Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. - Pdf 60

Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm
I
Sinh chẳng gặp thuở Đường Ngu
Cái tin vua Lê Tương Dực bị tướng Trịnh Duy Sản giết chết đã được loan truyền đi nhanh
chóng khắp các phường phố kinh kỳ. Bởi vì đó nào phải là việc bí mật gì trong cung cấm. Nó đã
xảy ra một cách công khai, đang lúc ban ngày ban mặt, ngay giữa đường phố, có thể nói là hả hê
của thiên hạ.
Hơn thế nữa, đối với người thạo tin tức -mà ở cái đất kinh kỳ này thời nào chả có loại người
như vậy - thì điều này hầu như người ta đã chờ đợi từ mấy hôm nay như là một câu chuyện thế
tất sẽ xảy ra, chỉ ngày một ngày hai.
Trịnh Duy Sản là ai? Có thể nói đấy là một tướng mạnh, một cánh tay đắc lực của nhà vua
trong việc đàn áp các cuộc "nổi loạn" đang dấy lên liên tiếp khắp nơi từ Nghệ An, Thanh Hóa đến
Kinh Bắc, Hải Dương, đặc biệt là vụ "phản nghịch" của Trần Tuân ở Sơn Tây hồi tháng 11 năm
Tân Mùi, Hồng Thuận thứ 3 (1511). Hồi ấy thế "giặc" rất mạnh. Chúng đã tiến sát
kinh thành. Nhiều cánh quân lớn do nhà vua phái đi ứng chiến liên tiếp bị đánh bại. Dân chúng
hoảng loạn. Nhà vua đã phải chuẩn bị thuyền bè để chạy vào Thanh Hóa. ấy thế mà Trịnh Duy
Sản, lúc ấy chỉ còn lại trong tay vỏn vẹn hơn ba chục thủ hạ, đã xé áo làm hiệu, thề đánh đến
cùng, đang khi xuất kỳ bất ý, xông thẳng vào trại địch, đâm chết tươi tướng giặc Trần Tuân, làm
cho quân địch như rắn mất đầu, bị quan quân triều đình quay lại dồn
đ

uổi tan tác. Nhờ có chiến công xuất sắc này,
ô

ng ta được nhà vua phong đến tước Nguyên
quận công, thế lực không phải là nhỏ.
Nhưng mặt khác, cũng chính trong những cuộc đánh dẹp vất vả liên miên này, ông ta đã thấy
rõ nguy cơ sụp đổ ngai vàng treo ngay trước mắt, nếu nhà vua không mau mau tỉnh ngộ, bỏ bớt
thói xa xỉ ăn chơi, đặc biệt là trong việc xây dựng đại điện và đài cửu trùng hết sức tốn kém, giữa
lúc muôn dân đang rên xiết trong cảnh đói nghèo cùng cực. Oán hận đã chất cao như núi. Mà một
khi ngai vàng sụp đổ thì bao nhiêu công lao đánh dẹp sẽ trở thành công cốc, hơn thế nữa sẽ trở

thành, thế mạnh như nước vỡ bờ. Nguyễn Hoằng Dụ, vị tướng đáng gờm nhất của ông và của
Trịnh Duy Sản cũng đã dời cả hành dinh sang bến Bồ Đề. Kinh thành hầu như bỏ ngỏ. Thế là hai
người quyết định khởi sự.
Thuyền bè, khí giới được gấp rút sửa soạn. Trên dưới 3000 quân còn lại của các vệ Kim Ngô
và Hộ Vệ được điều về đóng chật cả vùng bến Thái Cực
(1)
, nói phao lên là để sẵn sàng ứng viện
cho đại quân đánh Trần Cao. Nhưng vào khoảng canh hai đêm mồng 6 tháng 4 bất thình lình cánh
quân ấy đột nhập vào thành qua cửa Bắc Thần.
Nhà vua vẫn chẳng hay biết gì cả, còn đương túy lúy với bữa tiệc rượu kéo dài suốt từ chiều
đến giờ, giữa đám cung tần mỹ nữ. Bỗng gã thừa chỉ Nguyễn Vũ hớt hơ hớt hải từ đâu chạy xộc
tới, mặt tái mét tưởng chừng như cắt không còn giọt máu:
- Tâu bệ hạ, dễ chừng có biến. Một cánh quân lạ đã lọt vào thành.
- Quân nào?
- ...
Lâu nay hầu như suốt ngày đêm gã thừa chỉ này vẫn ăn dầm nằm dề trong nội điện để uống
rượu và đánh bạc. Y vốn là một tên văn dốt vũ dát vô tích sự không hơn không kém. Nhưng sẵn
đầu óc phiêu lưu, thừa dịp Giản Tu Công Lê Oanh ở Thanh Hóa đang chiêu binh mãi mã để làm
thanh thế áp đảo vua Lê Uy Mục thì y tìm đến ứng nghĩa ngay. Vì vậy mà khi vị hoàng thân này trở
thành vua Lê Tương Dực thì y nghiễm nhiên được đứng vào hàng công thần số một. Con đường
danh vọng bẩn thỉu đã mở rộng trước mắt y. Khoa thi Hội Giáp Tuất (1514), mặc dầu đã bị loại vì
văn thể lủng củng, y vẫn được nhà vua ban đặc ân cho thi lại để lấy đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất
thân. Rồi chỉ vài năm sau y nhảy lên chức Hình bộ
thượng thư kiêm Bảo thiên điện Đông các đại học sĩ, Hàn lâm viện thừa chỉ nhập thị kinh diên,
được phép ra vào tự do nơi nội điện. Mọi người đều khinh ghét y, y cũng biết rõ điều đó. Cho nên
số phận của y trong lúc nguy cấp này không thể tách rời số phận của nhà vua. Và nhà vua cũng tự
biết còn có một gã vô lại ấy là có thể tin cậy được.
Thế là suốt đêm hai thầy trò dắt díu nhau lẩn trốn như chuột, cho mãi đến tờ mờ sáng hôm sau
mới dám mò ra cửa Bảo Chánh. Nhưng vừa đi tắt qua cửa nhà Thái Học, đến hồ Chu Tước thì họ
đụng ngay phải Trịnh Duy Sản. Vẫn chưa hay biết chuyện gì, nhà vua còn quát hỏi: "Giặc ở

ng vua mười bốn tuổi được các phe phái Trịnh
Duy Sản cùng Lê Nghĩa Chiêu và nhiều người trong đám huân cựu tông thất đại thần tạm thời
thỏa hiệp với nhau, phò tá lên ngôi, nhưng tình hình đã rối loạn đến mức chính những người này
cũng phải lật đật rước vua về Tây Đô nốt để còn mưu việc dấy quân ra chiếm lại kinh thành đã để
lọt vào tay Trần Cao.
Thật chẳng còn ra thể thống gì nữa!
*
Buổi sáng hôm ấy, có một chàng thanh niên trạc hai nhăm hai sáu tuổi, ghé đò vào bến Giang
Khẩu
(1)
.
Rõ ràng là anh ta mới từ xa tới, chưa rõ tình hình ở kinh đô, nên vẫn cứ diêm dúa với tấm áo
the thâm dài lượt thượt của đám nho sinh và vành khăn nhiễu to bè quấn lên đến đỉnh đầu.
Thực ra thì phố phường kinh kỳ nào phải xa lạ gì đối với anh. Anh đã từng sống nơi đây suốt
cả thời kỳ niên thiếu. Vả lại giới sĩ phu ở đây mấy ai đã quên được cái anh nho sinh nổi tiếng thần
đồng của xứ Hải Dương, Nguyễn Bỉnh Khiêm
(1)
ấy. Nhưng mấy năm xa cách với những biến cố
phi thường dồn dập cũng làm anh phải bỡ ngỡ ít nhiều.
Vừa mới bước đi vài bước, anh đã bị thu hút bởi những cảnh tượng khác lạ. Mới sáng sớm mà
bến đò đã đông nghẹt những người từ khắp các phường phố đổ tới. Toàn là đám đàn bà con trẻ,
ông già bà cả dắt dìu, bồng bế, kêu khóc như ri. Cứ mỗi lần có con đò ghé vào bờ là người ta ùa
cả xuống, xô đẩy, bám víu, chửi rủa. Có người sảy tay lộn cả xuống sông. Suốt tám năm trời ở
ngôi của Lê Tương Dực, dân phố kinh kỳ đã phải chạy nạn biết bao nhiêu lần, nhưng chưa thấy
lần nào hỗn loạn đến mức này.
Thế mà quanh chợ Cầu Đông, quang cảnh lại vắng vẻ lạ lùng. Các căn lều trống huếch trống
hoác. Các cửa hiệu đóng cửa im ỉm. Chỉ có những quán rượu là cứ tấp nập như thường. Bọn du
thủ du thực, bọn lính tráng trốn ngũ, bọn phu phen khuân vác... thôi thì tha hồ mà lè nhè, mà tục
tĩu:
- Mẹ kiếp, chỉ nay mai bọn quân "ba chỏm"

Người ta lại hy vọng. Nguyễn Bỉnh Khiêm
đã

được chứng kiến đầy đủ cảnh tượng này
trong khi hộ giá nhà vua trở lại kinh thành. Như vậy thì nhà Mạc phải đâu đã mất hết thời cơ để
thống nhất đất nước và đem lại cuộc sống yên vui cho trăm họ, nếu như vua tôi đều đồng tâm
nhất trí lo toan việc đó. Họ còn có lực. Họ còn có dân. Nhưng tiếc thay, bọn triều thần đớn mạt bao
quanh nhà vua nào có nghĩ thế.
Tuy nhiên tai họa lớn vừa qua cũng làm cảnh tỉnh được phần nào nhà vua cùng một số triều
thần còn có ít nhiều tâm huyết. Nhà vua đã cố gắng tự nắm lấy quyền chính để cho Khiêm vương
Mạc Kính Điển được chuyên tâm hơn vào việc quân. Hàng loạt đại thần dều dâng sớ nêu rõ thực
trạng lộn xộn, thối nát trong chính sự và mạnh dạn khuyên nhủ nhà vua gia tăng phép nước để
bầy tôi không dám chuyên quyền.
Mạc Phúc Nguyên không phải là không chấp nhận tất cả những ý kiến chân thành và
xác đáng của họ. Nhưng thi hành những điều đó lại là chuyện khác. Cả bộ máy thừa hành từ trên
xuống dưới đã không còn là công cụ đắc lực cho nhà vua nữa rồi. Tuy nhiên trên một số mặt sinh
hoạt bình thường, tình hình bề ngoài cũng đã trở lại được nhịp điệu như trước. Khoa thi Hội năm
Quý Sửu (1553) vẫn được mở theo đúng kỳ hạn. Năm sau đó, Giáp Dần (1554), niên hiệu Cảnh
Lịch được đổi thành niên hiệu Quang Hòa năm thứ nhất để chứng tỏ với muôn dân là nhà vua đã
quyết tâm đổi mới.
Tình thế đã tạm thời cho phép quân Mạc mở những cuộc phản công quy mô hòng gỡ khỏi thế
bị động trên cả hai mặt trận. Mặt trận
• phía nam, đánh thẳng vào căn cứ Lê Trịnh
• Thanh Hóa, và mặt trận phía tây bắc nhằm
thẳng vào sào huyệt của Vũ Văn Mật ở vùng Hưng Hóa, Tuyên Quang. Bọn này càng ngày càng
tỏ ra hung hãn, quấy rối sau lưng quân Mạc và gần đây đã phối hợp với quân Trịnh tiến đánh kinh
thành, trở thành một thế hết sức nguy hiểm.
Và lần này Nguyễn Bỉnh Khiêm lại được sung vào đạo quân Tây Bắc cùng với một số văn thần
khác.
*

nữa.
Cho đến khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê thì Vũ Văn Mật đã có thể đường đường tuyên
bố chống Mạc, xây đắp cả một hệ thống thành lũy kiên cố khắp các châu huyện và chia quân
thành 11 doanh để trấn thủ các nơi hiểm yếu. ở trấn Đại Đồng, y đã xây dựng một triều đình riêng,
cũng đủ bá quan văn võ. Y còn mời cả nhà ẩn sĩ Nguyễn Hàng ra giúp việc chính sự. Tuy đã từ
chối mọi nhiệm vụ mà Văn Mật giao cho, những Nguyễn Hàng cũng phải thốt lên những lời ca
ngợi đến kinh ngạc trước cảnh sống phồn vinh và quy mô đường bệ của cái triều đình riêng một
góc trời ấy.
Như vậy là khi tuyên bố chống lại nhà Mạc,
ý đồ của họ Vũ đâu phải là nhằm khôi phục nhà Lê mà là để lập nên một vương triều cát cứ lâu
dài. Nhưng khi được tin nhà Lê bắt đầu công cuộc trung hưng ở Thanh Hóa, thì Văn Mật không dại
gì mà không bắt tay với lực lượng này để chia sẻ thế lực của nhà Mạc và mượn danh phù Lê để
tăng thêm uy tín trong quần chúng. Vì thế y đã dâng biểu quy thuận vua Lê Trang Tông (1533-
1548) và tất nhiên tờ biểu đã được chấp nhận một cách hết sức vui vẻ.
Vua Lê và nhất là Nguyễn Kim, Trịnh Kiểm đã thấy ngay được vị trí lợi hại của Vũ Văn Mật
trong sự nghiệp trung hưng của mình, vừa là một gọng kìm kẹp vào sau lưng quân Mạc, lại vừa là
một cửa ngõ thông sang nước Minh để khi cần có thể qua đường này mà xin cầu viện. Và quả
nhiên khi nhà Minh mượn cớ phù Lê diệt Mạc mà sai bọn Cừu Loan, Mao Bá ạn tiến quân thì bọn
này đã có mật hẹn với Vũ
Văn Mật để dùng y làm quân tiên phong dẫn đường cho chúng. Tuy sự việc này đã không xảy ra,
nhưng Văn Mật cũng thường có những mối quan hệ ngấm ngầm nguy hiểm với bọn quan lại bên
kia biên giới. Chính những hoạt động này đã làm cho Nguyễn Bỉnh Khiêm phải suy nghĩ nhiều
trong chuyến đi chinh phạt trước đây. Sứ mạng của ông quả thật tế nhị hơn nhiều so với quan
niệm của triều đình và nhất là bọn võ tướng chỉ huy mặt trận.
Trước hết là phải nêu cao được danh nghĩa điếu dân phạt tội của nhà vua, ban hành nhân
chính để cảm hóa lòng người chứ không thể chỉ đơn thuần dựa vào võ lực. Điều đó lại càng khó
khăn vì nhân dân vùng này đã có cả một thời khá lâu được sống yên ổn và no đủ dưới bàn tay cai
quản của hai anh em họ Vũ. Tuy những năm gần đây họ có bị bọn này vơ vét khá nhiều để đổ vào
cuộc chiến tranh với nhà Mạc, đời sống có giảm sút đi, nhưng vẫn chưa thể vì thế mà họ dễ dàng
từ bỏ lãnh chúa của họ.

thành những toán giặc cướp không còn kỷ cương gì hết. Cả một vùng Đại Đồng trù phú là vậy mà
sau khi quân Mạc rút qua chỉ còn là đống tro tàn. Khắp nơi xóm làng xơ xác, vườn tược tiêu điều,
đồng ruộng hoang rậm. Còn đâu là danh nghĩa của đoàn quân điếu phạt, còn đâu là lòng tin của
dân chúng nữa. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã phải khóc lên trước những cảnh thương tâm ấy, khóc lên
về sự bất lực của chính mình, vì trách nhiệm không được hoàn thành.
Rút cục, cuộc hành quân đã thực sự thất bại, mặc dù người ta vẫn cố bày trò "khải hoàn", luận
công ban thưởng để trấn an quân sĩ. Và chỉ ít lâu sau đó, khi Vũ Văn Mật trở về thì vùng Đại Đồng
cùng các châu huyện xung quanh lại thuộc về vương quốc của y như cũ...
Vậy thì trong chuyến đi này, liệu ông còn có thể thi thố được điều gì tốt đẹp? Sự thật vẫn diễn
ra chẳng có gì khả quan hơn cả.
Đã thế vừa đặt chân về tới triều đình thì Nguyễn Bỉnh Khiêm lại nhận được những tin bại trận
còn thảm hại hơn nữa. Cả một đoàn quân lớn đông đến vài vạn chiến sĩ cùng hàng trăm chiến
thuyền dưới sự chỉ huy trực tiếp của Khiêm vương Mạc Kính Điển vừa thua lớn ở mặt trận Thanh
Hóa. Hàng mấy nghìn quân cùng vài chục viên tướng, trong đó có Thọ quận công chỉ huy thủy
quân đã bỏ mạng. Khí giới thuyền bè hầu như mất sạch. Kính Điển
chỉ còn thu nhặt được ít tàn quân lếch thếch chạy về kinh thành.
Cũng như mấy lần trước đây, cuộc đại thắng của quân Trịnh lần này vẫn chủ yếu là do bọn
hàng tướng Lê Bá Ly, Nguyễn Khải Khang và nhất là danh tướng trẻ tuổi Nguyễn Quyện đóng vai
chủ chốt. Điều đó càng làm cho nhà Mạc hết sức lo ngại.
Tình thế đã cấp bách đến mức nhà vua cùng Khiêm vương không thể để cho Nguyễn Bỉnh
Khiêm, mặc dầu tuổi già sức yếu, được nghỉ ngơi về thăm nhà, theo yêu cầu khẩn thiết của ông
nữa. Một nhiệm vụ hết sức quan trọng, mà lại mười phần khó khăn tế nhị, chỉ có ông mới có khả
năng làm được. ạng được cử đi mặt trận Sơn Nam để tìm cách liên lạc với tướng Nguyễn Quyện,
vốn là học trò cũ, mà lại là con của người bạn thân, để dụ anh ta trở về với nhà Mạc.
Tất nhiên, một lần nữa, Nguyễn Bỉnh Khiêm không thể từ nan. Nhưng ông cũng lường trước
được tất cả những nỗi éo le sẽ đặt ra trước mắt. Mọi việc đưa đón sắp đặt thì đã có viên tướng
Nam đạo chịu trách nhiệm cả rồi. Nhưng biết ăn nói với anh học trò Nguyễn Quyện sao đây, trong
khi ông cầm chắc là sẽ không thể lay chuyển được ông bạn Nguyễn Thiến, cha anh ta rồi. Chỉ nội
một việc cha con Phạm Quỳnh còn đó và vẫn được nhà vua trọng dụng cũng đủ làm cho ông ta
không thể trở về. Vả lại ông bạn cũng đã ngoài bảy chục tuổi đầu rồi còn gì. Thế mà một khi ông

góc, táo tợn với một nếp sống khá kỳ quặc, có thể nói là "ngoài vòng pháp luật".
Lúc thường thì đám người này cũng làm ăn lương thiện như ai. Cũng cày cấy, cũng chài lưới...
Nhưng nếu có dịp thì không ít người đã tụ tập nhau lại thành đoàn để đi cướp bóc, phá phách như
những tên lục lâm chính cống. Có bọn bỗng trở thành những tay buôn chuyến giàu sụ. Có gì đâu.
Một cuộc hạn hán hay lụt bão ở phía bên này hay bên kia, giá gạo bỗng lên vùn vụt. Thế là họ
"vượt tuyến" chở gạo đến. Thật cứ như là vơ được tiền của, vàng bạc vậy. Nhưng tất cả số của
trời ơi ấy họ cũng chẳng cần giữ làm gì. Họ quẳng cả vào những canh bạc hay quán rượu cho
thỏa thích chốc lát, rồi lại ra đi mạo hiểm làm một chuyến khác. Có khi họ lại đường hoàng chuyên
chở cả vũ khí, lương thảo cho một cuộc hành quân lớn bên này hay bên kia. Và tất nhiên là cả hai
bên đã khôn khéo sử dụng bọn họ như những tên gián điệp chuyên nghề lợi hại để dò la tin tức,
đưa đón nhân vật này hay nhân vật khác, hoặc có khi làm hướng đạo trong những cuộc hành
quân bí mật qua những đường ngang lối tắt mà hầu như chỉ có họ biết được. Có người trong bọn
họ vì vậy mà đã lập được công lớn, được phong chức tước hẳn hoi... Cuộc đi công cán của
Nguyễn Bỉnh Khiêm lần này đã được bố trí khá kín đáo. Hành dinh bí mật của ông
được đặt ở một nơi khá xa mặt trận để có đủ an toàn và yên tĩnh cho ông làm việc, nhưng đồng
thời lại rất thuận tiện cho việc liên lạc một mặt là với kinh đô, mặt khác là những đầu mối đi lại bí
mật của quan Mạc thông sang đất địch. Đủ biết là nhà vua cùng Khiêm vương coi trọng và trông
chờ ở kết quả việc làm của ông đến mức nào.
ạng được xếp đặt ở ngay gần một ngôi chùa cổ nổi tiếng ở vùng hạ bạn trấn Sơn Nam. Đó là
chùa Phổ Minh, một địa điểm có thể khêu gợi cho người ta khá nhiều ký ức lịch sử. Nơi đây chính
là làng Tức Mạc, đất thang mộc của nhà Trần xưa, sau được đổi làm phủ Thiên Trường với cả
một loạt cung điện, đình chùa được dựng lên làm nơi di dưỡng cho những vị Thái thượng hoàng
sau khi đã nhường ngôi báu cho con
(1)
.
Nhưng tất cả cái quy mô đường bệ ấy nay còn đâu! Lịch sử chỉ mới trải qua vài trăm năm thôi,
mà biết bao nhiêu cuộc tang thương biến đổi! Đâu rồi những cung Trùng Quang, cung Trùng
Hoa... của vua Trần? Cái vạc chùa Phổ Minh nổi tiếng là thế mà nay cũng chỉ còn là niềm luyến
tiếc của mọi người. Quân xâm lược tàn bạo nhà Minh đã đang tâm phá hủy nó, như chúng đã chủ
trương phá hủy mọi di tích văn hóa truyền thống của ông cha ta, để đúc thành súng đạn bắn vào

chướng làm sao, cứ như lên mặt nhắn nhủ dạy đời. Mình còn thấy thế thì ông bạn làm sao mà
cảm thông được. ại, tình bạn! Khi còn ở bên nhau, có bao giờ hai người phải nhắc đến nó đâu nhỉ.
ấy thế mà cử chỉ nào cũng thật ăn ý với nhau, lời nói nào cũng thấy ngọt ngào, ý vị. Còn bây giờ
thì...
Bỗng một đêm thanh vắng, còn đang mơ mơ màng màng trong giấc ngủ chập chờn bên ngọn
đèn tàn, thì ông chợt giật mình tỉnh hẳn dậy. Cái gì thế nhỉ? ồ, một bài thơ nguyên vẹn, hoàn chỉnh
vừa mới bật ra trong tâm trí ông như một tia sáng. Một bài thơ. Thế mà tại sao suốt mấy hôm nay
ta chưa nghĩ đến điều đó nhỉ. Chỉ có thơ mới dễ dàng đi thẳng vào lòng ông bạn được thôi. Chỉ có
thơ mới dễ ngọt ngào tình xưa nghĩa cũ.
Ta giữ kẻ côi vì chút nghĩa, Bạn đương khi biến há cam lòng, Khí vận một vòng ly lại hợp, Sông dài
há có hạn Nam, Đông.
Chưa mấy khi Nguyễn Bỉnh Khiêm cảm thấy được bình tâm như thế, khi ghi lại bài thơ dự định
gửi đi cho bạn. Một bài thơ đúng lúc, đúng ý mình. Một bài thơ hợp tình, hợp cảnh.
Và suốt đêm ấy hình như bài thơ đã trả lại cho
ô

ng một giấc ngủ yên lành.
Sẵn cái đà đó, chỉ sáng hôm sau là bức
thư bằng thơ gửi cho anh học trò Nguyễn Quyện cũng được soạn thảo xong, sẵn sàng giao cho
người chuyển đạt.
Đạo ở mình ta có khó gì, Phương chi chí khí đã tương kỳ
Nghìn năm quân phụ cương thường đó Trung hiếu một lòng chớ đổi đi.
Thế là trách nhiệm được giao phó, ông đã hoàn thành một cách suôn sẻ đến không ngờ.
Nhưng thực tình mà nói, Nguyễn Bỉnh Khiêm đâu dám tin vào kết quả của những bức thư này.
Tình bạn ư? Tình thầy trò ư? Vẫn là sâu nặng đấy. Nhưng đối với những con người biết suy nghĩ
như cha con ông bạn Nguyễn Thiến thì bên trên những thứ tình cảm cao quý ấy, lúc này còn có
một điều hệ trọng hơn nhiều, đáng làm cho người ta phải cân nhắc hơn nhiều, đó là câu chuyện
chọn chúa.
Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn chưa thể quên được những lời lẽ tuy có vẻ phũ phàng nhưng không
phải là không có sức mạnh thuyết phục bằng sự thật của Lê Bá Ly hồi nào, trước các hàng quân,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status