THỰC TRẠNG HỌC VẤN VÀ MỨC SINH CỦA NÔNG THÔN VIỆT NAM THỜI GIAN QUA - Pdf 64

THỰC TRẠNG HỌC VẤN VÀ MỨC SINH CỦA NÔNG THÔN VIỆT
NAM THỜI GIAN QUA
I/ ĐIỀU KIỆN VÀ MÔI TRƯỜNG KINH TẾ XÃ HỘI
Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM
1. Đặc điểm tự nhiên
Đất nước hình chữ S xinh đẹp của chúng ta nằm trải dài ở phía Đông
bán đảo Đông Dương. Phía Tây là lục địa với khí hậu khô và nóng, phía Đông
là biển Thái Bình Dương trong xanh và rộng lớn. Hai luồng gió của lục địa và
đại dương được ngăn cách bởi dải Trường Sơn hùng vĩ tạo nên một điều kiện
thời tiết khắc nghiệt ở nước ta.
Với 3/4 diện tích là đồi núi, ngành nông nghiệp là một ngành với quy
mô lớn. Thời tiết càng trở lại gần đây càng khắc nghiệt hơn bao giờ hết, trên
cả nước nơi thì hạn hán kéo dài, nơi thì mưa bão triền miên, đặc biệt là vùng
ven biển miền Trung.
Nằm trong vành đai nhiệt đới, khí hậu nóng ẩm tạo điều kiện cho các
loại dịch bệnh, côn trùng phát sinh, ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người,
mùa màng, cây trồng và vật nuôi.
Với diện tích phần đất liền là 330.360 km
2
, dân số là 78 triệu người
phân bố không đồng đều, phụ thuộc vào lịch sử định cư, trình độ phát triển
kinh tế xã hội, mức độ màu mỡ của đất đai, sự phong phú của nguồn nước.
Khoảng 80% dân cư sống ở nông thôn, vùng đồng bằng ven biển mật độ dân số
cao (đồng bằng Sông Hồng là 784 người/km
2
), vùng miền núi trung du thì dân
cư thưa thớt (ở Tây Nguyên là 42 người/km
2
). Chỉ giống nhau duy nhất ở điểm
là mức sinh đẻ cao.
Với 52 dân tộc, tập trung ở từng vùng khác nhau tạo nên một bản sắc

Sang năm 1998 nhiều khó khăn ập đến với nền kinh tế của đất nước,
thiên tai dồn dập trên diện rộng và để lại hậu quả hết sức nặng nề, thiệt hại về
người và vật chất hàng nghìn tỷ đồng. Hạn hán và nắng nóng do ảnh hưởng
của El Nino lan tràn khắp đất nước, gây lũ lụt ở miền Trung.
Khủng hoảng kinh tế, tài chính của các nước Châu Á nhất là các nước
trong khối ASEAN ngày càng lan rộng.
Tuy nhiên chúng ta vẫn giành được nhiều thành tựu có thể gọi là ngoạn
mục về kinh tế và xã hội, GDP tăng 6% (đạt kế hoạch điều chỉnh của Quốc hội).
Là một trong 3 nước có tốc độ tăng trưởng cao nhất Châu Á ( đó là Trung
Quốc, Lào và Việt Nam)
Công nghiệp tăng 12%, sản phẩm đa dạng, mẫu mã và chất lượng các
hoạt động ngoại thương được mở rộng.
Nông nghiệp vượt qua khó khăn do lũ lụt, hạn hán nặng nề suốt năm
1998 vẫn tiếp tục tăng trưởng và phát triển. Thành tựu nổi bật và thắng lợi
ngoạn mục nhất là sản xuất lương thực phát triển và tăng trưởng với nhịp độ
cao trong điều kiện thời tiết không thuận lợi. Sản lượng quy thóc đạt trên 31,8
triệu tấn, tăng trên 1 triệu tấn so với năm 1997. Sản xuất lúa của Việt Nam đã
dẫn đầu về tốc độ so với các nước ASEAN.
Trên đây là những thành tựu về kinh tế trong 3 năm gần đây nhất, bên
cạnh đó bao giờ cũng có những khó khăn nảy sinh.
Hiệu quả nền kinh tế còn thấp, khả năng cạnh tranh kém, nhiều ngành,
nhiều lĩnh vực có tăng trưởng song hiệu quả và chất lượng phát triển không
cao. Năm 1998 nhịp độ tăng trưởng kinh tế nói chung đã chậm lại.
Nông nghiệp và nông thôn, cơ cấu kinh tế chậm chuyển biến, sản phẩm
còn đơn điệu, sản xuất phân tán, quy mô nhỏ bé, công nghiệp chế biến kém
phát triển, thị trưởng không ổn định.
Công nghiệp, sản xuất tăng chậm, kém sức cạnh tranh, các hoạt động
tài chính, ngân hàng, du lịch còn yếu kém.
b. Về văn hoá xã hội
So với trước đây các hoạt động giáo dục, đào tạo, văn hoá, y tế, xã hội

nghiệp chiếm 75,6%. Đến năm 1992 tỷ lệ này đã tăng lên là 79,9%, trong khi
đó tỷ lệ lao động nam không thay đổi bao nhiêu (Tổng cục thống kê - 1994.
Niên giám Thống kê 1993 - Hà Nội 1994). Hiện nay ở nông thôn nước ta có
thêm khoảng 80-90 vạn người bước vào tuổi lao động, trong đó phụ nữ chiếm
53%.
Các số liệu thống kê những năm gần đây cho thấy phụ nữ đã có mặt
hầu như trong tất cả các ngành nghề sản xuất nông nghiệp hiện có ở nông
thôn, đặc biệt là hai ngành có ý nghĩa chiến lược trong sản xuất nông nghiệp
hiện nay là trồng trọt và chăn nuôi, đóng vai trò quan trọng nhất, góp phần to
lớn vào việc tạo ra của cải, vật chất cho xã hội (Biểu 1). Đây là loại lao động rất
nặng nhọc, trong điều kiện môi trường khắc nghiệt và chịu ảnh hưởng nặng nề
của điều kiện tự nhiên. Mà lao động nữ ở đây còn đảm nhiệm thêm một vai trò
to lớn nữa đó là sinh đẻ, cùng với sự hạn chế về hiểu biết về các kiến thức khoa
học đời sống, sức khoẻ, những người phụ nữ nông thôn lúc mang thai và sau
khi sinh một thời gian rất ngắn lại tham gia sản xuất trực tiếp với cây trồng,
vật nuôi, thuốc trừ sâu, diệt cỏ, phân, bùn đất .v.v... Nói chung là một môi
trường lao động ô nhiễm, kém vệ sinh ở nhiều khâu của trồng trọt và chăn
nuôi gia súc, gia cầm. Điều đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của bà mẹ
và trẻ em ở nông thôn.
Biểu 1: Lao động nữ ở khu vực nông thôn Việt Nam
Đơn vị tính: Nghìn người
Vùng Tổng số
Nhóm ngành
Dịch vụ
Nông - Lâm -
Ngư nghiệp
CN & XD
1. Miền núi và trung du
2. Đồng bằng Sông Hồng
3. Bắc trung bộ

37.470
92.380
Tổng 3.393.17
6
2.988.699 140.757 263.720
Nguồn: Niên giám Lao động Việt Nam làm năm 1997
Qua bảng trên ta thấy phụ nữ nông thôn ở tất cả các vùng đều có rất
đông vào nhóm ngành Nông - Lâm - Ngư nghiệp, lao động nặng nhọc, ô nhiễm
và có thu nhập rất thấp, không ổn định. Một ví dụ cụ thể ở ngành làm muối, lao
động nữ phải làm việc dưới trời nắng chang chang, đội lên hàng tấn muối lên
các đồng muối cao hàng chục mét với độ dài tới 30 km/ngày mà thu nhập của
họ chỉ bằng 1/4 thu nhập của lao động nam trong hộ. Ở vùng đồng bằng Sông
Hồng trong những ngày thời vụ lao động nữ phải làm việc tới 16 giờ trong một
ngày. Họ phải làm các công việc nặng nhọc như cày, bừa, cuốc đất, kéo cày thay
trâu và cả các công việc độc hại, nguy hiểm như phun thuốc trừ sâu, ngâm
mình dưới nước trong nghề trồng rau câu hoặc ngâm giặt đay tơ .v.v...
Nằm trong điều kiện việc làm và thu nhập như vậy thì việc nâng cao
trình độ học vấn cho phụ nữ ở nông thôn là một việc làm không phải đơn giản,
sự lo toan cho cuộc sống gia đình, sự thiếu thốn về vật chất là một sự cản trở
cho việc người phụ nữ phát huy hết mọi khả năng của mình vào sự phát triển
kinh tế và xã hội ở nông thôn nói riêng và trên cả nước nói chung.
II/ HỌC VẤN VÀ MỨC SINH CỦA VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ
1. Trình độ học vấn chung của Việt Nam trong thời gian qua
Giáo dục có khả năng làm thay đổi nhận thức của con người, nó được
biểu hiện qua một số khái niệm: Trình độ giáo dục, trình độ dân trí, trình độ
học vấn.v.v. nhằm phản ánh các cấp độ hiểu biết, các kỹ năng đạt được của con
người sau một quá trình tiếp nhận các luồng thông tin khác nhau từ đó tạo ra
khả năng nhận thức tác động đến hành vi của họ trong quá trình tham gia các
hoạt động kinh tế - văn hoá - chính trị - xã hội. Giáo dục luôn được coi là quốc
sáchhàng đầu của nhà nước ta.

khoảng 2,1 triệu người từ 15 - 35tuổi mù chữ, đến năm 1993 còn có 1,8 triệu
người của lứa tuổi này.
Như vậy mặc dù mức tăng 2,7% không phải là lớn song ta cũng nhận
thấy rằng trình độ học vấn của nữ giới đã được cải thiện hơn so với trước đây.
Bên cạnh đó còn có một vấn đề nữa mà chúng ta cần quan tâm đó là sự
chênh lệch về tỷ lệ được đi học của nữ so với nam còn rất lớn. Theo biểu 2 năm
1989 mức chênh lệch là 10%, năm 1993 là 9,2%. Mặc dù vấn đề giáo dục nâng
cao trình độ học vấn đối với nữ đã được cải thiện song vẫn còn có sự bất bình
đẳng ở đây, cũng theo nguồn số liệu ở trên năm 1993 số mù chữ là nữ chiếm
trên 70% (1.250.000 người). Quay lại với số liệu ở biểu 2 năm 1993 tỷ lệ nữ đã
từng được đi học là 85,3%, con số này không thể phản ánh hết được tình trạng
dân trí rất thấp ở nông thôn hiện nay đặc biệt là nữ, năm 1993 có 43,8% phụ
nữ ở nông thôn chưa học hết cấp I. Đây thực sự là trình độ học vấn ở mức rất
thấp, điều đó ảnh hưởng đến trình độ học vấn chung của cả nước.
Sở dĩ ở nông thôn trình độ học vấn của nữ thấp như vậy phần lớn là do
nhu cầu kinh tế của gia đình. Ở đây ngành nông - lâm -ngư nghiệp thường tiến
hành theo kinh nghiệm, lao động giản đơn nên nhu cầu học lên cao của phụ nữ
ở nông thôn không có, phụ nữ ở nông thôn tuổi 15- 19 bỏ học nhiều vì lý do
khác đi xây dựng gia đình, quan niệm con gái không cần phải học... ta sẽ thấy
rõ hơn sự khác biệt về trình độ học vấn giữa nam và nữ qua biểu 3 dưới đây.
Biểu 3: Tỷ lệ dân số chưa bao giờ được đi học phân theo giới
tính và nhóm tuổi 1989 và 1994 (%)
Đơn vị:%
Nhóm tuổi 1989 1994*
Nam Nữ Nữ/Nam Nam Nữ Nữ/Na
m
10-14 7,4 8,3 1,12 4,9 6,4 1,31
15-19 7,2 7,6 1,06 6,2 7,9 1,27
20-24 6,3 7,2 1,14 6,7 7,7 1,15
25-29 4,9 7,1 1,45 5,4 6,3 1,17

(năm 1994: nam 6,7%; nữ : 7,7%; năm 1989 nam: 6,3%; nữ 7,2%). Những con
số này phản ánh sự biến đổi mạnh mẽ về tình hình kinh tế xã hội thời kỳ 1985
- 1990, đó là việc chuyển đổi từ cơ chế kinh tế tập trung quan liêu bao cấp
sang cơ chế thị trường. Việc học tập và nâng cao trình độ học vấn của phụ nữ
nói riêng và phong trào bổ túc văn hoá nói chung của cả nước gặp phải rất
nhiều khó khăn. Có thể nói phong trào bổ túc văn hoá trong thời kỳ này giảm
sút nghiêm trọng, theo số liệu của Bộ giáo dục đào tạo thời kỳ năm 1986 -
1987 có 662.000 học sinh thì đến năm 1989 giảm xuống chỉ còn 454.000. Trong
đó nữ bao giờ cũng cao gấp đôi nam giới, những chuyển biến về tình hình kinh
tế xã hội đó ảnh hưởng đến trình độ học vấn chung ở hai khía cạnh sau:
* Việc xoá bỏ bao cấp trong giáo dục đã buộc phải cân nhắc tính toán
hiệu quả kinh tế vì vậy việc tổ chức các lớp xoá mù chữ và bổ túc văn hoá
không còn được quan tâm. Việc đi học không được thưởng, cộng điểm, không
được miễn nghĩa vụ lao động hoặc động viên dưới hình này hoặc hình thức
khác.
* Đời sống kinh tế khó khăn việc học hành không được quan tâm nữa
mà thay thế vào đó là những nhu cầu về những điều kiện đảm bảo cuộc sống
vật chất ngay trước mắt họ, buộc họ phải tìm kiếm việc làm. Thực tế chúng ta
thấy rằng nếu như các bậc cha mẹ khi buộc phải cho con em mình thôi học vì
không có khả năng chi phí, thì họ sẽ cho con gái thôi học trước. Nhiều lý do
khiến các bậc cha mẹ không đầu tư cho con gái học tập vì học không nhận thấy
tầm quan trọng của học tập đối với con gái họ cho rằng con gái cả đời chỉ làm
việc nhà và trông nom con cái. Đại diện của tổ chức UNICEF đã nhận xét
"Trong tất cả các khu vực của ngành giáo dục, số học sinh nữ đều thấp hơn
nam, tỷ lệ nữ bỏ học và lưu ban cũng cao hơn nam".
Tình hình kinh tế xã hội ảnh hưởng như thế nào đến tình hình học vấn
của dân cư nói chung khi mà ở nước ta sự chênh lệch về cơ sở hạ tầng và tốc
độ phát triển còn lớn giữa hai khu vực là thành thị và nông thôn. Qua biểu 4
chúng ta thấy rõ hơn về vấn đề này.
Biểu 4: Tỷ lệ phần trăm dân số từ 10 tuổi trở lên theo trình độ

Vùng I 19,6 20,7 23,7 26,9 9,2 6,0
Vùng II 8,0 11,8 26,5 38,7 15,0 7,7
Vùng III 11,6 20,7 28,8 27,0 11,9 6,5
Vùng IV 11,1 23,7 39,8 17,0 8,5 5,7
Vùng V 25,2 26,2 28,1 12,4 8,1 4,7
Vùng VI 8,5 19,1 41,1 18,7 12,7 6,5
Vùng VII 11,9 35,5 34,6 12,0 6,1 5,0
Nguồn ĐTNKHGK 1994
Ta nhận thấy trong thời kỳ 1989-1994 tỷ lệ không được đi học của
thanh thiếu niên giảm đáng kể ở cả thành thị lẫn nông thôn, nhưng sự khác
biệt trong thời kỳ đổi mới lại lớn hơn. Năm 1994 tỷ lệ trẻ em chưa đi học ở
nông thôn độ tuổi 7 tuổi là 26,3% thì ở thành thị tỷ lệ này là 8,4% và 1,7%.
Điều đó cũng cho thấy khi nền kinh tế thị trường phát triển, bên cạnh những
mặt tích cực cũng nảy sinh những mặt tiêu cực, sự b ất bình đẳng và khoảng
cách giàu ngèo ngày càng dãn ra, thành thị là nơi trung tâm giao lưu văn hoá
kinh tế, chính trị xã hội bao giờ cũng có một khoảng cách rất xa với nông thôn
về mọi mặt. Đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục, các lợi thế cao hơn hẳn so với
nông thôn.
Ta nhận thấy ở khu vực thành thị hơn một nửa dân số từ 10 tuổi trở
lên có trình độ cấp hai trở lên trong khi đó ở khu vực nông thôn có tới 70% dân
số từ 10 tuổi trở lên có trình độ học vấn thấp hơn mức này. Với dân số tập
trung tới 80% là ở khu vực nông thôn thì đây quả là một vấn đề bức thiết và
cần quan tâm sâu sắc. Học vấn thấp như vậy sẽ là tác nhân của nhiều vấn đề
kinh tế xã hội
Chất lượng của giáo dục được phản ánh qua số năm được đi học.
Khoản 2/3 số người từ 10 tuổi trở lên đạt trình độ tiểu học trở lên. Tuy nhiên
nếu lấy trình độ từ cấp II trở lên là mức tối thiểu cần thiết cho cuộc sống thì
trình độ học vấn của Việt Nam vẫn còn thấp(như số liệu ở biểu trên chỉ có
23,3% là hết cấp II, cấp III là 10,4%). Hơn nữa số năm đi học trung bình chung
của chúng ta còn rất thấp đặc biệt là ở nông thôn (5,9 năm). Điển hình là vùng

vấn càng cao do thu nhập của họ tăng lên, mức độ tham gia vào các hoạt động
kinh tế tăng lên dẫn tới mức sinh giảm xuống, xu hướng này hiện nay phổ biến
ở thành thị. Còn ở nông thôn thì trái lại đặc biệt là ở các vùng xa xôi hẻo lánh,
vùng dân tộc thiểu số trình độ học vấn của dân cư rất thấp tương ứng với nó
là mức sinh rất cao.
Trước đây khi nền kinh tế xã hội còn nhiều yếu kém, mức sinh rất cao.
Trong thời kỳ chiến tranh chống Pháp 1950-1954 TFR ở Miền Bắc Việt Nam chỉ
là 5,5% (xem biểu)
Biểu 5: Tổng tỷ suất sinh trong các thời kỳ
Đơn vị: con
50-54 55-59 60-64 65-69 70-74 75-79 80-84 85-89
Miền Bắc 5,5 6,9 6,3 5,8 5,3 4,4 4,5 4,3
Miền nam 6,0 6,6 6,6 5,2 4,6 4,0
Cả nước 6,15 6,2 5,95 4,8 4,5 4,1
Nguồn: TĐTDS-1960; TĐTDS-1979; TĐTDS-1989
Sau năm 1954, TFR đã tăng lên 6,9 ở miền Bắc và 7,2-7,3 ở các tỉnh
Nam Định, Ninh Bình. Sau đó thì giảm dần. Xong đến năm 1989 mức sinh của
các nước còn rất cao TFR = 4,1. So với các nước khác ví dụ như Hàn Quốc bắt
đầu có chương trình quốc gia về KHHGĐ từ năm 1962. Xem biểu và Thái Lan có
chương trình này từ 1970. Xem biểu 6 và 7
Biểu 6: Tổng tỷ suất sinh qua các năm của Hàn Quốc
Đơn vị: con
Năm 1960 1975 1981 1985 1990
TFR 6,0 3,5 2,7 2,1 1,7
Biểu 7: Tổng tỷ suất sinh qua các năm của Thái Lan
Đơn vị: con
Năm 1961 1971 1981 1986 1990
TFR 6,6 6,0 3,7 3,0 2,2
Như vậy cũng cùng một thời gian thực hiện chương trình KHHGĐ như
nhau song kết quả đạt được của nước ta rất thấp, TFR của ta vào thời điểm

1995 2,78 Điều tra nhân khẩu học nhiều vòng và KHHGĐ
1996 2,69
1997 2,33 Điều tra nhân khẩu học và sức khoẻ
Nhìn chung mức sinh của cả nước năm 1997 là 2,33 con thì chương
trình Dân số và KHHGĐ vẫn còn nhiều việc phải làm. Đặc biệt ở nông thôn, nơi
tập trung tới dân số, bất cứ một sự thay đổi nhỏ nào ở đây cũng có những tác
động rất mạnh đến qui mô cả nước.
III/ ẢNH HƯỞNG CỦA TRÌNH ĐỘ HỌC VẤN THẤP ĐẾN MỨC SINH
Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY
1. Ảnh hưởng của trình độ học vấn đến hôn nhân gia đình
Hôn nhân là một khái niệm tổng hợp, bao gồm nhiều yếu tố: Kết hôn, ly
hôn, ly thân, tái kết hôn... Sự thay đổi của các hành vi hôn nhân này ảnh hưởng
trực tiếp đến mức sinh. Cùng với một quy mô dân số nhất định thì kết hôn sớm
sẽ tạo ra số gia đình nhiều hơn. Độ dài của thời gian sinh đẻ kéo dài hơn dẫn
tới số trẻ sinh ra cũng nhiều hơn và phía sau của quy luật này là trình độ nhận
thức con thấp. Xu hướng chung cho các yếu tố khác của hôn nhân cũng tương
tự.
a. Ảnh hưởng của trình độ học vấn đến tuổi kết hôn
Con người biểu hiện sự tiến bộ và văn minh vượt bậc của mình ở chỗ có
thể tự điều khiển hành vi sinh đẻ của mình một cách hợp lý và khoa học, để tạo
nên một cơ thể vừa có sức khoẻ, vừa có trí tuệ, minh mẫn, đảm bảo hạnh phúc
cho gia đình và xã hội.
Người phụ nữ có thể thụ thai vào tuổi dậy thì. Tốt nhất là nên có con từ
tuổi 22 trở lên. Vào tuổi này người con gái mới đủ tư cách làm mẹ, quản lý gia
đình, mặt khác vào tuổi này cơ thể người mẹ mới được phát triển hoàn thiện,
bảo đảm sức khoẻ tốt để nuôi dưỡng thai và sinh đẻ dễ dàng hơn. Nhiều công
trình nghiên cứu y sinh học đã chứng minh rất rõ ràng rằng những đặc điểm
tâm lý, sinh lý và sức khoẻ của người mẹ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ và
trí tuệ của trẻ sơ sinh.
Đối với những người mẹ quá trẻ sự phát triển của thể lực và tinh thần

5,1
7,1
9,5
13,3
10,4
16,1
20,9
23,4
23,7
21,9
21,9
---
Nông thôn:
20 - 24
25 - 29
30 - 34
35 - 39
40 - 44
45 - 49
58,8
89,1
94,2
97,1
89,2
98,2
10,4
13,6
13,8
12,0
16,2

21,2
21,6
22,7
24,3
29,6
18,9
20,2
21,9
20,9
22,6
21,1
21,4
22,9
24,5
28,7
18,7
20,1
20,7
21,9
23,4
Nguồn: Kết quả điều tra của UBDS-Hà Nội năm 1994
Xu hướng tăng tuổi kết hôn cùng với học vấn đặc biệt ở bậc Đại học,
Cao đẳng, ở mức học vấn này họ nhận thức rất lớn về hôn nhân và điều kiện để
bảo đảm cho hạnh phúc và sự thành đạt trong xã hội bằng con đường học vấn.
ở nông thôn với những điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn, là lực cản
cho việc nâng cao trình độ học vấn ở đây. Một tỷ lệ rất lớn là học chỉ ở mức
thấp nhất, điều này cũng đồng nghĩa với việc kết hôn sớm ở nông thôn . Ở mức
học vấn chưa tốt nghiệp tiểu học, tuổi kết hôn nữ là 18,7, trong khi đó là ở bậc
đại học là 23,55 đặc biệt là đối với nam, tuổi kết hôn rất cao 28,7.
Tóm lại học vấn ảnh hưởng vừa trực tiếp lại vừa gián tiếp đến mức

Biểu 1.3. Phân bố dân số 15 tuổi trở lên theo tình trạng hôn
nhân 1989, 1994
Đơn vị tính: %
Tình trạng hôn nhân 1989 1994
Nam Nữ Nam Nữ
1. Chưa vợ/chồng
2. Đã từng có vợ/chồng
- Hiện có vợ/chồng
- Goá
- Ly hôn/thân
32,4
67,6
64,7
2,2
0,7
26,7
73,3
58,8
11,6
1,9
33,1
66,9
64,0
2,2
0,7
27,9
72,1
59,1
10,7
2,3

30,1
69,9
55,7
11,6
2,6
29,4
70,6
67,5
2,4
0,6
24,9
75,1
61,1
11,8
2,3
Nguồn: Tổng ĐTDS năm 1989 và ĐTNKHGK năm 1994
Tình trạng hôn nhân ảnh hưởng đến mức sinh thông qua thời gian
chung sống của các cặp vợ chồng, đây là một yếu tố làm giảm sút mức sinh,
song không phải là tích cực mà chỉ là một trong những yếu tố làm giảm mức
sinh song không được khuyến khích. Khi học vấn càng cao thì tính độc lập về
kinh tế cao, các quan hệ được mở rộng, điều này nhiều khi là những nguyên
nhân dẫn tới tình trạng ly hôn và ly thân cao, mà người chịu hậu quả lớn nhất
là trẻ em. Điều này dường như trái với mối quan hệ xu hướng rằng học vấn
càng cao thì mức sinh giảm và chất lượng cuộc sống được nâng cao. Song vì
đây là một trong nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh xét ở góc độ hôn nhân
gia đình, chính vì vậy mà không thể nhắc đến.
2. Tác động của của trình độ học vấn đến hành vi sinh sản
Những điều kiện sống và sinh hoạt ở nông thôn đã và đang có nhiều tác
động đến người phụ nữ, buộc họ phải có những ứng xử để phù hợp với hoàn
cảnh sống. Cũng như các thành viên khác trong gia đình, người phụ nữ phải

người phụ nữ nông thôn đồng bằng Bắc bộ.
Viện Khoa học xã hội - 1997.
Qua biểu trên chúng ta nhận thấy rằng chương trình KHHGĐ đang vấp
phải các tập tục, các quan niệm truyền thống ở nông thôn làm cản trở công tác
này và chính bản thân người phụ nữ ở đây chịu những áp lực này trong hành
vi sinh đẻ của mình. Các hành vi sinh đẻ: Tuổi sinh con đầu lòng, khoảng cách
giữa các lần sinh, số con mong muốn và số con thực tế, sự lựa chọn giới tính
của con cái.
a. Tuổi sinh con đầu lòng và khoảng cách giữa các lần sinh
Như ta đã nói ở mục 1. tuổi sinh con tốt nhất là từ 22 tuổi trở lên thì
mới cho con khoẻ mạnh và trí tuệ phát triển. Nhiều số liệu thống kê cho thấy
rằng tỷ lệ tử vong của người mẹ tăng lên gấp hai lần khi đẻ con thứ 5 và tăng
gấp 4 lần khi đẻ con thứ 7 (so với lần đẻ thứ nhất và thứ 2). Cuộc vận động
sinh đẻ có kế hoạch khuyến khích mỗi cặp vợ chồng chỉ nên có một hoặc 2 con
và khoảng cách sinh tốt nhất là 5 năm giữa 2 lần sinh. Ở nông thôn nước ta
hiện nay với điều kiện kinh tế và xã hội như đã nêu ở Phần I mục 2 và các yếu
tố ảnh hưởng đến mức sinh ở phần đầu thì hiện nay tuổi sinh con đầu lòng và
khoảng cách giữa các lần sinh là như thế nào và chịu ảnh hưởng của yếu tố
nào.
Trước hết ta cần xem xét tuổi sinh con đầu lòng giữa hai khu vực là
thành thị và nông thôn để thấy rõ sự khác biệt này.
Biểu 2.2. Tuổi sinh con đầu lòng theo bằng cấp cao nhất của
người mẹ
Đơn vị: tuổi
Khu vực
Bằng cấp cao nhất của người mẹ
Chung
Không Cấp I Cấp II Cấp III CNKT
sơ cấp
THCN ĐHCĐ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status