UBND HUYỆN HÒA BÌNH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
PHÒNG GD&ĐT HÒA BÌNH
Độc lập = Tự do – Hạnh phúc
Số : …. / BCTKM-TH Hòa Bình
, ngày 20 tháng 9 năm 2010.
BÁO CÁO TỔNG KẾT MÔN TIẾNG VIỆT
NĂM 2009 – 2010
Căn cứ công văn số 890/ HD-SGD&ĐT-MN-TH, ngày 03/8/2010 của
SGD&ĐT Bạc Liêu về việc hướng dẫn tổ chức Tổng kết môn Tiếng Việt
và Toán cấp Tiểu học năm học 2009 - 2010;
Căn cứ hướng dẫn số 240/HD-PGD&ĐT, ngày 01/9/2010 của PGD&ĐT
Hòa Bình về việc hướng dẫn các trường Tiểu học tổ chức Tổng kết môn
Tiếng Việt và Toán cấp Tiểu học năm học 2009 - 2010;
Căn cứ chủ đề năm học 2010 – 2011 : Tiếp tục đổi mới công tác tổ
chức, quản lý, phối hợp, hoạt động trong quá trình thực hiện nhiệm vụ,
chủ yếu ở cấp đơn vị trường học nhằm thiết thực góp phần nâng cao chất
lượng và hiệu quả giáo dục – đào tạo ở địa phương.
I. THỰC TRẠNG :
1.
ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH :
a. Thuận lợi :
- Được sự quan tâm chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền các cấp, sự chỉ đạo
của Sở GD&ĐT Bạc Liêu, sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo Phòng GD&ĐT
Hòa Bình, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để Tổ chuyên môn thực hiện công
tác chỉ đạo, tổ chức, quản lý và hướng dẫn các trường thực hiện các mục tiêu,
nhiệm vụ góp phần tích cực cho bậc học hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.
- Đội ngũ CBGV-CNV có ý thức tổ chức kỷ luật tốt, tinh thần trách
nhiệm cao, đoàn kết giúp đỡ nhau để cùng tiến bộ. Đội ngũ được đào tạo cơ
bản về chuyên môn nghiệp vụ và được bồi dưỡng thay sách giáo khoa các lớp
2.
THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY
HỌC CỦA GIÁO VIÊN TRONG TRƯỜNG :
2.1. Tình hình sử dụng phương pháp dạy học môn Tiếng Việt của
giáo viên trong trường :
2.1.1.
Việc phân bố thời gian cho tiết dạy :
Ưu điểm :
- Trong tiết dạy giáo viên có rất nhiều cố gắng, đầu tư nghiên cứu
nội dung của bài và cung cấp đầy đủ kiến thức cho học sinh.
2
- Phần lớn giáo viên phối hợp tốt các nhóm phương
pháp giảng dạy.
Hạn chế :
- Sự phối hợp giữa các phương pháp chưa linh hoạt, một số giáo
viên còn lạm dụng phương pháp dùng lời, giảng giải quá nhiều thời gian.
Phần thực hành bị hạn chế.
2.1.2.
Hình thành kiến thức cho học sinh:
Ưu điểm :
- Hầu hết giáo viên đều cố gắng cung cấp hết kiến thức, nội dung
của bài dạy.
- Có vận dụng các nhóm phương pháp trong dạy học, phần lớn giáo
viên kết hợp nhiều phương pháp như dùng lời, giảng giải, đàm thoại, trực
quan vấn đề vận dụng có kết quả cao.
Hạn chế :
- Khâu chuẩn bị bài của giáo viên chưa chú ý đến cần phải phối hợp các
nhóm phương pháp dạy học. Chủ yếu tập trung vào việc trực quan, giảng
giải để hình thành kiến thức cho học sinh mà quên hẳn thực hành khắc sâu
kiến thức ngay thời điểm hình thành kiến thức đó.
- Nhóm phương pháp thực hành vận dụng hiệu quả chưa cao, giáo
viên không phân nhóm luyện tập, tức là các em không được hoạt động một
cách tự nhiên, được đóng góp ý kiến xây dựng. Do vậy sự tìm hiểu nội
dung bài cũng chỉ tập trung số ít học sinh khá, giỏi. Học sinh yếu, trung
bình không theo kịp mà chỉ biết ngồi nghe cô và bạn mình nói.
- Nếu phân nhóm thực hành, luyện tập thì học sinh hoạt động rất sôi
nổi, tích cực có chất lượng cao.
2.1.5.
Hoạt động kiểm tra đánh giá học sinh :
Ưu điểm :
- Xây dựng trình độ chuẩn trong chương trình và chỉ đạo, không có
sự quá tải về kiến thức, để mang tính chất phổ cập.
- Sử dụng nhóm phương pháp dùng lời (kiểm tra miệng) sát được
trình độ học sinh, có thể hỏi thêm, có thể gợi ý; nhanh chóng
nắm được kết
quả, lĩnh hội tri thức của học sinh cách trình bày bằng lời nói.
- Nhóm phương pháp thực hành(kiểm tra viết): Cùng một lúc kiểm
tra được nhiều học sinh, giúp học sinh rèn kỹ năng trình bày bài bằng cách
viết.
Hạn chế :
- Khi kiểm tra miệng giáo viên dễ bị mệt mỏi, tốn nhiều thời gian;
kiểm tra viết khó kiểm soát đựơc trình độ cả lớp.
- Giáo viên hay chủ quan, nóng vội không linh hoạt. chẳng hạn đến
giờ kiểm tra một tiết giáo viên khộng chuẩn bị ra đề kiểm tra mà lấy ngay
đề trong sách hướng dẫn, đề loại này mang tính chất phổ cập. Nếu ra đề
như vậy học sinh giỏi chỉ cần làm trong vòng từ 15-20 phút là xong. Học
sinh trung bình cũng có em đạt được điểm 10 mà chỉ khác học sinh khá
4
giỏi về thời gian làm bài. từ đó việc xác định đối tượng học sinh lớp mình
là không chính xác; ngay cả học sinh khá giỏi chưa phát huy được tính
nhiều khi giáo viên sử dụng đồ dùng không đúng động tác dẫn đến học
sinh hiểu sai mục đích.
2.2 Nguyên nhân :
5