CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ
QUỐC DÂN VÀ SỰ CẦN THIẾT PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC HIỆN
CHIẾN LƯỢC
1.1 Khái quát về chiến lược phát triển thương mại trong nền kinh tế quốc dân.
1.1.1 Quan niệm về chiến lược phát triển thương mại.
Khái niệm chiến lược được sử dụng khá phổ biến trong hầu hết các ngành, các lĩnh
vực của nền kinh tế cả tầm vĩ mô và tầm vi mô: Chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội, chiến lược phát triển dân số, chiến lược phát triển khoa học công nghệ, chiến
lược phát triển ngành, chiến lược phát triển vùng kinh tế trọng điểm, chiến lược
bảo vệ môi trường, chiến lược kinh doanh, chiến lược tiêu thụ sản phẩm, chiến
lược cạnh tranh, chiến lược Marketing…
- Alfred Chandler (thuộc Đại học Harvard) cho rằng: Chiến lược phát triển bao
hàm việc ấn định các mục tiêu cơ bản dài hạn của một tổ chức, một ngành, một
lĩnh vực nhất định đồng thời lựa chọn cách thức hoặc tiến trình hành động và
phân bố các nguồn lực thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó trong khoảng thời
gian nhất định. Đây là một khái niệm được dùng phổ biến nhất hiện nay.
- Theo ông James. B. Quin (thuộc Đại học Dartmouth) : Chiến lược là một
dạng thức hoạc một kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và các
trình tự hành động thành một tổng thể kết dính lại với nhau. Chiến lược là nghệ
thuật phối hợp các hành động và điều khiển chúng nhằm đạt được mục tiêu dài
hạn.
- Theo quan niểm của Alain Thretart thì chiến lược được xem như một nghệ
thuật mà người ta dùng để chống lại cạnh tranh giành thắng lợi, một nghệ thuật tạo
lập các lợi thế cạnh tranh.
- A.C.Martinet quan niệm rằng : Chiến lược là nhằm phác hoạ những quỹ đạo
tiến triển đủ vững chắc và lâu dài, chung quanh quỹ đạo đó có thể sắp đặt những
hành động chính xác để đạt tới mục tiêu.
- D.Bizzell và nhóm tác giả cho rằng: Chiến lược như là kế hoạch tổng quát
dẫn dắt và hướng một tổ chức, một doanh nghiệp, một ngành, một lĩnh vực đi đến
mục tiêu mong muốn. Nó là cơ sở cho việc định ra các chính sách và các thủ pháp
tác nghiệp.
Ba là: So với chính sách thì chiến lược phát triển có phạm vi rộng hơn, chính sách
là một công cụ để thực hiện chiến lược nhằm đạt tới mục tiêu của chiến lược phát
triển.
Chiến lược phát triển có những đặc trưng sau đây cần phải tính đến trong quá trình
xây dựng:
- Chiến lược phát triển không phải là một bản thuyết trình chung chung, mà nó
được thể hiện bằng những quan điểm mục tiêu phát triển cụ thể và giải pháp mang
tính chiến lược.
- Chiến lược phát triển phải bảo đảm các nguyên tắc: định hướng, lựa chọn, khoa
học và thực tiễn.
- Chiến lược phát triển không vạch ra một cách cụ thể làm thế nào để đạt được mục
tiêu mà chỉ ra hướng phát triển của ngành, của đơn vị với những giải pháp chiến
lược cho một khoảng thời gian dài hoặc tương đối dài (thường là 10 năm trở lên).
1.1.2 Hệ thống chiến lược phát triển thương mại trong nền kinh tế quốc dân.
Là một bộ phận của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển
thương mại mang đầy đủ những đặc tính chung của một chiến lược như: tính định
hướng, tính lựa chọn, tính khoa học và tính thực tiễn. Song hoạt động trong lĩnh
vực lưu thông hàng hoá, chiến lược phát triển thương mại trước hết là chiến lược
cấp ngành, định hướng cho sự phát triển của thương mại.
Thương mại hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ các hoạt động kinh doanh trên thị
trường, đó là quá trình mua bán hàng hoá, dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích
thu được lợi nhuận, là lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hoá. Thương mại ra
đời do sự phân công lao động xã hội và gắn liền với quá trình tái sản xuất xã hội.
Ngành thương mại là ngành độc lập có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế
quốc dân. Thương mại có những chức năng nhiệm vụ như sau: Tổ chức quá trình
lưu thông hàng hoá dịch vụ trong nước với nước ngoài, tiếp tục quá trình sản xuất
trong khâu lưu thông, thực hiện giá trị của hàng hoá - dịch vụ, đồng thời đáp ứng
tốt mọi nhu cầu của sản xuất kinh doanh và đời sống. Do đó chiến lược phát triển
thương mại có ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình trao đổi và lưu thông hàng hoá -
dịch vụ của một quốc gia trong một khoảng thời gian tương đối dài. Để có hướng
Chiến lược này do chính doanh nghiệp xây dựng và tổ chức thực hiện. Nó xác
định rõ mục đích, hướng đi của doanh nghiệp, mặt khác nó cũng bao gồm các giải
pháp cơ bản để đạt được mục tiêu chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.3 Vai trò và những nội dung cơ bản của chiến lược phát triển thương mại
trong nền kinh tế quốc dân.
1.1.3.1 Vai trò của chiến lược phát triển thương mại.
A: Vai trò của thương mại trong nền kinh tế quốc dân:
Thương mại có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế trong thời kỳ hội nhập:
- Tạo điều kiện cơ bản cần thiết cho sản xuất và thúc đẩy hoạt động sản xuất của
vùng lãnh thổ.
Hoạt động thương mại cung cấp dịch vụ và các yếu tố đầu vào của sản xuất, đảm
bảo cho các quá trình sản xuất và tái sản xuất có thể diễn ra thường xuyên, liên tục.
Như việc cung cấp vật tư, phân bón, giống cho sản xuất nông – lâm nghiệp hoặc
nguyên liệu, phương tiện và thiết bị công nghệ - kỹ thuật cho các hoạt động sản
xuất kinh doanh của vùng lãnh thổ.
Đảm bảo đầu ra của sản xuất kinh doanh như bảo quản cất giữ, vận chuyển và tiêu
thụ sản phẩm, hàng hoá của vùng. Đồng thời phục vụ cho các hoạt động giao lưu,
trao đổi hàng hoá nói chung.
Sự tác động tổng hợp và đồng bộ của hoạt động thương mại trong việc cung cấp
dịch vụ đầu vào, đầu ra của sản xuất không chỉ đảm bảo hoạt động sản xuất kinh
doanh trong vùng diễn ra một cách thuận lợi và không bị ách tắc mà còn dẫn tới sự
tăng cường và mở rộng của hoạt động sản xuất kinh doanh với quy mô, năng suất
và hiệu quả cao hơn.
Trong điều kiện công nghiệp hoá và cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại thì vai
trò của thương mại trong vùng lãnh thổ cũng trở nên quan trọng hợn. Chúng vừa là
tiền đề vừa là cầu nối cho việc triển khai các thành tựu khoa học - kỹ thuật và công
nghệ hiện đại. Điều đó không những làm tăng năng suất lao động, thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế của vùng mà còn dẫn tới những thay đổi trong cơ cấu, tính chất và
trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội ở vùng lãnh thổ.
- Tác động mạnh mẽ và tích cực đến quá trình thay đổi cơ cấu sản xuất và chuyển
được mở rộng.
Sự phát triển của hệ thống chợ, trung tâm thương mại và mạng lưới thương
nghiệp làm cho khả năng trao đổi thực tế của hàng hoá tăng lên. Một mặt sản phẩm
từ các cơ sở sản xuất của vùng có thể nhanh chóng đưa ra thị trường. Mặt khác các
loại vật tư, nguyên liệu, hàng công nghiệp, hàng tiêu dùng ở các vùng khác nhau có
điều kiện thuận lợi hơn sẽ vươn tới làm thay đổi tập quán và nhu cầu tiêu dùng của
dân cư trong vùng.
Tóm lại vai trò thương mại trong hệ thống kinh tế - xã hội của vùng lãnh thổ nói
riêng và của cả nước nói chung là hết sức quan trọng, có ý nghĩa to lớn đối với sự
tăng trưởng kinh tế và phát triển toàn diện nền kinh tế - xã hội. Vai trò của chúng
cũng thể hiện đầy đủ, sâu sắc hơn trong điều kiện công nghiệp hoá, chuyển nền
kinh tế sản xuất nhỏ sang sản xuất hàng hoá và kinh tế thị trường.
B. Vai trò của chiến lược phát triển thương mại:
- Giúp cho tỉnh, thành phố thấy được mục tiêu hướng đi của lĩnh vực thương mại
trên địa bàn trong khoảng thời gian dài. Thông qua chiến lược phát triển thương
mại các cấp, các ngành, cũng như các doanh nghiệp thương mại nắm vững được
mình cần phải làm gì để thành công và khi nào thì đạt được mục tiêu đã định. Như
vậy chiến lược phát triển thương mại được ví như con đường, những ngọn hải đăng
dẫn dắt các chủ thể quản lý và các nhà kinh doanh thương mại không bị lạc hướng
trong hoạt động của mình trong một phạm vi tương đối rộng với một khoảng thời
gian tương đối dài.
- Chiến lược thương mại sẽ loại trừ được ở mức độ nào đó những bất trắc, những
thay đổi lớn, những mạo hiểm cao trong lĩnh vực thương mại.
Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường, môi trường thương mại luôn luôn biến
đổi một cách nhanh chóng do tác động của nhiều yếu tố như: Kinh tế, chính trị, văn
hoá, xã hội, phong tục tập quán cho đến điều kiện tự nhiên… Điều đó dẫn đến hai
xu hướng khác nhau, một là có thể tạo ra những cơ hội quý báu cho các doanh
nghiệp phát triển nhanh chóng và có hiệu quả, mặt khác cũng có thể tạo ra nguy cơ
phá sản cho các doanh nghiệp hoặc thiệt hại to lớn cho quá trình phát triển thương
mại. Chiến lược thương mại một khi mang tính khoa học và thực tiễn cao sẽ giúp
nguồn lực mới trong tương lai.
- Là một trong những căn cứu khoa học để xây dựng và thực hiện các chính sách,
biện pháp quản lý hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh, thành phố và của cả
nước:
Những điều kiện về môi trường thường xuyên thay đổi sẽ đưa đến những diễn
biến phức tạp của hoạt động thương trong tương lai, thông qua chiến lược các cơ
quan quản lý vĩ mô về thương mại có thể chủ động được với các quyết sách của
mình. Những chủ trương, chính sách, biện pháp được chủ động dựa trên những dự
báo dài hạn sẽ làm cho thay đổi các điều kiện để thực hiện các mục tiêu đề ra.
Đồng thời nhờ dự báo chiến lược, các nhà quản lý và hoạch định chính sách
thương mại sẽ tìm ra được các phương án lựa chọn của mình bằng cách tránh
những bất lợi rủi ro đã dự báo trước và chuẩn bị tốt hơn để tận dụng được cơ hội
tiềm tàng khi xuất hiện. Những dụ báo và định hướng dài hạn trong chiến lược phát
triển thương mại là cơ sở khoa học cho các chủ trương, chính sách và biện pháp
phát triển thương mại.
- Tạo điều kiện làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá,
năng động, có hiệu quả và đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội:
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu thế trên đây, trong quá trình xây dựng và thực
thi chiến lược cũng cần phải chú ý đến những hạn chế của chiến lược để có biện
pháp khác phục.
+ Một trong những hạn chế chủ yếu là để xây dựng chiến lược cần phải có
nhiều thời gian và kinh phí. Tuy nhiên khi đã có kinh nghiệm về quá trình xây
dựng chiến lược thì thời gian sẽ được giảm bớt, chi phí sẽ được tiết kiệm hơn.
Do đó khâu chuẩn bị cho hoạch định chiến lược có vai trò đặc biệt quan trọng.
+ Chiến lược sau khi được xây dựng, được phê duyệt nếu không có sự sửa đổi
cho phù hợp với tình hình mới sẽ trở thành vật cản cho sự phát triển của thương
mại. Thật vậy, coi chiến lược như một sự bất di, bất dịch với những chỉ tiêu
cứng nhắc là một sai lầm nghiêm trọng. Bởi vì chiến lược không thể bất di, bất
dịch khi điều kiện môi trường thường xuyên biến đổi và tình thế bắt buộc phải
điều chỉnh mục tiêu hoặc xây dựng mục tiêu mới. Coi chiến lược là bất biến mà