Chính sách an sinh xã hội đối với lao động và việc làm ở Việt Nam hiện nay - Pdf 60

Số 26 (51) - Tháng 03/2017

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN

Chính sách an sinh xã hội
đối với lao động và việc làm ở Việt Nam hiện nay
Social security policy for labor and employment in Vietnam today
Nguyễn Tiến Nghị
Trường Đại học Điện lực Việt Nam
Nguyen Tien Nghi
Electric Power University, vietnam

Tóm tắt
Bài báo làm rõ q trình thể chế hóa, thực trạng chính sách an sinh xã hội đối với lao động và việc làm
ở Việt Nam hiện nay. Từ đó, đưa ra một số kiến nghị trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội
trong thời gian tới. Bằng phương pháp nghiên cứu phân tích, so sánh, đối chiếu, thống kê… Bài viết đã
nêu được một số kết quả nhất định trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với lao động và
việc làm đồng thời nêu lên những vướng mắc cần khắc phục trong thời gian tới.
Từ khóa: an sinh xã hội, lao động, việc làm, chính sách.
Abstract
The report’s contents focuses on clarifying process off the institutionalization, the reality social security
policy for labor and employment in Vietnam today. Since then, launched a number of recommendation
of social welfare policies in the near future. By means of analysis, comparison and collation, the
statistics, the article mentioned a certain number of results in the implementation of social welfare
policies for labor an employment, indicated problems need to be fixed in the near future.
Keywords: social security, labor, employment, policy.

Trải qua hơn 30 năm thực hiện cơng
cuộc cải cách, đổi mới và hội nhập sâu
rộng với nền kinh tế thế giới, bên cạnh
những thành tựu to lớn mọi mặt mà nền

khủng hoảng hiện nay. Song hành cùng
chính sách an sinh xã hội, hệ thống an sinh
xã hội ở Việt Nam cũng được hình thành
và phát triển ngày càng hoàn thiện.
Cho đến nay, Việt Nam chưa có một
hệ thống an sinh xã hội hoàn chỉnh. Tuy
nhiên, Nhà nước đã ban hành trên 50 loại
chính sách về an sinh xã hội (do ngành Lao
động – Thương binh và xã hội quản lý) liên
quan đến lao động và việc làm, từng bước
phù hợp với nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc
tế. Các chính sách này được phân loại theo
các trụ cột của hệ thống an sinh xã hội mà
Việt Nam theo đuổi, bao gồm:
1.1. Chính sách về thị trường lao động
và việc làm bảo đảm thu nhập tối thiểu và
giảm nghèo
Thời gian qua, chính sách về thị
trường lao động và việc làm bảo đảm thu
nhập tối thiểu và giảm nghèo là một trong
những trụ cột cơ bản của hệ thống an sinh
xã hội ở Việt Nam. Hệ thống này hiện nay
được xây dựng và ban hành tương đối đồng
bộ, phù hợp với kinh tế thị trường và yêu
cầu hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là sau
khi chúng ta gia nhập Tổ chức thương mại
quốc tế (WTO).
Trong chính sách này, hướng cơ bản
nhất là phát triển sản xuất, tạo thêm nhiều

mạnh mẽ. Bên cạnh đó, nhằm nâng cao
hiệu quả của thành phần doanh nghiệp nhà
nước, Việt Nam đã tiến hành sắp xếp, đổi
mới các doanh nghiệp nhà nước, chủ yếu
theo hướng cổ phần hóa, thành lập các tập
đoàn kinh tế nhà nước hoạt động đa ngành,
đa lĩnh vực, xây dựng các khu công nghiệp,
khu chế xuất,… Do đó, tạo nhiều cơ hội
việc làm có thu nhập ổn định thông qua
dạy nghề, vay vốn tiếp cận thông tin thị
trường lao động tư vấn việc làm và từ
doanh nghiệp để có việc làm là giải pháp
an toàn tạo thu nhập hiệu quả nhất. Có thể
coi đây là những chính sách quan trọng,
quyết định đối với tạo việc làm cho lao
động xã hội đảm bảo thu nhập tối thiểu và
giảm nghèo.
Ngoài việc ban hành các chính sách,
luật pháp, Nhà nước rất coi trọng xây dựng
94


NGUYỄN TIẾN NGHỊ

và thực hiện các chương trình mục tiêu để
tập trung nguồn lực giải quyết các vấn đề
bức xúc nhất về thị trường lao động và việc
làm bảo đảm thu nhập tối thiểu và giảm
nghèo như: Chương trình mục tiêu quốc
gia về việc làm và dạy nghề (giai đoạn

nghiệp, nghiên cứu thí điểm chính sách bảo
hiểm xã hội bổ xung đối với nhóm lao
động có thu nhập cao hơn trong nhóm
ngành nghề nhất định nhằm tăng cường

khả năng tự an sinh), bảo hiểm y tế bắt
buộc. Mặt khác, chính sách bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế là một bộ phận quan
trọng của của chính sách xã hội, giúp Nhà
nước điều tiết mối quan hệ giữa chính sách
kinh tế và xã hội trên phương diện vĩ mô
đảm bảo cho nền kinh tế liên tục phát triển
và giữ gìn ổn định xã hội trong từng thời
kỳ cũng như trong suốt quá trình.
Để tổ chức thực hiện, Nhà nước đã ban
hành nhiều chính sách về bảo hiểm xã hội,
bảo hiểm y tế được quy đinh tại các văn
bản luật như: Luật bảo hiểm xã hội, nghị
định 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006
của Chính phủ hướng dẫn một số điều của
Luật bảo hiễm xã hội bắt buộc và Thông tư
số 03/2007/TT-LĐTBXH ngày 30/01/2007
của Bộ lao động - Thương binh và Xã hội
hướng dẫn thực hiện một số điều của nghị
định số 152/2006/NĐ-CP; Nghị định số
190/2007/NĐ-CP ngày 28/12/2007 của
Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật
bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội tự
nguyện. Mặc dù các văn bản ban hành có
giá trị pháp lý khác nhau song đều tập

nguyện và bảo hiểm y tế bắt buộc. Nội
dung quy đinh về đối tượng tham gia bảo
hiểm y tế, về mức đóng bảo hiểm y tế, về
chế độ và phương thức chi trả, về quản lý
và sử dụng quỹ bảo hiểm y tế…
1.3. Chính sách về ưu đãi, trợ giúp
xã hội
Đối với chính sách ưu đãi xã hội
Chính sách ưu đãi xã hội là một chính
sách đặc thù trong hệ thống chính sách an
sinh xã hội của Việt Nam hiện nay. Đây là
chính sách đãi ngộ về vật chất, tinh thần
đối với những người có công với nước, với
dân, với cách mạng nhằm ghi nhận những
công lao đóng góp, hy sinh cao cả của họ là
bộ phận căn cốt của nền an sinnh xã hội,
đồng thời thể hiện truyền thống đạo lý
“Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt
Nam. Nội dung cơ bản của chính sách
được thể hiện chủ yếu trong Pháp lệnh ưu
đãi người có công với cách mạng số
26/2005/PL-UBTVQH11, ngày 29/06/2005;
Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 ngày
16/07/2012 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội khóa XII về việc sửa đổi, bổ sung một
số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công
với cách mạng; Nghị định số
101/2013/NĐ-CP, ngày 04/09/2013 của
Chính phủ quy định mức trợ cấp ưu đãi đối
với người có công với cách mạng. Chính

pháp lệnh người cao tuổi năm 2000); Luật
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm
2004, Nghị định 61/2015/NĐ-CP của
Chính phủ quy định về chính sách hỗ trợ
tạo việc làm và Quỹ quốc gia về việc
làm… Các chính sách trên được nhân dân
đồng tình, đang đi vào cuộc sống, tạo
nhiều cơ hội việc làm, thu nhập cao và ổn
định, là giải pháp quan trọng trong xóa đói
giảm nghèo, bảo đảm việc làm, hiệu quả
và bền vững, ổn định xã hội.
2. Kết quả đạt được và hạn chế
2.1. Kết quả đạt được
Về thị trường lao động và việc làm
Quy mô dạy nghề ở Việt Nam trong
96


NGUYỄN TIẾN NGHỊ

những năm trở lại đây tăng nhanh, cơ cấu
trình độ chuyển mạnh sang dạy nghề dài
hạn (Trung cấp nghề, Cao đẳng nghề).
Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của
Tổng cục thống kê năm 2015 cả nước có
1.467 cơ sở dạy nghề, 190 trường cao đẳng
nghề, 280 trường trung cấp nghề, 997 trung
tâm dạy nghề. Sau 5 năm thực hiện Chiến
lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011 2020 đã dạy nghề cho 9,2 triệu lượt người
được đào tạo nghề, đạt 95,6% mục tiêu đề

là 10,3 triệu người. Đặc biệt, số người tham

gia bảo hiểm y tế là 70 triệu, chiếm 77%
dân số, tăng 8,3% so với năm 2014.
Về ưu đãi, trợ giúp xã hội
Trong những năm trở lại đây, chính
sách ưu đãi xã hội, trợ giúp xã hội của Việt
Nam không ngừng mở rộng, bao phủ hầu
hết các nhóm đối tượng từ trẻ sơ sinh đến
người già; hỗ trợ không chỉ người nghèo
mà còn mở rộng phạm vi sang các đối
tượng khác. Nguồn lực thực hiện nhóm
chính sách này được đa dạng, kết hợp ngân
sách trung ương, địa phương và của xã hội.
Các hình thức ưu đãi, trợ giúp ngày càng
đa dạng, bao gồm tiền mặt hàng tháng, tiền
nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội;
hỗ trợ về y tế, giáo dục, nhà ở, nước
sạch,… Tính đến năm 2015, cả nước có
gần 2,7 triệu đối tượng hưởng trợ cấp xã
hội hàng tháng tại cộng đồng (xấp xỉ 3%
dân số; cả nước có 408 cở sở trợ giúp xã
hội được thành lập, đã tiếp nhận, nuôi
dưỡng, chăm sóc cho hơn 41.450 đối tượng
bảo trợ xã hội. Theo báo cáo sơ bộ, tổng
kinh phí dành cho hoạt động ưu đãi và trợ
giúp xã hội trong năm 2015 là 3967 tỷ
đồng, bao gồm: 2179 tỷ đồng quà thăm hỏi
và hỗ trợ các đối tượng chính sách; 1021 tỷ
đồng hỗ trợ các hộ nghèo và 767 tỷ đồng

dụng lao động; nội dung thông tin giới
thiệu việc làm chưa phong phú; hệ thống
chỉ tiêu về thị trường lao động chưa đầy
đủ, cơ sở dữ liệu về thị trường lao động
chưa cập nhật kịp thời; theo dõi, giám sát,
nắm bắt biến động thị trường lao động
chưa thường xuyên
Hệ thống các trung tâm dịch vụ việc
làm chưa thống nhất giữa các Bộ, ngành và
địa phương. Thực hiện chính sách hỗ trợ
lao động bị mất việc làm do biến động của
xã hội chưa cao, chưa thỏa đáng. Một số
các quy định còn hạn chế khả năng tiếp cận
việc làm của lao động còn nhiều vướng
mắc chưa thông thoáng.
Thách thức từ các rủi ro về kinh tế, già
hóa dân số
Trong quá trình đổi mới kinh tế, nhiều
vấn đề an sinh xã hội bức xúc, mới phát
sinh chưa được giải đáp kịp thời một cách
toàn diện cả về lý luận lẫn thực tiễn. Hệ
thống chính sách, pháp luật về an sinh xã
hội theo mô hình hiện nay không bắt kịp
với đòi hỏi đặt ra của nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và xu hướng
hội nhập kinh tế quốc tế. Bên cạnh xu
hướng phát triển thì các nguy cơ, rủi ro
kinh tế và xã hội ngà càng có xu hướng gia
tăng. Là nước đang phát triển Việt Nam lại
có đặc điểm địa – tự nhiên, địa – kinh tế

tuổi, tỷ lệ người cao tuổi ở Việt Nam sẽ là
16% vào năm 2020 và còn tiếp tục gia tăng
vào những năm tiếp theo. Hiện nay, theo
thống kê của Bộ Lao động Thương binh và
Xã hội số người được bảo hiểm xã hội chi
trả lương hưu tăng dần, nếu vào năm 2005
cả nước có 1,43 triệu người thì đến năm
2015 cả nước 4,154 triệu người cao tuổi
đang được lĩnh lương hưu và trợ cấp. Đây là
vấn đề đòi hỏi hệ thống chính sách an sinh
xã hội cần quan tâm giải quyết.
Tóm lại, mặc dù đã đạt được một số
98


NGUYỄN TIẾN NGHỊ

thành tựu nhất định. Tuy nhiên, hiện nay
những chính sách an sinh xã hội về lao
động và việc làm ở Việt Nam còn không ít
những hạn chế và bất cập; trong đó hạn chế
trước hết là chưa bảo đảm thực hiện (bao
phủ) được tất cả các đối tượng cần bảo
hiểm và trợ giúp. Thêm vào đó, chính sách
an sinh xã hội đối với lao động và việc làm
cũng còn khiêm tốn đối với một quốc gia
đang phát triển, nói cách khác là đang ở
mức thấp so với nhu cầu thực tiễn của xã
hội trong việc thực hiện chính sách an sinh
xã hội.

sách trợ giúp xã hội.
Thứ hai, đẩy mạnh các chương trình
phát triển kinh tế - xã hội gắn với mở rộng
việc làm đáp ứng phát triển bền vững. Cần
tập trung mọi nguồn lực cho phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao và có trình
độ. Tạo bước đột phá về dạy nghề gắn với
nhu cầu của nền kinh tế, của xã hội, nhu
cầu việc là của lao động nâng cao chất
lượng đào tạo nghề nhằm tạo cơ hội cho
mọi người tự tạo việc làm và tìm việc làm
trên thị trường lao động. Đặc biệt, mở rộng
quy mô dạy nghề cho lao động ở nông
thôn, phục vụ có hiệu quả cho chuyển dịch
cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn
tạo nhiều việc làm có thu nhập cao, cải
thiện đời sống cho người lao động, đảm
bảo an sinh xã hội.
Bảo đảm tạo đủ việc làm, việc làm bền
vững, có chất lượng và thu nhập cao cho
người lao động, đẩy mạnh chuyển dịch cơ
cấu lao động nông thôn theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập, nhất
là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn.
Phát triển thị trường lao động đồng đều
giữa các vùng kết nối cung - cầu lao động;
tăng lao động làm công ăn lương. Phát triển
hệ thống thông tin, phân tích và dự báo thị
trường lao động áp dụng công nghệ thông

như vậy mới thực hiện được mục tiêu quốc
gia giảm nghèo bền vững và đảm bảo sinh
kế lâu dài cho nhân dân.
Thứ tư, trực tiếp sử dụng chính sách an
sinh xã hội để giải quyết các vấn đề xã hội.
Thực hiện giải pháp này cần nghiên cứu,
sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội theo hướng
mở rộng đối tượng, bảo hiểm xã hội. Hoàn
thiện chính sách, pháp luật và cơ chế quản
lý Quỹ bảo hiểm xã hội để bảo đảm yêu cầu
cân đối và tăng trưởng của Quỹ bảo hiểm xã
hội. Nghiên cứu xây dựng chính sách
khuyến khích nông dân, lao động trong khu
vực phi chính thức tham gia bảo hiểm xã
hội tự nguyện. Rà soát, bổ sung quy định
buộc người sử dụng lao động phải đóng bảo
hiểm xã hội cho người lao động theo quy
định của pháp luật.
Nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp xã
hội, tiếp tục mở rộng đối tượng thụ hưởng
với hình thức hỗ trợ thích hợp; nâng dần
mức trợ cấp xã hội thường xuyên phù hợp
với khả năng ngân sách nhà nước. Xây
dựng mức sống tối thiểu phù hợp với điều
kiện kinh tế - xã hội làm căn cứ xác định
người thuộc diện được hưởng trợ giúp xã
hội. Tiếp tục hoàn thiện chính sách trợ giúp

xã hội. Củng cố, nâng cấp hệ thống cơ sở
bảo trợ xã hội, phát triển mô hình chăm sóc

Tóm lại, thực hiện chính sách an sinh
xã hội đối với lao động và việc làm là
chương trình hoạt động trọng tâm của xã
hội hiện đại vì mục dân chủ, giàu mạnh,
văn minh. Giải quyết đúng đắn, có hiệu
quả chính sách an sinh xã hội chính là thực
hiện đầy đủ quyền bình đẳng, quyền “được
sống và mưu cầu hạnh phúc” như chủ tịch
Hồ Chí Minh từng dạy, làm cơ sở cho sự
100


NGUYỄN TIẾN NGHỊ

phát triển bền vững của đất nước trong
tương lai.

Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Văn Chiều (2014), Chính sách ASXH
và vai trò của nhà nước trong việc đảm bảo
ASXH ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội.

5. Nguyễn Văn Định (2004), “Vấn đề ASXH ở
Việt Nam: Thực trạng và các giải pháp phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status