ĐƠN VỊ CHỦ QUẢN:PHÒNG GD&ĐT GIÁ RAI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ĐƠN VỊ :THCS HỘ PHÒNG Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Số :……../BC……. Hộ phòng ,ngày 05 tháng 09 năm 2009
BÁO CÁO HOẠT ĐỘNG BỘ MÔN NĂM HỌC 2008 -2009
VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG BỘ MÔN NĂM 2009 – 2010
MÔN : HÓA HỌC
I.Đánh giá tìh hình hoạt động bộ môn hóa học ,năm học 2008 -2009.
1.Đặc diểm môn học:
óa học là môn khoa học tự nhiên. Việc dạy và học bộ môn hóa học ở bậc THCS
nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức hóa học cơ bản về cấu tạo chất, định
luật hóa học, các khái niệm hóa học, hóa trị, nguyên tố, viết đúng công thức hóa
học, lập phương trình phản ứng, nắm vững tính chất vật lý và hóa học của các
chất, vận dụng có chọn lọc, nhuần nhuyễn lý thuyết để giải bài tập. Ngày nay
cuộc cách mạng công nghệ đang phát triển như vũ bảo dẫn tới sự bùng nổ thông tin trong nhiều
lĩnh vực, trong đó có những thông tin mới về Hóa học. Vậy làm thế nào để học sinh tiếp thu kiến
thức theo hướng tích cực, sáng tạo? Điều đó đòi hỏi mỗi thầy cô giáo giảng dạy bộ môn Hóa học
cần đầu tư suy nghĩ tìm biện pháp tốt nhất giúp học sinh hiểu được bài nhanh, vận dụng tốt kiến
thức để làm bài tập cũng như biết vận dụng kiến thức đó vào trong thực tế cuộc sống, giải thích
được một số hiện tượng.
H
Trong những năm học qua và năm học này tôi đã vận dụng một số phương pháp để giảng
dạy học sinh thấy đạt được một số kết quả rất đáng khích lệ, những phương pháp đó là :
- Sử dụng sơ đồ hóa.
- Dạng câu hỏi trắc nghiệm.
- Tác động đến giác quan học sinh.
- Hoạt động nhóm.
- Hướng dẫn các bước để học sinh giải một bài toán Hóa.
Chúng tôi thử đề nghị một số giải pháp giúp giải quyết các vấn đề nêu trên như sau:
Giải pháp 1: Dùng sơ đồ hóa ở một số bài học trong chương trình
Nhằm trình bày kiến thức ngắn gọn, trọng tâm, phát huy tính tích cực của học sinh; học sinh vừa
nhớ kiến thức cũ, vừa làm bài tập nhanh, không mất nhiều thời gian. Để sử dụng sơ đồ vào việc
vững hơn, nhớ lâu hơn, thấy được mối liên quan giữa các chất từ đó vận dụng vào viết chuỗi
biến hóa, nhận biết, viết đúng PTPƯ.
Giải pháp 2: Sử dụng câu hỏi trắc nghiệm
Kiểu câu hỏi này thường phát huy tính tích cực, độc lập sáng tạo của học sinh tạo sự hứng
thú học tập, dạng câu hỏi này huy động được nhiều học sinh tham gia kể cả học sinh yếu, ngại
phát biểu. Đồng thời tiết kiệm được thời gian bởi chỉ cần trả lời đúng, sai, có, không, a, b … nó
giúp học sinh tránh nhầm lẫn trong quá trình nhớ kiến thức vì trước khi trả lời học sinh phải so
sánh, lựa chọn. Nếu chúng ta muốn phát triển khả năng diễn đạt của học sinh ở mức cao hơn thì
đặt cầu hỏi “Vì sao?”. Những lúc lớp quá trầm, giờ học căng thẳng hay bài học quá khô khan
phần củng cố, luyện tập thì Tóm lại, việc dùng sơ đồ hóa trong giờ dạy hay củng cố, luyện tập để
học sinh nắm bài vững hơn, nhớ lâu hơn, thấy được mối liên quan giữa các chất từ đó vận dụng
vào viết chuỗi biến hóa, nhận biết, viết đúng PTPƯ.
Giải pháp 3: Sử dụng câu hỏi trắc nghiệm
Kiểu câu hỏi này thường phát huy tính tích cực, độc lập sáng tạo của học sinh tạo sự hứng
thú học tập, dạng câu hỏi này huy động được nhiều học sinh tham gia kể cả học sinh yếu, ngại
phát biểu. Đồng thời tiết kiệm được thời gian bởi chỉ cần trả lời đúng, sai, có, không, a, b …
nó giúp học sinh tránh nhầm lẫn trong quá trình nhớ kiến thức vì trước khi trả lời học sinh
phải so sánh, lựa chọn. Nếu chúng ta muốn phát triển khả năng diễn đạt của học sinh ở mức
cao hơn thì đặt câu hỏi “Vì sao?”. Những lức lớp quá trầm, giờ học căng thẳng hay bài học
quá khô khan phần củng cố, luyện tập thì câu hỏi trắc nhiệm là một giải pháp hữu hiệu.
Ví dụ :
Sau khi học bài Bazơ giáo viên đưa ra câu hỏi trắc nghiệm :
1. Các phương trình phản ứng sau, phản ứng nào đúng, phản ứng nào sai :
a./ Zn(OH)
2
+ 2HCl ZnCl
2
+ 2 H
2
O
; KOH ; Cu(OH)
2
; Al(OH)
3
d./ Cu(OH)
2
; Al(OH)
3
; Fe(OH)
2
; Zn(OH)
2
3. Dung dịch NaOH có thể phản ứng với những chất nào sau đây :
C
2
H
4
Rượu etylic
C
2
H
5
OH
+ ?
?
C
2
H
5
SO
4
; SO
3
; Ba(OH)
2
d./ HCl ; quỳ tím ; Cu(OH)
2
; P
2
O
5
Giáo viên chọn 10 bài của học sinh, tạo sự hứng thú trong học tập và sự mạnh dạn cho học
sinh, số học sinh giơ tay phát biểu sẽ tăng hơn. Nhằm kiểm tra sự tiếp thu bài của học sinh sau
câu trả lời đúng – sai giáo viên có thể đặt câu hỏi tại sao em lại trả lời như vậy? Lúc này đòi hỏi
học sinh phải vận dụng kiến thức để trả lời, rèn khả năng diễn đạt của học sinh.
Với câu hỏi như vậy giáo viên đánh giá được sự tiếp thu kiến thức của học sinh tới đâu,
nhưng quan trọng hơn là huy động được nhiều người tham gia, tạo cơ hội cho học sinh được trả
lời phát biểu ý kiến của riêng mình. Câu hỏi trắc nghiệm còn được sử dụng trong giờ luyện tập,
ôn tập, làm bài tập hóa học. Trong giờ bài tập đòi hỏi người học sinh phải củng cố kiến thức toàn
chương và cả những kiến thức cũ để giải quyết vấn đề. Đây cũng là lúc mà học sinh nâng cao
khả năng thông hiểu kiến thức môn học. Dạng câu hỏi trắc nghiệm đưa ra có thể là đúng, sai,
điền khuyết điểm, chọn a, b, …
Tóm lại, việc dùng câu hỏi trắc nghiệm trong giờ giảng bài hay trong giờ luyện tập, làm bài
tập đều làm cho học sinh phát triển những kỹ năng mới, quen dần với cách giải quyết vấn đề mà
yêu cầu do giáo viên đặt ra để từ đó học sinh tự rút ra được là mình cần phải học như thế nào để
làm được các bài tập dạng này. Phương pháp này không những gây hứng thú học tập cho học
sinh mà còn phát triển kỹ năng mới của học sinh phù hợp với yêu cầu xu hướng chung của sự
phát triển giáo dục.
O
Tại sao có kết tủa xanh? NaOH + CuSO
4
Nếu ở thí nghiệm nào ta cũng khai thác một cách triệt để như thế có nghĩa là ta đã ôn tập,
củng cố, khắc sâu và dạy cho học sinh biết vận dụng kiến thức. Đồng thời đó cũng là cách huy
động kiến thức cũ để tiếp thu vốn kiến thức mới, đó là cách học tự giác, tự lực, nó tích cực hóa
hoạt động nhận thức hoạt động của học sinh. Quan trọng hơn chính là thí nghiệm do tự tay các
em làm được chủ yếu làm trong giờ thực hành. Học sinh sẽ thích thú hơn khi tự tay mình lấy hóa
chất, lắp ráp thiết bị, tiến hành thí nghiệm thành công.
Tóm lại, với phương pháp này sẽ huy động được sự tham gia của nhiều giác quan, kết hợp
với lời nói sẽ tạo điều kiện dễ hiểu, dễ nhớ, nhớ lâu, làm phát triển năng lực chú ý, năng lực quan
sát, óc tò mò khoa học của các em.
Giải pháp 5 : Hoạt động nhóm
Hình thức học tập theo nhóm tại lớp là hình thức dạy học có sự kết hợp tính tập thể và tính
cá nhân, mà trong đó học sinh trong nhóm dưới sự chỉ đạo của giáo viên trao đổi những ý tưởng,
nguồn kiến thức với nhau, giúp đỡ, hợp tác với nhau trong việc lĩnh hội tri thức, hình thành kỹ
năng, kỹ xảo. Từng thành viên của nhóm không những có trách nhiệm với việc học tập của mình
mà còn có trách nhiệm quan tâm đến việc học tập của các bạn khác trong nhóm.
Đặc trưng của hình thức học tập thảo luận theo nhóm là sự tác động trực tiếp giữa học sinh
với nhau, cùng phối hợp hoạt động.
Cách chia nhóm : Tùy thuộc vào nội dung bài học và thời lượng của tiết học giáo viên có
thể sử dụng các cách tổ chức nhóm như sau :
- Làm việc theo cặp 2 học sinh:
- Làm việc theo nhóm 5 – 6 học sinh:
*Bài tập cho hoạt động trao đổi : Mỗi nhóm giải quyết một vấn đề khác nhau (nhưng
cùng một chủ đề), sau đó trao đổi vấn đề và cách giải quyết vấn đề của nhóm mình với các nhóm
khác. Hoạt động này thường được sử dụng cho những bài học có nhiều vấn đề cần giải quyết
trong một thời gian ngắn.
*Bài tập cho hoạt động so sánh : Tất cả các nhóm cùng giải quyết vấn đề, sau đó so sánh
cách giải quyết khác nhau giữa các nhóm. Hoạt động so sánh thường dùng cho những bài học có
+ Giúp hình thành tính tích cực nhận thức và sự thích ứng nhanh chóng với nhịp điệu làm
việc cùng nhau.
+ Tạo điều kiện cho tất cả học sinh có cơ hội tham gia vào các hoạt động hoạc tập trong
lớp.
+ Học sinh có khả năng rèn luyện được năng lực diễn đạt, tăng cường sự tự tin và phát
huy tính chủ động, sáng tạo.
+ Phương pháp này phát huy cao độ tính tích cực, độc lập sáng tạo của người học dưới tác
động chủ đạo của giáo viên tạo nên sự cộng hưởng cho hoạt động dạy và học.
Giải pháp 6: Phương pháp giải một số dạng toán hóa học.
Để hướng dẫn học sinh giải được một số dạng toán hóa trong chương trình THCS theo
hướng tích cực, sáng tạo, để hình thành kỹ năng giải các dạng toán Hóa áp dụng cho tất cả học
sinh với trình độ khác nhau. Trong giờ luyện tập giáo viên cần đưa ra các dạng bài tập từ dễ đến
khó dần -> hướng dẫn học sinh cách giải, tùy theo kiến thức của từng chương từng khối lớp sẽ có
những dạng toán khác nhau, nhưng tất cả đều tiến hành theo một trình tự nhất định.
- Bước 1: Đọc đề bài toán.
Đọc kỹ đề bài, gạch chân dưới các phần cơ bản của đề bài, xác định được phương trình của
đề bài.
- Bước 2: Tóm tắt đề.
Xác định đúng dữ kiện của bài, đâu là dữ kiện đề bài cho, đâu là dữ kiện đề bài hỏi từ đó
ghi vắn tắt thành hai phần riêng biệt; đổi đơn vị của các đại lương cùng một hệ thống nhất.
a./ Những điều đã biết.
b./ Những điều cần tìm.
Lưu ý : phần tóm tắt đề cần sử dụng các ký hiệu, công thức, phương trình hóa học để dễ
dàng theo dõi tìm mối quan hệ cần thiết cho việc tìm kiếm lời giải.
- Bước 3: Phân tích đề.
+ Tìm mối liên hệ giữa các yêu cầu của bài và dữ kiện bài cho.
+ Phân tích bài toán thuộc dạng nào.
+ Tìm phương pháp phân tích ngược để phân tích dữ kiện của đề bài cho. Nên đi
từ câu hỏi cho học sinh thấy được ngay vấn đề cần tìm.
- Bước 4: Giải bài toán.