Sự tích hoa anh đào (CHERRY BLOSSOM)
Ngày xưa ở xứ Phù tang chưa có hoa anh đào như bây giờ. Tại một ngôi làng
xinh xinh ven núi Phú Sĩ ,có một chàng trai khôi ngô tuấn tú dũng cảm khác
thường. Năm chàng mới tròn một tuổi ,có một đạo sĩ phiêu bạt ghé qua nhà,
nhìn cậu bé, mỉm cười đặt vào tay người cha thanh sắt đen bóng rồi lặng lẽ ra đi.
Lúc đấy đang mùa đông tuyết rơi tầm tã vị đạo sĩ đi khuất trong mưa tuyết rồi mà
người cha vẫn thẫn thờ nhìn trông theo. Đặt thanh kiếm vào tay người vợ trẻ,
ông nói như thì thầm :”Hãy cất kỹ và giao thanh sắt này lại cho con trai chúng ta
khi nó tròn 14 tuổi. Số phận đã an bài nó sẽ trở thành một kiếm sĩ lừng danh”.
Cha cậu bé qua đời. Người vợ trẻ ở vậy nuôi con. Thanh sắt đen bóng được
giao lại cho chàng trai năm cậu tròn 14 tuổi. Cậu rùng mình vuốt ve kỹ vật huyền
bí nặng nề ấy. Một sức mạnh kỳ lạ, một khát khao khó hiểu tràn ngập vào cơ thể
tươi non dũng mãnh của cậu. Người mẹ chưa kịp nói gì thì cậu đã run rẫy thốt
lên trong cảm xúc nghẹn ngào: “Ta phải trở thành một kiếm sĩ nổi tiếng nhất đất
nước này”.
Chàng trai đến rạp đầu xin thụ giáo một võ sĩ đạo lừng danh. Vị samurai ngắm
nhìn chàng trai từ đầu đến chân, trầm ngâm suy tư bất động hàng giờ liền. Cuối
cùng ông thở dài lẩm bẩm một mình “oan nghiệt” và chấp thuận. Thời gian thấm
thoát thoi đưa, tuổi 18 thanh xuân tràn trề sức sống đến với người kiếm sĩ. Tay
kiếm của chàng khiến những samurai kiêu hùng nhất cũng phải e dè. Nhưng còn
thanh sắt? Chàng đã tự mình rèn nó thành thanh kiếm sáng ngời đầy uy lực.
Nhưng chưa được. Một thanh kiếm báu thực sự phải được tắm mình trong máu
ngay trong ngày khai trận. Biết nhúng lưỡi thép uy lực này vào máu ai khi chàng
chưa hề có kẻ thù, khi chàng chưa hề đối mặt với kẻ cướp, khi chàng chưa tìm
được bất cứ lý do gì để quyết đấu một phen? Lúc này người mẹ và người thầy
của chàng đã khuất núi. Cô gái duy nhất của vị võ sư lừng danh năm xưa là
người thân yêu còn lại duy nhất của chàng. Mỗi ngày khi nắng đã tàn lụi trên núi
Phú sĩ , đêm đã tràn ngập trên xóm núi , cô gái lại buồn bã nhìn chàng ngồi bất
động ,trầm tư bên bếp lửa. Chàng không còn cười nữa, mắt chàng lạnh như
tuyết, chàng ôm thanh kiếm mà ước mơ ngày nó được tắm mình trong máu để
trở thành bảo kiếm vô địch thiên hạ
thủ lĩnh Nato dùng tay chuyển quả trứng đó sang một cái cây khác, và sự kiện
đó được coi như một ngày hội lớn
- Cô cô cô! - Tiếng thày cúng thốt lên, có nghĩa là Cứ sẵn sàng đi!
Hết thảy đàn bà và con gái chạy đến, cùng đáp to:
Khô!
Ðiều đó có nghĩa là: Chúng tôi đã sẵn sàng!
Hỡi các cô gái! Hãy nhanh chóng trèo lên ngồi vào các cành cây! Khi đó bọn da
trắng sẽ không biết được chim làm tổ trên cây nào. Còn nếu chúng tìm thấy tổ
chim thì Taxan útke sẽ chạy đi tìm
- Các con đã xả thân bảo vệ kho báu của bộ lạc ta, các con xứng đáng được ban
thưởng. Tâm hồn các con sẽ biến thành những bông hoa ngát hương, chúng sẽ
không ngừng sinh sôi trên các cành cây kia và sẽ kể lại cho các thế hệ mai sau
về chiến công bảo vệ loài chim mỏ vàng của các con.
Những bông hoa tuyệt vời và đủ loại tựa như các cô gái của bộ lạc Aruaki đang
đua nở trên các cành cây.
Người đời nay gọi đó là hoa Phong Lan.
Sự tích Hoa Tulip
Bạn đã có dịp được nghe hoa trò chuyện chưa? Còn tôi, thú thật là vào một sớm
đầu xuân tôi đã tình cờ được nghe hoa Tuyết trò chuyện với hoa Tu Líp của
người Udơbếch rồi. Ðúng hơn là hoa Tu Líp nói, còn hoa Tuyết thì chỉ lắng tai
nghe, thi thoảng mới ngắt lời bạn bằng một vài câu hỏi.
Nhưng tốt nhất là tôi sẽ kể lần lượt cho các bạn nghe mọi chuyện. Tôi đã được
một người bạn gái tặng cho mấy hạt hoa Tu Líp tìm được trên các sườn đá
Derapsan. Về mùa Thu tôi đem những cái hạt ấy trồng trong mảnh vườn bên
cạnh bức tường nhà, gần một khóm hoa Tuyết.
Vào một đêm tháng tư, tôi ngồi lại khá muộn trước một công trình mà tôi chỉ
muốn làm cho xong ngay. Khi tôi đặt dấu chấm cuối cùng rồi ra mở cửa sổ, ngồi
xuống chiếc ghế bành nghỉ xả hơi, hít thở luồng không khí trong lành thì ở phía
chân trời đã rực lên ánh bình minh. Tôi chợt nghe có tiếng reo thanh thanh, thật
tươi rói và dễ chịu, hệt như những chiếc ly pha lê chạm nhẹ vào nhau ở đâu đó.
hào thêm lên, và cặp mắt đen láy thì sáng rực như hai vì sao, không một công
chúa nào có thể sánh được.
Ðúng giờ khắc ấy, số phận cay nghiệt đã phái điền chủ Hamít cưỡi một con
ngựa hùng dũng đến trước đàn cừu. Vừa trông thấy nàng Tu Líp nhảy múa, gã
bèn dừng ngựa lại, nấp sau mấy bụi cây nhỏ theo dõi từng động tác nhảy tuyệt
diệu của cô gái kiều diễm.
Nhảy xong Tu Líp nói với cha:
- Cha ơi, con muốn được múa hát cả đời để cho mọi người được vui sướng.
- Ôi, con yêu quí của ta - người cha lắc đầu - Con là một cô gái nghèo hèn, kiếm
đâu ra những xiêm áo lụa là và những bộ y phục múa trong suốt?
Hamít rình chờ cho đến khi cô gái mang bát đĩa về nhà thì xông ra túm lấy cô
đưa cô về dinh cơ nhà mình. Gã đẩy Tu Líp vào một căn phòng kín, ở đó đã có
hàng trăm cô gái đẹp đang dệt thảm. Suốt từ lúc mặt trời mọc cho đến tận hoàng
hôn, Tu Líp dầm mình trong đám bụi nhuế nhoá với công việc dệt thảm tẻ ngắt
và mệt mỏi. Một mùa Hè tối tăm và tuyệt vọng đã qua. Rồi mùa Thu và mùa
Ðông cũng chấm hết. Nhưng khi mùa Xuân vừa đến thì nỗi buồn nhớ núi non,
nhớ những con suối chảy rì rào và tiếng chim ca bỗng dày vò Tu Líp khôn nguôi,
khiến nàng phải đi đến quyết định: Hoặc là chết hoặc là trở về với tự do.
Một bữa nọ, cô gái lại bên cửa sổ phóng tầm mắt qua lỗ khe nhỏ nhìn xuống
phía dưới. Nàng phát hiện ra ở ngay dưới chân cửa sổ có vô số những mảnh
chai, kính vỡ - đó chính là cái bẫy, nếu tù nhân nữ nào liều mạng phá cửa sổ bỏ
trốn thì sẽ bị cứa đứt chân.
Ðúng lúc đó có một con chim bay đến đậu ngay bên bệ cửa sổ - đấy chính là con
bồ câu trắng của người chị cả tên là Phairidôđa.
Làm thế nào để báo tin về nhà đây? Tu Líp không biết viết, thậm chí ở nhà cũng
chẳng ai biết đọc. Cô vội vã cắt ngay một mớ tóc đen của mình, dứt một vài sợi
quí vẫn thường dùng để dệt thảm rồi chuyển qua khe hở cho chú bồ cầu tin cẩn.
Chim tạm biệt nàng, bay đi.