.3. Áp dụng tiêu chuẩn này
Tiêu chuẩn này quy định các thử nghiệm cần thực hiện trên một sản phẩm đơn lẻ để đánh giá
chế độ công suất thấp liên quan. Tiêu chuẩn này không cung cấp bất kỳ chỉ dẫn nào cho tính
biến thiên của sản xuất mà việc này đòi hỏi lấy mẫu cụ thể cho một dải sản phẩm. Với mục đích
phù hợp và đánh giá sự phù hợp, cần xây dựng kế hoạch lấy mẫu đúng đắn.
B.4. Nối các thiết bị đo điện
B.4.1. Xác định bố trí kết nối
Để đạt được đủ độ chính xác và giảm thiểu sự khác nhau giữa các phòng thí nghiệm, điều quan
trọng là thiết bị đo điện được nối theo cách nhất quán. Điện trở vào của mạch đo điện áp của
đồng hồ đo công suất phải xác định và điện trở của sun đo dòng điện không được bằng zero: các
yếu tố này cần được tính đến để đạt mức chính xác yêu cầu. Do đó, nên bố trí các thành phần
đo điện áp và dòng điện của đồng hồ đo công suất theo cách giảm thiểu ảnh hưởng của công
suất tiêu thụ bên trong của thiết bị đo đối với từng phép đo. Vônmet cần được nối với phía nguồn
(xem B.4.2) đối với các công suất thấp hơn và về phía tải (xem B.4.3) đối với các công suất cao
hơn.
Trong trường hợp bố trí đấu nối có thể được định hình thì chọn như sau:
Công suất thấp hơn: lm

Vs


- điện trở sun dòng điện = 350 m (0,350 ) (cần cẩn thận để đảm bảo rằng sun dòng điện
không bị quá tải (và đồng hồ đo không ở tình trạng “ngoài dải”), đặc biệt là với các sản phẩm có
hệ số đỉnh cao và/hoặc hệ số công suất thấp)
- điện trở đầu vào điện áp 1,4 M

(1 400 000

)

- dòng điện đo được = 0,0867 A
Dòng điện điểm gấp khúc đối với phép đo điện áp phía nguồn được cho bởi:
Vs

1
Ra Rv

230

1
0,350 1400000

230 0,00143

0,329 A

Vậy trong trường hợp này, vônmet cần được nối với phía nguồn (xem B.4.2) vì dòng điện tải nhỏ
hơn giá trị tính được. Đối với ví dụ này tải chuyển đổi xấp xỉ 37 W (đối với hệ số công suất và
sun dòng điện này), lớn hơn giá trị này thì cần sử dụng cấu hình công suất cao hơn ở B.4.3 (đo
điện áp ở phía tải).
B.4.2. Tải công suất thấp hơn: đo điện áp phía nguồn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status