Nghệ thuật trang trí đình làng Lâu Thượng và đình làng Hùng Lô (Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) - Pdf 60

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

Cao Thị Vân

NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ
ĐÌNH LÀNG LÂU THƯỢNG VÀ ĐÌNH LÀNG HÙNG LÔ
(Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ)

1.
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT

Hà Nội - 2020


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

Cao Thị Vân

NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ
ĐÌNH LÀNG LÂU THƯỢNG VÀ ĐÌNH LÀNG HÙNG LÔ
(Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ)

Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật

KHÁI QUÁT VỀ ĐÌNH LÀNG LÂU THƯỢNG, ĐÌNH LÀNG HÙNG LÔ . 07
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ................................................................ 07
1.2. Cơ sở lý luận của đề tài ............................................................................... 15
1.3. Khái quát về đình làng Lâu Thượng và đình làng Hùng Lô .................... 29
Tiểu kết .......................................................................................................... 34
Chương 2: HÌNH THỨC, ĐỀ TÀI VÀ ĐỒ ÁN TRANG TRÍ ĐÌNH LÀNG
LÂU THƯỢNG, ĐÌNH LÀNG HÙNG LÔ .................................................. 36
2.1. Hình thức trang trí .................................................................................... 36
2.2. Đề tài trang trí .......................................................................................... 61
2.3. Đồ án trang trí .......................................................................................... 77
Tiểu kết .......................................................................................................... 91
Chương 3: BỐ CỤC, KHÔNG GIAN VÀ MÀU SẮC TRANG TRÍ ĐÌNH
LÀNG LÂU THƯỢNG, ĐÌNH LÀNG HÙNG LÔ...................................... 93
3.1. Bố cục trang trí ......................................................................................... 93
3.2. Không gian trang trí ............................................................................... 106
3.3. Màu sắc trang trí..................................................................................... 119
Tiểu kết ........................................................................................................ 129
Chương 4: BÀN LUẬN VỀ ĐẶC TRƯNG VÀ GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT
TRANG TRÍ ĐÌNH LÀNG LÂU THƯỢNG, ĐÌNH LÀNG HÙNG LÔ 130
4.1. Đặc trưng nghệ thuật trang trí ................................................................ 130
4.2. Giá trị nghệ thuật trang trí ...................................................................... 151
Tiểu kết ........................................................................................................ 161
KẾT LUẬN .................................................................................................. 162
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ .............. 167
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................... 168
PHỤ LỤC ..................................................................................................... 181


iii


Thế kỷ

TP

Thành phố

Tr

Trang


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Nghệ thuật trang trí đình làng là một trong những thành tố quan trọng
trong kho tàng mỹ thuật dân gian độc đáo của Việt Nam. Theo các nhà nghiên
cứu đi trước, đình manh nha xuất hiện vào khoảng thế kỷ XV, phát triển rực rỡ
vào cuối TK XVII đầu TK XVIII và thoái trào vào TK XIX. Trong diễn trình
lịch sử mỹ thuật truyền thống của nước nhà, hệ thống đình làng Việt đã tích
hợp được nhiều di sản văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật và được phổ biến sâu đậm
trong dân gian.
Ở Phú Thọ có khoảng hơn 200 ngôi đình lớn nhỏ có niên đại khác nhau
được phân bố rộng rãi trong toàn tỉnh. Trong số đó, đình làng Lâu Thượng
(ĐLLT) và đình làng Hùng Lô (ĐLHL) là hai ngôi đình lớn nhất của tỉnh Phú
Thọ, được nhà nước xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia vừa mang
phong cách trang trí của thời Lê (gắn với sự ra đời của đình) vừa mang phong
cách Nguyễn (gắn với quá trình tu bổ lớn) nhưng lại sở hữu hai phong cách trang
trí có nhiều nét khác biệt (nhất là trong nghệ thuật chạm khắc). Rõ ràng, hai ngôi
đình với vị trí địa lý khá gần nhau nhưng phong cách trang trí có nhiều sự khác

nghiên cứu đi trước, luận án làm rõ tính chất trang trí ở hai ngôi đình để tìm ra
những đặc trưng và giá trị nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL trong hệ thống
đình làng Việt Nam. Góp phần bổ sung những tư liệu còn khuyết thiếu trong kho
tàng nghiên cứu về nghệ thuật dân gian Việt Nam.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL để làm rõ các đặc trưng
và giá trị nghệ thuật của hai ngôi đình trong hệ thống đình làng Việt Nam.
2.3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận án làm rõ tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái
quát về ĐLLT và ĐLHL.


3

- Luận án khai thác các biểu hiện của nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL
thông qua các hình thức trang trí, đề tài và đồ án trang trí.
- Phân tích chuyên biệt tính hiệu quả trong việc sử dụng các yếu tố nghệ
thuật tạo hình như: bố cục, không gian và màu sắc trang trí ở ĐLLT và ĐLHL.
- Luận bàn về đặc trưng và giá trị nghệ thuật trang trí của ĐLLT và ĐLHL
trong hệ thống đình làng Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
3.2.1. Phạm vi không gian
- Phạm vi nghiên cứu tại hai ngôi đình Lâu Thượng và Hùng Lô ở Tp.
Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Vì cả hai ngôi đình có niên đại khác nhau do vậy luận án tập trung nghiên
cứu vào các hình thức trang trí mang nhiều giá trị nghệ thuật như: chạm khắc,

trang trí và điểm tô bởi nhiều màu sắc khác nhau, được xắp xếp trong không gian
ngoại đình và nội đình bởi các hình thức bố cục như đối xứng, phân tầng hay
nương theo kiến trúc để trang trí.
Giả thuyết 2: Nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL phần lớn mang đậm
phong cách tạo hình dân gian cùng mỹ cảm truyền thống dân tộc của người Việt,
bên cạnh sự tiếp biến về tạo hình của mỹ thuật Trung Hoa và Ấn Độ
Giả thuyết 3: Nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL tuy mang nhiều nét
tương đồng so với những ngôi đình khác trong hệ thống đình làng Việt Nam
nhưng vẫn có những đặc trưng và giá trị nghệ thuật riêng biệt mà không phải
ngôi đình nào cũng có (nhất là hình tượng rồng nhân dạng ở ĐLLT).
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu thứ cấp: Thông qua nghiên
cứu sách báo, tạp chí, bài báo khoa học, tài liệu trong và ngoài nước để tìm ra
những ý tưởng khoa học mới. Từ đó hình thành nên những luận điểm cần phải
làm sáng tỏ trong luận án.


5

Phương pháp điền dã: thông qua các chuyến điền dã thực tế nhằm giúp
NCS thu thập, xác minh các dữ liệu phục vụ nghiên cứu một cách rõ ràng, minh
bạch như: xem xét hiện vật di tích, đo đạc, đạc họa, chụp ảnh…
Phương pháp thống kê, so sánh: luận án thống kê các số liệu trong di tích,
so sánh đối chiếu với các di tích khác để tìm ra phong cách nghệ thuật trang trí
điển hình của đối tượng nghiên cứu.
Phương pháp liên ngành: luận án dựa vào thành tựu nghiên cứu của các
ngành có liên quan tới luận án như: kiến trúc, lịch sử, dân tộc, địa lý, văn hóa,…để
từ đó luận giải các vấn đề có liên quan trong luận án.
Bên cạnh đó, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù trong
ngành nghệ thuật học như: phân tích các yếu tố về bố cục, về đường nét, họa tiết,

7. Kết cấu của luận án
Luận án ngoài phần mở đầu (6 trang), kết luận (5 trang), tài liệu tham
khảo (12 trang), phụ lục (70 trang), nội dung được kết cấu 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về
đình làng Lâu Thượng và đình làng Hùng Lô (29 trang).
Chương 2: Hình thức, đề tài và đồ án trang trí đình làng Lâu Thượng và
đình làng Hùng Lô (57 trang).
Chương 3: Bố cục, không gian và màu sắc trang trí đình làng Lâu Thượng
và đình làng Hùng Lô (37 trang).
Chương 4: Bàn luận về đặc trưng và giá trị nghệ thuật trang trí đình làng
Lâu Thượng và đình làng Hùng Lô (31 trang).


7

Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN
VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐÌNH LÀNG LÂU THƯỢNG, ĐÌNH LÀNG HÙNG LÔ
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo các nhà nghiên cứu đi trước, nguồn gốc đình làng manh nha ra đời
vào thế kỷ XV nhưng nghiên cứu về đình làng thì chỉ mới bắt đầu từ TK XX. Đã
có nhiều nhà nghiên cứu phân tích, đánh giá đình làng ở các khía cạnh khác nhau
được phân định theo phong cách nghệ thuật và kiến trúc trong đó có các nhà
nghiên cứu thời kỳ đầu như: Nguyễn Văn Khoan, Hà Văn Tấn, Chu Quang Trứ,
Trần Lâm Biền, Thái Bá Vân... Mỗi tác giả lại đề cập tới các khía cạnh liên quan
tới kiến trúc, điêu khắc, hình tượng con người, hình tượng rồng,... Qua tổng hợp
các dạng tài liệu, NCS phân định theo trình tự về mặt thời gian như sau:
Trong những năm đầu của của TK XX, cụ thể vào năm 1932, Nguyễn Văn
Khoan với công trình nghiên cứu về đình bằng tiếng Pháp Essai sur le đình et le

thuật trang trí trên các cấu kiến trúc được biểu hiện dưới dạng bố cục, không gian,
đồ án, đề tài, hình thức trang trí vẫn chưa được tác giả quan tâm nhiều… Vậy nên,
đây sẽ là hướng mở để NCS tiếp tục hoàn thiện, bổ sung, trong luận án.
Vào năm 1996, Nguyễn Anh Tuấn với luận án tiến sĩ thuộc chuyên ngành
khảo cổ học với đề tài Cụm đình Tam Canh trong hệ thống đình làng Vĩnh Phú
[94]. Công trình nghiên cứu của tác giả bước đầu nghiên cứu về ba ngôi đình
trên đất Vĩnh Phúc, đây là một cụm di tích gồm: đình Hương Canh – đình Ngọc
Canh và đình Tiên Hường. Đề tài nghiên cứu về cảnh quan, di tích và những vị
thần Tam Canh, kết cấu kiến trúc, nghệ thuật chạm khắc,... đáng lưu ý trong
phần 4 tác giả ít nhiều đã kể tên, khảo tả sơ bộ một vài ngôi đình tiêu biểu về
kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc của các ngôi đình miền trung du trong đó có
ĐLLT và ĐLHL. Vì hai đình được nhắc tới không nhiều trong luận án nên thông
tin tác giả cung cấp còn sơ sài và mang tính khái quát. Bên cạnh đó, tính trang trí
và tính nghệ thuật tạo hình như: bố cục, không gian, màu sắc trong nghệ thuật


9

trang trí ở ĐLLT và ĐLHL vẫn chưa được tác giả khai thác và đề cập tới trong
các nghiên cứu về sau này. Vì thế đây sẽ là hướng mở để luận án tiếp tục thực
hiện. Có thể nói rằng, đây được coi là một công trình đề cập nhiều nhất tới hai
ngôi đình là đối tượng nghiên cứu của đề tài, giúp NCS so sánh, đối chiếu sát
hơn trong quá trình thu thập tài liệu và phân tích.
Đến năm 1998, Hà Văn Tấn cùng nhiếp ảnh gia Nguyễn Văn Kự đã khảo
sát các ngôi đình tiêu biểu trên khắp cả nước để viết nên cuốn Đình Việt Nam
[81] – đây được coi là một cuốn sách nghiên cứu có sự đầu tư cả về tư liệu khoa
học và hình ảnh minh họa rất rõ ràng, sinh động. Trong đó bản đầu tiên bao gồm
62 ngôi đình tiêu biểu từ Nam ra Bắc được viết bằng hai thứ tiếng (Tiếng Việt và
Tiếng Anh), cho đến nay cuốn sách vẫn còn có sức hút đối với độc giả cả nước khi
mà chỉ trong vòng 15 năm sách đã được tái bản tới lần thứ 3 vào năm 2013 và ở bản

chuyên biệt là cuốn Mỹ thuật đình làng ở Đồng bằng Bắc Bộ, Nxb Văn hóa
Thông tin [28] của Nguyễn Văn Cương. Trong cuốn sách này, Nguyễn Văn
Cương đã miêu tả nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc đình làng theo sự phân cắt
các biểu tượng với những tư liệu phong phú. Theo tác giả, các yếu tố văn hóa đã
chi phối các giá trị thẩm mỹ, mô thức thẩm mỹ của người Việt khi nghiên cứu
mỹ thuật đình làng từ góc độ nghệ thuật học... Đáng chú ý, trong một công trình
có đối tượng khảo sát lớn như thế này, tác giả có điểm qua và nhắc đến cả hai
ngôi đình Lâu Thượng và Hùng Lô ở một vài chi tiết trong phần đặc trưng của
chạm khắc đình làng Bắc Bộ như: tượng thờ Hai Bà Trưng ở đình Lâu Thượng
(tượng cũ), tranh trang trí ở ĐLHL. Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa phân tích về
nghệ thuật trang trí của hai đình này trong một số phần mô tả khác. Vì vậy, luận
án sẽ tiếp tục đi sâu, nghiên cứu và chứng minh tính trang trí của ĐLLT và
ĐLHL là mang tính điển hình như tác giả đã nêu lên trong hệ thống trang trí đình
làng Việt Nam.
Cuốn Đình làng vùng Châu thổ Bắc Bộ do Trường Đại học Mỹ thuật Việt
Nam xuất bản (2013) [138]. Trong lời tựa, Lê Văn Sửu – Hiệu trưởng trường Đại
học Mỹ thuật Việt Nam cũng đưa ra nhận định rằng: “Cuốn sách tập hợp tư liệu,
không phải là công trình nghiên cứu mang tính chuyên luận, chưa đi sâu nhưng


11

đa diện”, “Từ một số ngôi đình điển hình, các tác giả cũng đề cập tới những thao
tác nghệ thuật và phần nào đã bước vào hệ thống giá trị biểu tượng mà người xưa
đã lập”, “Bằng vào sự sắp xếp theo niên đại hiện còn được xác định được trong
di tích, các tác giả như vô tình đã đưa người đọc theo con đường lịch sử nảy sinh,
tồn tại, phát triển và suy vong của kiến trúc” [138, lời tựa, tr.87]. Theo ý này, khi
quan sát phần mục lục cho thấy cả hai ngôi đình làng Lâu Thượng và Hùng Lô
đều nằm ở vị trí tương đối gần nhau và ở khoảng giữa (tức ra đời vào thời kỳ
phát triển và hưng thịnh nhất trong cả một chu kỳ ra đời và kết thúc của các ngôi

bản vẽ rồng (đình Lỗ Hạnh – Bắc Giang – tr.131), bản phượng rập (đình Thổ Hà
– Bắc Giang – tr.131),… Tuy nhiên, cuốn sách không có các dẫn chứng về
ĐLLT và ĐLHL vì thế nghệ thuật trang trí ở hai ngôi đình này vẫn còn là nghiên
cứu bỏ ngỏ và đây là lý do luận án tiếp tục thực hiện.
Trong số những nghiên cứu của Trần Lâm Biền, một luận điểm đáng chú
ý trong cuốn Con đường tiếp cận lịch sử (2013) [15] có liên quan trực tiếp tới đề
tài, tác giả khẳng định: “có một tạo hình Mạc đích thực, làm tiền đề cho một
dòng chảy mỹ thuật dân dã phát triển tới cao đỉnh ở thế kỷ XVII. Cũng không thể
quên được đình làng Lâu Thượng, đình làng Hùng Lô một điển hình của dòng
nghệ thuật riêng. Nơi ấy, những con rồng lớn, như quá cỡ, mà khó có thể thấy
trên chạm gỗ của các di tích khác” [15, tr.369]. Từ luận điểm trên đây, tác giả đã
khẳng định rất rõ ràng về một phong cách Lâu Thượng có sự khác biệt lớn so với
các ngôi đình khác, sẽ là cơ sở để người nghiên cứu khẳng định về sự khác biệt
của ngôi đình này trong quá tình phân tích và nghiên cứu.
Cuốn sách Kiến trúc đình làng Việt (Qua tư liệu của Viện bảo tồn di tích)
– Tập 1, Nxb Văn hóa Dân tộc (2017) [137]. Đây là nghiên cứu mới xuất bản
nhưng đã được các các độc giả rất quan tâm tìm đọc bởi trong đó chứa những
thông tin cơ bản về tên gọi các cấu kiện kiến trúc, các bản vẽ mô tả rất chi tiết về
mặt cắt, mặt bằng tổng thể, mặt đứng và cũng như nghệ thuật trang trí trên đó,…
Tuy cuốn sách chỉ khai thác 15 ngôi đình được xuất phát từ các ngôi đình cổ có
giá trị ở miền Bắc Việt Nam và trong đó quần thể ĐLHL được các nhà nghiên
cứu khảo tả, đạc họa bằng các bản vẽ kỹ thuật rất đẹp về mặt bằng kiến trúc với


13

một số họa tiết trang trí trên các cấu kiện cơ bản. Mặc dù có bản vẽ mô tả nhưng
các mô típ trang trí ở ĐLHL vẫn còn rất hạn chế và ở đây cũng không có bản vẽ
đạc họa ĐLLT cùng các mô típ trang trí, vì thế luận án tiếp tục nghiên cứu để
hoàn thiện bổ sung nhất là các đồ án trang trí ở hai ngôi đình.

trình lớn, tiêu biểu như:
Một công trình nghiên cứu về địa lý, nhân văn của Pierre Gourou trong
cuốn Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ được xuất bản bởi Viện Viễn Đông Bác
cổ (EFEO) vào những năm 30 của TK XX [134]. Công trình là sự đầu tư nghiên
cứu công phu, đề cập được nhiều vấn đề liên quan tới địa lý, khí hậu, nông
nghiệp, dân số, lệ làng,… của những người nông dân vùng châu thổ Bắc Kỳ nói
chung. Trong đó đáng chú ý, tác giả đã mô tả sơ bộ về một đình làng mà theo tác
giả là “lớn nhất và đẹp nhất Bắc Kỳ” [134, tr.352] đó là Đình làng Đình Bảng.
Những bản vẽ đạc họa dưới sự cộng tác của sinh viên trường Mỹ thuật Đông
Dương về đình Đình Bảng rất tỉ mỉ, mô tả kiến trúc theo các mặt cắt chính diện,
mặt nghiêng theo luật thấu thị và có sự so sánh với ngôi nhà của người miền núi…
Ngoài Pierre Gourou, tiêu biểu là Léopold Cadiere với công trình Les
motifs L'art Anamite. B.A.V.H. No.1 [149] (Họa tiết trong mỹ thuật An Nam) là
công trình được tác giả trau chuốt với những bản vẽ rất đẹp, tỉ mỉ và công phu
mô tả lại các đối tượng trang trí như: gương đồng, hạc đứng trên lưng rùa, bộ
cửa gỗ, hoành phi, lân trên đỉnh cột trong các công trình đình, chùa, đền của
người Việt. Thông qua sự nỗ lực của Léopold Cadiere trong việc vẽ lại các mô
típ trang trí ta có thể thấy các hoa văn họa tiết trang trí của người An Nam thể
hiện ở nhiều dạng thức bố cục cũng như ngôn ngữ nghệ thuật tạo hình khác nhau
nhất là các nguyên tắc trang trí được sử dụng triệt để như: đăng đối, nhắc lại, xen
kẽ, phá thế. Tuy công trình là một bước tiến lớn khi áp dụng kiến thức khoa học
trong công việc nghiên cứu mỹ thuật của người Việt nhưng dường như thật thiếu
sót khi các mảng chạm khắc trên cấu kiện kiến trúc ở những ngôi đình làng hầu
như bị tác giả bỏ quên.
Ngoài hai tác giả tiêu biểu kể trên, còn có một số tác giả khác như
Tingley, Nancy (2009) viết Arts of Ancient Vietnam from river plain to open sea


15



16

Theo định nghĩa trong từ điển Bách khoa thư nghệ thuật phổ thông, trang
trí được định nghĩa như sau:
Trang trí (decoration) là một tổng hợp những thuộc tính nghệ thuật để
làm tăng vai trò biểu hiện cảm xúc và tổ chức mỹ thuật của những tác
phẩm nghệ thuật trong môi trường vật thể bao quanh con người. Chiếm
vị trí quan trọng trong việc tạo ra ấn tượng trang trí của tác phẩm nghệ
thuật là: đồ trang trí, là sự biểu cảm những vẻ độc đáo tự nhiên của
những chất liệu và những đặc tính cố hữu của các hình thức nghệ thuật,
là tổ chức bố cục những nhịp điệu của đường nét, của các khối hình và
các mảng màu sắc,… Trang trí là một trong những phương tiện nghệ
thuật chính của những tác phẩm nghệ thuật trang trí tạo hình. Trang
trí có mặt như một thành tố cố hữu của các tác phẩm nghệ thuật tạo
hình và nghệ thuật kiến trúc [141, tr.212 – 214].
Dựa vào hai định nghĩa trên đây, cho ta thấy sự khá đồng nhất trong việc
định nghĩa về trang trí, rõ ràng trang trí là một thuộc tính làm tăng tính chất thẩm
mỹ cho một tác phẩm nghệ thuật thông qua việc sử dụng các yếu tố về tạo hình
như bố cục, đường nét, hình khối, màu sắc,… đây được xem là một thành tố
quan trọng trong các tác phẩm nghệ thuật tạo hình và nghệ thuật kiến trúc để làm
tăng tính thẩm mỹ cho tác phẩm nghệ thuật.
* Khái niệm nghệ thuật trang trí:
Cũng vẫn theo từ điển Bách khoa thư nghệ thuật phổ thông, khái niệm
về Nghệ thuật trang trí được làm rõ hơn và đặc biệt nhấn mạnh ở tương quan
kiến trúc như sau:
Nghệ thuật trang trí là một lĩnh vực của nghệ thuật tạo hình, mà những
tác phẩm của nghệ thuật này, cùng với kiến trúc tạo ra một cách nghệ
thuật một môi trường vật chất bao quanh con người, đem vào môi
trường đó tính thẩm mỹ, tính tư tưởng và tính hình tượng. Nghệ thuật

cho đẹp và thích hợp với bố cục trang trí, mà có điểm đặc sắc nhất là tưởng tượng
làm cho các vật biến thể ra vật khác để tăng thêm ý nghĩa và tính chất trang trí của
đồ án” [49, tr.321].


18

Do vậy, khi áp dụng thuật ngữ này vào nghiên cứu về nghệ thuật trang trí
ĐLLT và ĐLHL cần phải kết hợp giữa lý luận khoa học phương Tây và mật ngữ
phương Đông mới tìm ra được đúng bản chất thật sự của đối tượng nghiên cứu. Do
vậy, nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL không chỉ đơn giản là làm đẹp mà còn
biểu thị cho những giá trị biểu tượng thiêng liêng trong văn hóa của người Việt.
* Khái niệm đình làng
Trong cuốn Đình Việt Nam [78], Hà Văn Tấn cho rằng: “Đình là ngôi
nhà công cộng của cộng đồng làng xã Việt Nam. Nơi đây ba chức năng được
thực hiện: hành chính, tôn giáo và văn hóa... Có thể nói đình là một tòa thị
chính, một nhà thờ và một nhà văn hóa cộng lại của làng xã Việt Nam. Ngôi
đình là biểu tượng cho cộng đồng làng xã Việt Nam, là một yếu tố hữu hình
của văn hóa làng Việt Nam” [78, tr.13].
Tiếp nối khái niệm về đình, cuốn Mỹ thuật đình làng đồng bằng Bắc Bộ
[19] Nguyễn Văn Cương cũng nhận định:
Khái niệm đình khi du nhập vào Việt Nam, đã được tiếp thu và biến đổi
như sau: Một là, là du nhập nguyên mẫu. Giới thượng lưu, quý tộc
phong kiến đã xây dựng đình theo kiểu Trung Quốc để sinh hoạt và giải
trí hoặc sau này vào thời Nguyễn phương đình được “cấy” vào khuôn
viên đình làng trước đại đình với chức năng nhà tiền tế; các điểm dừng
chân cho du khách, như đình trạm. Hai là, người Việt chỉ mượn từ
“đình” để gọi ngôi kiến trúc – nhà công cộng của làng xã như một thiết
chế văn hóa – tín ngưỡng, với ba chức năng dần được hình thành theo
sự phát triển của đình làng: hành chính, văn hóa, tín ngưỡng. Thiết chế

sắc, bố cục, họa tiết… làm cho đối tượng được trang trí trở nên nhất quán trong
phong cách tạo hình, gợi cho đối tượng được trang trí có cảm giác vận động.
- Xen kẽ: Xen kẽ các yếu tố tạo hình như: đậm – nhạt, nóng – lạnh, to –
nhỏ, chi tiết – nền, sáng – tối … làm cho bố cục trở nên được chặt chẽ và sinh
động hơn, tạo ra kết nối và tránh sự nhàm chán trong quá trình trang trí.


20

- Phá thế: là quá trình sử dụng các yếu tố tạo hình như: đường nét, khối,
họa tiết… để phá bỏ các đường, hướng, có xu thế gây nhàm chán, đơn điệu, có
khả năng chi phối hay tạo ra sự lấn lướt các bố cục khác.
- Đảo chiều (xoay chiều): là nguyên tắc một hay một nhóm họa tiết có xu
hướng xoay chiều ngược lại với một hay một nhóm họa tiết khác trong một bố
cục trang trí để thay đổi hiệu ứng giúp cân bằng lại bố cục.
* Một số thuật ngữ trong kiến trúc cổ, truyền thống của người Việt
- Bộ vì: Theo khái niệm trong cuốn Đình làng Việt (Châu Thổ Bắc Bộ) “bộ
vì không nên dừng lại ở các cấu kiện phía trên của kiến trúc (vì nóc mái) và chỉ
làm chỗ dựa cho kết cấu đỡ mái, mà nên quan niệm bộ vì phải bao gồm toàn bộ
kết cấu khung chịu lực theo chiều ngang công trình (gồm cả cột, câu đầu, các xà
ngang và vì nóc) tạo thành khung cơ bản, kết hợp với hệ giằng để tạo thành bộ
khung chịu lực hoàn chỉnh” [16, tr.74].
- Ván gió/ván giong: “là loại cấu kiện được nong vào giữa các xà giằng
cột, có tác dụng ngăn chia không gian một cách giả định và tác dụng trang trí nội
thất kiến trúc” [16, tr.87].
- Vì nách (hay cốn): “Là cách liên kết các cấu kiện ở khoảng không gian,
có hình tam giác vuông, tạo thành giữa cột cái và cột quân. Tam giác vuông này
có cạnh dài là xà nách, cạnh ngắn là độ cao hơn của cột cái so với cột quân và
cạnh huyền là dộ dài của phần dưới mặt mái giữa hai cột kể trên” [16, tr.87].
- Hoành phi, câu đối: là một trong những bộ phận không thể thiếu trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status