KHÁI NIỆM VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG CỦA PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA CP DT LN - Pdf 63

KHÁI NIỆM VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG CỦA PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA
CP DT LN
1.1.1 Khái niệm phân tích mối quan hệ giữa CP – DT – LN
Phân tích mối quan hệ giữa CP – DT – LN là một kỹ thuật của KẾ TOÁN QUẢN
TRỊ để đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố chi phí (bao gồm biến phí và định phí), doanh
thu (bao gồm giá bán và sản lượng) đối với lợi nhuận của doanh nghiệp.
Trong nhiều tài liệu, cụm từ “sản lượng” được sử dụng thay cho cụm từ “DT” ở
trên. Tuy nhiên theo tôi, sử dụng cụm từ “DT” là hợp lý, bởi lẽ nó xem xét hoạt động của
doanh nghiệp một cách tổng thể hơn. Ngày nay, đa số các doanh nghiệp đều sản xuất kinh
doanh nhiều mặt hàng với những đơn vị đo lường khác nhau, và cách phân tích theo “DT”
sẽ giúp loại trừ sự khác nhau ấy. Mặt khác, ở gốc độ toàn bộ sản phẩm, cách ứng xử của
chi phí cũng thường được xác định trong mối quan hệ với DT hơn là sản lượng để có thể
tính chung biến phí trên doanh thu cho toàn bộ các loại sản phẩm.
Mối quan hệ giữa CP – DT – LN được thể hiện trong phương trình kinh tế cơ bản
xác định LN dưới đây:
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí
Từ phương trình trên có thể có nhiều cách nhìn và khai thác khác nhau về mối quan
hệ này.
1.1.2 Ý nghĩa của phân tích mối quan hệ CP – DT – LN
Trong cơ chế thị trường cạnh tranh ngày nay, để có thể tận dụng được cơ hội và đẩy
lùi được thách thức, đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm bắt thông tin một cách kịp thời và
chính xác. Do đó việc tổ chức kế toán quản trị song hành với hệ thống kế toán tài chính
đang là một đòi hỏi đối với nhiều doanh nghiệp.
Với tư cách là một trong những công cụ chủ lực của kế toán quản trị, phân tích mối
quan hệ giữa CP – DT – LN có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc khai thác khả
năng tiềm tàng của doanh nghiệp. Nó không chỉ là cơ sở đưa ra các quyết định ngắn hạn
(quyết định về giá, quyết định chấp nhận hay từ chối một đơn hàng…) của nhà quản trị
giúp doanh nghiệp cạnh tranh với các đối thủ khác, mà còn là một công cụ hữu ích để đánh
giá được thực trạng hoạt động SXKD của doanh nghiệp, và đi đến những quyết định dài
hạn như: thay đổi dây chuyền sản xuất, thay đổi kết cấu mặt hàng nhằm đạt được lợi nhuận
mong muốn…

1.2.1.1 Chi phí khả biến thực thụ và chi phí khả biến cấp bậc
Trong thực tế, không phải tất cả các chi phí khả biến đều có cách ứng xử giống nhau
theo mức độ hoạt động. Xét theo cách ứng xử khác nhau đó, chi phí khả biến còn được
chia thành 2 loại: chi phí khả biến thực thụ và chi phí khả biến cấp bậc.
Chi phí khả biến thực thụ là các chi phí khả biến có sự biến đổi tỷ lệ với mức hoạt
động. Đa số các chi phí khả biến thường thuộc loại này, và cách ứng xử cũng như đồ thị
của chúng được thể hiện theo hình ở bên:
Hình 1.1: Đồ thị biểu diễn chi phí khả biến tỷ lệ
Biến phí (Y)
Mức độ hoạt động (X)
Y = aX

Chi phí khả biến cấp bậc là các chi phí khả biến không có sự biến đổi liên tục theo
sự thay đổi liên tục của mức hoạt động. Các chi phí này chỉ biến đổi khi các hoạt động đã
có sự biến đổi đạt đến một mức cụ thể nào đó. Ví dụ như: chi phí tiền lương của bộ phận
công nhân phụ, chi phí bảo trì…
Hình 1.2: Đồ thị biểu diễn chi phí khả biến cấp bậc
Y
Mức độ hoạt động

1.2.1.2 Dạng phi tuyến của chi phí khả biến và phạm vi phù hợp
Khi nghiên cứu cách ứng xử của chi phí khả biến chúng ta thường đặt giả thiết có
một mối quan hệ tuyến tính giữa chi phí khả biến và mức độ hoạt động. Tuy nhiên, trên
thực tế có rất nhiều các chi phí khả biến không có quan hệ tuyến tính mà biến đổi theo các
dạng đường cong rất phức tạp. Với các chi phí thuộc dạng này, để thuận tiện cho việc tính
toán, lập kế hoạch người ta thường xác định các phạm vi phù hợp để có thể nhận dạng cách
biến đổi của chúng theo dạng tuyến tính. Phạm vi phù hợp được hiểu là một khoảng giới
hạn của các hoạt động mà trong khoảng đó, mối quan hệ giữa chi phí biến đổi với mức
hoạt động có thể quy về dạng tuyến tính. Khi phạm vi phù hợp được xác định càng nhỏ thì
đường biểu diễn chi phí khả biến càng tiến dần về dạng đường thẳng, và do vậy mức độ

trung vào việc nâng cao hiệu suất sử dụng các yêu tố vật chất và nhân lực cơ bản của
doanh nghiệp.
1.2.2.2 Chi phí bất biến không bắt buộc
Khác với chi phí bất biến bắt buộc, các chi phí bất biến không bắt buộc thường
được kiểm soát theo kế hoạch ngắn hạn và chúng phụ thuộc nhiều vào chính sách quản lý
hàng năm của các nhà quản trị. Do vậy, loại chi phí này còn được gọi là chi phí bất biến tùy
ý hay chi phí bất biến quản trị. Thuộc loại chi phí này gồm chi phí quảng cáo, chí nghiên
cứu phát triển, chi phí đào tạo nhân viên…
Với bản chất ngắn hạn và phụ thuộc nhiều vào ý muốn của người quản lý, các chi
phí bất biến không bắt buộc là đối tượng được xem xét đầu tiên trong các chương trình tiết
kiệm hoặc cắt giảm chi phí hàng năm của doanh nghiệp.
1.2.2.3 Chi phí bất biến và phạm vi phù hợp
Sự phát sinh của một số loại chi phí bất biến phụ thuộc vào phạm vi hoạt động tối
đa của các hoạt động mà chúng gắn kèm. Chẳng hạn, chi phí quảng cáo – một dạng của chi
phí bất biến không bắt buộc – sự phát sinh của chúng phụ thuộc vào kế hoạch tăng doanh
số hàng năm của doanh nghiệp. Tương tự như vậy, chi phí khấu hao, một dạng của chi phí
bất biến bắt buộc, cũng không thể giữ nguyên nếu doanh nghiệp có kế hoạch tăng cường
cơ sở vật chất nhằm mở rộng năng lực sản xuất trong các kỳ tương lai.
Vì lý do như trên, phạm vi phù hợp cũng được áp dụng khi xem xét các chi phí bất
biến – phục vụ việc tính toán trong kiểm tra và phân tích. Ở đây, phạm vi phù hợp được
hiểu là một phạm vi hoạt động cụ thể mà tại đó, các chi phí bất biến đạt trạng thái cố định.
Ngoài phạm vi đó, chi phí bất biến không còn giữ được trạng thái cố định như trước. Có
thể minh họa phạm vi phù hợp của chi phí bất biến quan đồ thị sau:
Hình 1.5: Phạm vi phù hợp của chi phí bất biến
Chi phí bất biến
Mức độ hoạt động
Phạm vi phù hợp

1.2.3 Chi phí hỗn hợp
Chi phí hỗn hợp là những chi phí mà bao hàm trong nó cả chi phí khả biến và chi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status