ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------
Hoàng Minh Châu
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI NHIỄM FLORUA BẰNG
QUẶNG KHOÁNG TỰ NHIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – Năm 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------
Hoàng Minh Châu
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI NHIỄM FLORUA BẰNG
QUẶNG KHOÁNG TỰ NHIÊN
Chuyên ngành: Hóa môi trường
Mã số: 60440120
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Phương Thảo
Hà Nội – Năm 2014
CHƯƠNG 2 - THỰC NGHIỆM ...................................................................................................19
2.1 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu của luận văn. ......................................19
2.1.1. Mục tiêu nghiên cứu ..........................................................................19
2.1.2. Nội dung nghiên cứu .........................................................................19
2.2. Hóa chất và dụng cụ. ................................................................................19
2.2.1. Hóa chất .............................................................................................19
2.2.2. Dụng cụ và thiết bị: ...........................................................................21
2.3. Các phương pháp thực nghiệm ...............................................................21
2.3.1. Lấy mẫu và bảo quản mẫu. ...............................................................21
2.3.2. Chuẩn bị vật liệu hấp phụ florua từ laterit. .....................................23
2.4. Phương pháp nghiên cứu đặc trưng cấu trúc của vật liệu. ....................23
2.4.1. Phương pháp nhiễu xạ Rơnghen (XRD). .........................................23
2.4.2. Phương pháp hiển vi điện tử quét (SEM) ........................................25
2.4.3. Phương pháp tán xạ năng lượng EDX .............................................26
2.5. Phân tích florua bằng phương pháp Xynenol da cam ............................27
2.6. Phương pháp khảo sát khả năng hấp phụ của vật liệu ..........................28
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ...............................................................................33
3.1. Khảo sát mức độ ô nhiễm florua trong nước thải nhà máy phân lân Văn
Điển............ ......................................................................................................33
3.1.1. Kết quả xây dựng đường chuẩn phân tích florua, photphat và
silicat ............................................................................................................33
3.1.2. Khảo sát mức độ ô nhiễm florua trong nước thải nhà máy phân lân
Văn Điển ......................................................................................................35
3.2. Khảo sát khả năng hấp phụ florua của laterit thô..................................38
3.2.1. Khảo sát thời gian cân bằng hấp phụ ...............................................38
3.2.2. Khảo sát tải trọng hấp phụ cực đại của vật liệu thô ........................39
Bảng 3.6. Kết quả khảo sát tải trọng hấp phụ của vật liệu laterit thô ...................................40
Bảng 3.7. Kết quả khảo sát khả năng hấp phụ florua của vật liệu hoạt hóa trong axit .....42
Bảng 3.8. Kết quả khảo sát khả năng hấp phụ florua của vật liệu hoạt hóa trong Al3+ .....43
Bảng 3.9. Kết quả khảo sát khả năng hấp phụ florua của vật liệu hoạt hóa trong axit và
ngâm tẩm với Al3+ ............................................................................................................................44
Bảng 3.10. Thời gian cân bằng hấp phụ vật liệu laterit biến tính ...........................................48
Bảng 3.11 . Kết quả khảo sát tải trọng hấp phụ của vật liệu laterit biến tính ......................49
Bảng 3.12. So sánh tải trọng hấp phụ của vật liệu laterit hoạt hóa với các vật liệu khác .51
Bảng 3.13. Ảnh hưởng của PO43- đến khả năng hấp phụ của vật liệu laterit biến tính ......52
Bảng 3.14. Ảnh hưởng của SiO32- đến khả năng hấp phụ của vật liệu laterit biến tính .....54
Bảng 3.15. Ảnh hưởng của NO3- đến khả năng hấp phụ của vật liệu laterit biến tính ......55
Bảng 3.16. Ảnh hưởng của Cl- đến khả năng hấp phụ của vật liệu laterit biến tính ..........56
Bảng 3.17. Ảnh hưởng của HCO3- đến khả năng hấp phụ của vật liệu laterit biến tính....57
i
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Sơ đồ quá trình laterit hóa ............................................................................................. 3
Hình 2.1. Tia tới và tia phản xạ trên tinh thể .............................................................................24
Hình 2.2. Sơ đồ nguyên lý của kính hiển vi điện tử quét .........................................................25
Hình 2.3. Nguyên lý của phép phân tích EDX ............................................................................27
Hình 2.4. Đường hấp phụ đẳng nhiệt Langmuir ......................................................................29
Hình 2.5. Đồ thị dạng tuyến tính của phương trình Langmuir ...............................................30
Hình 2.6. Đường hấp phụ đẳng nhiệt Freundlich ......................................................................31
Hình 2.7. Đồ thị dạng tuyến tính của phương trình Freundlich .............................................31
Hình 3.1. Đồ thị đường chuẩn phân tích florua .........................................................................33
Hình 3.2. Đường chuẩn phân tích silicat .....................................................................................34
Hình 3.3. Đồ thị đường chuẩn phân tích photphat ....................................................................35
Hình 3.4. Đồ thị biểu diễn thời gian cân bằng hấp phụ của laterit thô ..................................39
ABS
Độ hấp thụ quang (Absorbance)
EDX
Phổ tán xạ năng lượng tia X (Energy-Dispersive X-ray spectroscopy )
SEM
Phương pháp hiển vi điện tử quét (Scanning Electron Microscopy)
XRD
Phương pháp nhiễu xạ tia X (X Rays Diffraction)
QCVN
Quy chuẩn Việt Nam
NS-VSMTNT
Nước sạch – Vệ sinh môi trường nông thôn
TCVN
Tiêu chuẩn Việt Nam
M1
cân, giòn xương, thiếu máu và suy nhược,...
Việc xử lý các nguồn nước thải có chứa flo đã được đặt ra và thực hiện từ lâu
nhưng trên thực tế chưa được thực hiện triệt để đối với một số cơ sở sản xuất có nguồn
nước thải flo cao. Mặt khác việc phân tích xác định hàm lượng flo trong nước thải là một
vấn đề không dễ thực hiện đối với các cơ sở sản xuất vì vậy rất khó theo dõi đánh giá hiệu
quả xử lý cũng như kiểm soát được chất lượng nước thải trước khi thải ra môi trường.
Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu khả năng xử lý nước thải
nhiễm Florua bằng quặng khoáng tự nhiên” với mong muốn tìm hiểu và tìm kiếm được
vật liệu mới để hấp phụ, loại bỏ flo.
1
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN
1.1.Laterit
1.1.1.Giới thiệu về laterit.
Laterit là loại đất giàu chất sắt và nhôm, hình thành ở vùng nhiệt đới nóng và ẩm ướt.
Laterit có màu đỏ là màu của ion sắt. Laterit được hình thành trong quá trình rửa trôi các
nguyên tố đá mẹ đặc biệt là các nguyên tố dễ bị hòa tan như Si, Na, K, Ca, Mg,... sau đó
có sự tích tụ tuyệt đối các ion Fe, Al, Mn trong các tầng đất, dưới tác động của các điều
kiện môi trường như sự phong hóa, dòng chảy, mạch nước ngầm thay đổi, mất thảm phủ,
xói mòn,... Các cation này có sẵn trong môi trường đất nhiệt đới do mưa và tác động dòng
nước thấm, nước ngầm, chúng có cơ hội tập trung lại một chổ trong đất với mật độ cao.
Các cation này hấp thụ vào một nhóm mang điện tích âm (keo sét hoặc oxit sắt) hoặc một
tác nhân khác kết dính giữa các cation đó để tạo nên những liên kết tương đối bền vững.
Khi nhiệt độ môi trường lên cao, độ ẩm giảm thấp, các liên kết này mất nước, sẽ tạo nên
những oxit kim loại cứng chắc, do đó độ cứng cao và rất cao. Các ion này tập trung quanh
những phần tử nhỏ là những cation nhóm mang điện tích âm hay tác nhân có khả năng kết
dính xi măng. Chúng tạo liên kết với nhau. Mạch nước ngầm bị tụt xuống lớp trên mất
Như ta đã biết, quá trình laterite là quá trình một chiều không đảo ngược được.
Quá trình này sản sinh khi điều kiện môi trường đất bị phá hủy: thảm thực vật bị đốn trụi,
mạch nước ngầm thay đổi và có sự rửa trôi để đi đến sự tích tụ tuyệt đối Fe, SiO2, Al, Mn.
Khi quá trình tích tụ tuyệt đối kết thúc, (độ ẩm trong đất giảm thiểu thì cũng là lúc đất
màu mỡ biến thành đất chết). Hậu quả là toàn bộ hệ sinh thái đã bị tiêu diệt như Vĩnh
Phúc, Phú thọ, Hà Bắc một số vùng thuộc miền Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ và cả Tây
Nguyên nữa.
Quá trình tạo thành đá ong có thể diễn ra với tốc độ khác nhau thường là chậm
hàng thế kỉ nhưng cũng có trường hợp khá nhanh.
1.1.2. Thành phần và đặc điểm của laterit
Trong laterit thành phần chủ yếu là hydroxit oxit sắt ngậm nước hay không ngậm
nước hoặc mangan, một phần rất ít oxit nhôm. Sự hình thành đá ong chỉ khác với quá
trình laterit là Fe2+ thường tập trung ở các vùng tương đối thấp có khả năng từng là một
dòng nước thổ nhưỡng hoặc dòng nước mặn trong mùa mưa. Trong tầng nước thổ nhưỡng
gần mặt đất chứa nhiều Fe2+. Các Fe2+ dễ dàng bị oxi hóa thành Fe3+ khi có điều kiện tiếp
xúc với oxy, chúng sẽ bị oxy hóa. các oxyt của chúng liên kết với các nhân là hạt keo sắt
kaolinit để tạo thành màng lưới dày đặt. khi mất nước chúng liên kết ngày càng chặt hơn.
Tùy loại đá ong người ta chia ra:
-
Đá ong tản kiểu buhanran.
-
Đá ong tản tổ ong, có nhiều lỗ, lỗ nhỏ như tổ ong
-
Trong lịch sử, đá ong được cắt thành hình dạng như viên gạch và được sử dụng
trong xây dựng tượng đài, đền thờ. Kể từ những năm 1970 người ta đã sử dụng đá ong
thay cho đá. Lớp đá ong được hình thành trong tự nhiên dày, xốp và hơi thấm, vì vậy các
lớp này có chức năng dẫn mạch nước ngầm ở các khu vực nông thôn. Ở một số địa
phương người ta sử dụng laterit có sẵn để loại bỏ photpho và kim loại nặng để xử lí nước
thải.
Laterit là một nguồn quặng nhôm: Quặng tồn tại chủ yếu trong các khoáng vật và
hidroxit, gibbsite, boehmite và diaspore, giống như các thành phần của bauxite. Ở Bắc
Ireland người ta từng laterit như một nguồn cung cấp chính quặng sắt và nhôm. Quặng đá
ong cũng là nguồn quan trọng đầu tiên cung cấp niken.
Trong những năm gần đây các công trình nghiên cứu khoa học đã cho thấy laterit
là vật liệu hấp phụ tốt, chí phí thấp trong việc loại bỏ florua trong nước.
1.2. Florua và các phương pháp xử lý florua
1.2.1. Nguồn gốc và phân bố florua
Trong tự nhiên flo gặp chủ yếu ở dạng ion florua hóa trị một, là thành phần của các
khoáng như floapatit [(Ca10F2)PO4)6], criolit( Na3AlF6) flospa (CaF2). Nó là một thành
phần chung của đất, trung bình 200 mg/Lkg trên toàn thế giới. Florua cũng có trong nước
tự nhiên, trung bình khoảng 0,2 mg/L ( Châu Âu và Bắc Mỹ), Trong nước biển nồng độ
florua vào khoảng 1,2 mg/L. Tính chung flo là nguyên tố có độ giàu thứ 13 trên trái đất,
chiếm 0,03% vỏ trái đất.
Flo được thải vào môi trường từ nhiều nguồn khác nhau. Khí florua (phần lớn là
HF) được phát ra do hoạt động của núi lửa và bởi một số ngành công nghiệp khác nhau.
Flo ở dạng khí và dạng hạt là sản phẩm phụ của hoạt động đốt than (than chứa 10 ÷
480 mg/L kg flo, trung bình 80 mg/kg) và được giải phóng ra trong quá trình sản xuất
5
thép và luyện các kim loại không chứa sắt. Việc sản xuất nhôm bao gồm việc sử dụng
Độ dài liên kết X-X = 1,42 Ao
tosôi = -219,6oC
Năng lượng hidrat hóa của X = 121 Kcal/ptg
Năng lượng liên kết = 37 KcM/l
Thế điện cực chuẩn = 2,87V
- Năng lượng ion hóa rất cao của ion giải thích sự không tồn tại của ion flo dương. Ở
điều kiện thường flo là một chất khí không màu, nếu lớp dày thì có màu lục nhạt. Flo là
chất oxi hóa mạnh có thể tác dụng với tất cả các nguyên tố trừ N. Khả năng khử không
thể hiện ở flo.
- Một số đặc điểm của HF:
6
tosôi = 19,5oC
Độ dài liên kết X-X = 0,92Ao
tonóng chảy = -83oC
Mô men cực = 1,91D
Năng lượng liên kết=135 Kcal/mol
Độ phân ly của dung dịch 0,01N=2,87%
+ 2HF = H2F + SbF6-
Là hợp chất phân cực, HF tan vô hạn trong nước. Dung dịch nước của HF là dung
dịch axit và được gọi là flohidric hoàn toàn không thể hiện tính khử.
Axit flohidric là một axit yếu vì HF phân li kém và năng lượng liên kết HF rất lớn.
HF + H2O
H3 O+
+ F- với K = 7.10-4
Còn có thêm quá trình kết hợp của ion F- với phân tử HF
F- + HF
HF2- với K = 5
Vì lí do đó khi tác dụng với các dung dịch kiềm như NaOH hay KOH, axit
flohidric không tạo nên muối florua trung tính mà tạo nên muối hydroflorua như NaHF2
và KHF2.
Khác với axit khác, axit flohidric là axit duy nhất tác dụng với SiO2.
7
SiO2 + 4HF = SiF4 + 2H2O
Sản phẩm silic tetraflorua sinh ra có thể tác dụng với HF dư tạo thành H2SiF6 tan
trong nước.
Axit HF cũng tác dụng với thủy tinh cho nên người ta không dùng chai thủy tinh
mà dùng chai bằng nhựa hay cao su để đựng axit đó. Đó là axit độc khi rơi vào da gây ra
Động vật: Mặc dù florua chỉ có độc tính cấp vừa phải đối với động vật và không
được xem là mối đe dọa đối với động vật hoang dã, nó có thể đóng vai trò đe dọa với đời
sống con người và gia súc dưới những điều kiện nào đó. Các florua như đã được chỉ ra
đối với nguyên nhân gây phá hủy nhiễm sắc thể và sự đột biến trong các tế bào động và
thực vật, dẫn đến ảnh hưởng gây ra ung thư mạnh, mặc dù vậy, các vấn đề nghiêm trọng
nhất liên quan với sự nhiễm florua còn đang được tranh cãi, nhưng nói chung là ảnh
hưởng rối loạn bộ xương.
Sự ô nhiễm không khí có chứa florua có khả năng gây ra sự phá hủy rộng lớn hơn
đối với vật nuôi ở các nước công nghiệp phát triển so với bất kỳ các chất gây ô nhiễm nào
khác. Các triệu chứng ảnh hưởng thấy rõ là: Sự vôi hóa khác thường của xương và răng,
bộ dạng cứng nhắc, thân mảnh, lông xù, giảm cho sữa giảm cân.
Con người: Bệnh nhiễm flo nghề nghiệp đã được chuẩn đoán ở các công nhân ở
các xí nghiệp, đặc biệt là xí nghiệp luyện nhôm và phân bón photphat, mức nhiễm flo
xương đạt tới 2.000 mg/kg. Do lượng flo quá mức, men răng mất đi độ bóng của răng.
Florua được tích lũy chủ yếu ở dưới khớp cổ, đầu gối, xương chậu và xương vai, gây khó
khăn khi di chuyển hoặc đi bộ. Các triệu chứng của xương nhiễm flo tương tự như cột
sống dính khớp hoặc viêm khớp, xương sống bị dính lại với nhau và cuối cùng nạn nhân
có thể bị tê liệt. Nó thậm chí có thể dẫn đến ung thư và cuối cùng là cột sống lớn, khớp
lớn, cơ bắp và hệ thần kinh bị tổn hại. Bên cạnh đó tiêu thụ quá nhiều florua có thể dẫn
đến hàng loạt các tác hại như: Thoái hóa sợi cơ, nồng độ hemoglobin thấp đi, dị dạng
hồng cầu, nhức đầu, phát ban da, thần kinh căng thẳng, trầm cảm, các vấn đề về đường
tiêu hóa và tiết niệu, ngứa ran ở các ngón tay và ngón chân, giảm khả năng miễn dịch, phá
thai, phá hủy các enzim,..
Bằng chứng về ung thư ở cộng đồng nhiễm florua ở mức cao có sự tranh cãi. Một
số vượt quá mức bình thường bị ung thư đường hô hấp ở các mỏ flospar đã được công bố
ở Canada và một số nơi (Colorado).
1.2.4. Tình hình ô nhiễm florua hiện nay tại Việt Nam
Tại một số địa phương thuộc huyện Tây Sơn và An Nhơn, Vân Canh, tỉnh Bình
Định: Trung tâm y tế dự phòng tỉnh Bình Định đã tiến hành điều tra thực trạng nhiễm flo
Số
khám
Số
mắc
Tỷ lệ
%
Số
khám
Số
mắc
Tỷ lệ
%
An Nhơn
9.582
612
6,4
4.745
301
1.480
22
1,5
750
13
1,7
730
9
1,2
Tổng
17.869
1.707
9,6
8.878
845
Số
mắc
Tỷ lệ
%
Số
khám
Số
mắc
Tỷ lệ
%
An Nhơn
3.135
172
5,5
3.089
202
6,5
3.358
486
9
1,9
538
12
2,2
5.766
490
8,5
5.743
550
9,6
6.360
667
10,5
Trong các mẫu nước ngầm, hàm lượng flo được đo là 8 mg/l và là nguyên nhân
chính khiến nhiều người dân ở các địa phương này có biểu hiện về các bệnh răng và
xương khớp.
-
Tỉnh Khánh Hòa:
Tại huyện Ninh Hòa-Khánh Hòa, y tế địa phương đã phát hiện nhiều người dân bị
nhiễm flo răng. Tại Ninh Hòa bệnh “chết răng” đã được bệnh viện Ninh Hòa phát hiện từ
những năm 90. Báo cáo của đoàn địa chất Việt Tiệp cho biết nước ngầm ở vùng Ninh
Hòa có chứa nồng độ flo khá cao ( 2-13ppm). Ông Lê Văn Hùng, Giám đốc trung tâm
NS-VSMTNT Khánh Hòa cho biết: Không chỉ Ninh Hòa có nguồn nước ngầm bị nhiễm
11
nặng flo mà tại huyện Ninh Xuân còn có nhiều xã khác như: Ninh Trung, Ninh Phụng,
Ninh Thuận...nguồn nước ngầm cũng bị nhiễm nặng flo. Hàm lượng flo trong nguồn
nước giếng đào tại Ninh Xuân phổ biến từ 3-14ppm [12].
-
Tại huyện Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận:
Mẫu nước được lấy theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 6000-1995) và ( ISO 56671992) và chúng được phân tích sắc ký ion sử dụng đầu dò độ dẫn. Nồng độ flo lại hai xã
Phước Hà và Nhị Hà vượt khoảng 6 lần so với mức cho phép (TCVN 5944-1995).
Nguyên nhân dẫn đễn ô nhiễm flo ở Ninh Hòa được nhiều nhà nghiên cứu quan
tâm. Căn cứ vào tài liệu nghiên cứu địa chất thì vùng Ninh Hòa, cũng như suốt các dải
ven biển Nam Trung Bộ rất phát triển đá Macma thâm nhập và phun trào có thành phần
axit. Trong quá trình phong hóa các đá Macma axit một lượng flo được giải phóng và
phân tán vào môi trường nước. Các nguồn nước khoáng giàu flo (tới 9,2 mg/l) cũng có thể
là nguồn ô nhiễm. Mặt khác liên quan tới các phức hệ đã macma xâm nhập granit trong
Độ, Kenya, Senegal và Tanzania). Quá trình này bao gồm việc bổ sung lượng phèn, vôi
và bột tẩy trắng nước thô, tiếp theo là nhanh chóng trộn, keo tụ, lắng lọc và khử trùng
theo quy định. Sau khi thêm phèn và nước vôi vào nước thô, khối nhôm hydroxit không
tan được hình thành, lắng xuống đáy và kết tủa florua. Tuy nhiên một số nhược điểm của
kỹ thuật này cũng đã được báo cáo của vài nhà nghiên cứu, ví dụ như nồng độ nhôm cao
còn lại ( 2-7mg/l) trong nước đã xử lí cao hơn các tiêu chuẩn WHO: 0,2 mg/l.
-
Trong số các phương pháp khác nhau loại bỏ florua từ nước uống, quá trình hấp
phụ được sử dụng rộng rãi và cho kết quả khả quan và là một phương pháp hiệu quả hơn
cho việc loại bỏ florua về chi phí, thiết kế và vận hành đơn giản. Chất hấp phụ truyền
thống và phi truyền thống khác nhau đã được đánh giá cho việc loại bỏ florua dưới đây:
Kỹ thuật hấp phụ
Mặc dù phương pháp màng xử lý F- một cách hiệu quả đến mức có thể chấp nhận
được, nhưng phương pháp hấp phụ vẫn có vị trí quan trọng trong nghiên cứu loại bỏ
florua do khả năng ứng dụng thực tế cao và chi phí thấp hơn. Bản chất của chất hấp phụ
florua dựa trên khoáng chất, đặc biệt là đất sét có chứa oxit sắt, oxit nhôm và silicon. Về
lý thuyết, hấp phụ florua trên các hạt rắn phải gồm ba bước:
+ Khuếch tán và vận chuyển các ion F- một cách hiệu quả đến bề mặt ngoài của vật
liệu hấp phụ từ dung dịch trên bề mặt phân cách pha xung quanh các hạt vật liệu hấp phụ,
được gọi là chuyển khối ngoài.
+ Hấp phụ các ion F- trên bề mặt hạt.
+ Các ion F- có thể trao đổi với cấu trúc bên trong hạt vật liệu hấp phụ, phụ thuộc
vào thành phần hóa học của chất rắn, hoặc của các ion florua được hấp phụ chuyển đến bề
mặt của lỗ xốp (khuếch tán trong hạt).
Để đánh giá một chất hấp phụ cho mục đích ứng dụng thực tế, cần phải xem xét
dung lượng hấp phụ trong các dung dịch, pH, thời gian hấp phụ, cân bằng, tái sinh, và tải
trọng khi có mặt các anion và cation ảnh hưởng.
So sánh nhiệt nhôm hidrat hóa chưa xử lý nhiệt (UHA) và nhôm hidrat hóa đã xử
lý nhiệt (THA) từ quá trình thủy phân nhôm sunfat trong nước. So sánh các thông số thời
gian tiếp xúc, lượng chất hấp phụ, nhiệt độ trước khi hấp phụ, nhiệt độ trước và sau khi
hấp phụ, hàm lượng F- và pH ban đầu. Hiệu quả loại bỏ F- tăng khi tăng nhiệt độ xử lý
14
trên 2000C, nhưng nếu tăng nhiệt độ lên cao thì hiệu quả loại bỏ F- lại giảm. pH tối ưu với
hấp phụ F- đối với cả hai vật liệu UHA và THA đều là pH=4,0-9,0. Các dữ liệu hấp phụ ở
pH môi trường cũng phù hợp với mô hình hấp phụ của THA và UHA lần lượt là
23,4 mg/g và 7 mg/g.
Thứ tự các ion hấp phụ chọn lọc trên nhôm hoạt tính ở pH = 5,5-8,5 được báo cáo:
OH > H2AsO4- > Si(OH)3O- > HSeO3- > F- > SO42-> CrO42-> HCO3- > Cl- > NO3- > Br- >
I-.
Vật liệu nhôm hoạt tính được tái sinh bằng cách rửa giải bằng dung dịch NaOH 4%
để OH chiếm chỗ F- trên bề mặt vật liệu. Sau đó rửa giải bằng dung dịch axit để lập lại
điện tích dương trên bề mặt nhôm hoạt tính. Nhược điểm lớn nhất khi hấp phụ trên nhôm
hoạt tính là pH