NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TIÊU THỤ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TIÊU THỤ SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT - Pdf 64

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TIÊU THỤ VÀ XÁC
ĐỊNH KẾT QUẢ TIÊU THỤ SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN
XUẤT
1.1. SỰ CẦN THIẾT CỦA KẾ TOÁN TIÊU THỤ VÁ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TIÊU THỤ SẢN
PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1.1. Ý nghĩa, vai trò của quá trình tiêu thụ
Trong nền cơ chế thị trường hiện nay, khâu bán hàng có ý nghĩa vô cùng
quan trọng không chỉ đối với mỗi doanh nghiệp mà còn đối với toàn bộ nền
kinh tế quốc dân
- Đối với các doanh nghiệp sản xuất, quá trình hoạt động của doanh
nghiệp diễn ra từ khâu cung ứng, sản xuất cho đến khâu tiêu thụ. Vì
vậy, các doanh nghiệp không những có nhiệm vụ sản xuất ra sản
phẩm mà còn phải tổ chức tiêu thụ được số sản phẩm đó trên thị
trường thì mới thực hiện đựơc đầy đủ chức năng của mình. Thực
hiện tốt khâu bán hàng thì tính chất hữu ích của sản phẩm sản xuất
ra mới được người tiêu dùng chấp nhận, khi đó doanh nghiệp mới có
khả năng thu hồi được vốn. Điều đó đồng nghĩa với việc doanh
nghiệp bù đắp được những chi phí sản xuất kinh doanh đã bỏ ra, tiếp
tục thực hiện được quá trình tái sản xuất giản đơn và hơn nữa là tái
sản xuất mở rộng
- Đối với các doanh nghiệp sản xuất, quá trình hoạt động của doanh
nghiệp diễn ra từ khâu cung ứng, sản xuất cho đến khâu tiêu thụ. Vì vậy, các
doanh nghiệp không những có nhịêm vụ sản xuất ra sản phẩm mà còn phải tổ
chức tiêu thụ được số sản phẩm đó trên thị trường thì mới thực hiện đầy đủ
chức năng của mình. Thực hiện tốt khâu bán hàng thì tính chất hữu ích của
sản phẩm sản xuất ra mới được người tiêu dùng thừa nhận, khi đó doanh
nghiệp mới có khả năng thu hồi được vốn. Điều đó đồng nghĩa với việc doanh
nghiệp bù đắp được những khoản chi phí bỏ ra, tiếp tục thực hiện được quá
trình tái sản xuất giản đơn và hơn thế nữa là tái sản xuất mở rộng
- Đối với nền kinh tế quốc dân, bán hàng góp phần tạo ra sự cân đối
giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa tiền và hàng, giữa cung và cầu, đảm

+ Thứ tư, yêu cầu về phương thức bán hàng và phương thức thanh toán
Phương thức bán hàng của công ty diễn ra dưới nhiều hình thức đáp
ứng nhu cầu phong phú của người mua
Phương thức thanh toán cũng tồn tại dưới những hình thức thanh toán
khác nhau đòi hỏi doanh nghiệp phải có những chính sách khác nhau đối với
từng loại hình thành toán. Ví dụ như đối với những khách hàng mua với khối
lượng lớn thì sẽ được doanh nghiệp ưu tiên giảm gía hàng bán ; hay những
khách hàng thanh toán trước thời hạn hay thanh toán một lần thì sẽ được
hưởng một khoản chiết khấu nhất định ….. Bên cạnh việc xây dựng những
chính sách thanh toán nhằm thu hút khách hàng thì mỗi doanh nghiệp cũng
cần theo dõi riêng cho tưng khách hàng, theo dõi chặt chẽ để tránh tình trạng
vốn bị chiếm dụng nhiều gây trở ngại cho quá trình tuần hoàn và luân chuyển
vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Như vây, quá trình bán hàng là một nghiệp vụ rất quan trọng đối với
doanh nghiệp nhưng ở một góc độ nào đso thì kết quả bán hàng lại có ý nghĩa
sống còn với toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp vì kết quả bán
hàng chính là lợi nhuận tiêu thụ. Có được kết quả bán hàng chứng tỏ việc sản
xuất và cung cấp hàng hoá trên thị trường được chấp nhận. Điều đó thể hiện
sản phẩm sản xuất và tiêu thụ xét về mặt khôí lượng, giá trị và cả giá cả phù
hợp với yêu cầu của thị trường
Thực hiện được kết quả bán hàng đẩy đủ, kịp thời góp phần đẩy nhanh
tốc độ chu chuyển vốn tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất được liên
tục và có ảnh hưởng lớn đến quá trình tài chính của doanh nghiệp
Với ý nghĩa vô cùng quan trọng như vậy, song song với việc quản lý bán
hàng cũng đòi hỏi các doanh nghiệp tiến hành xác định kết quả bán hàng cho
từng loại sản phẩm, từ đó có sự phối hợp cho hợp lý
• Tóm lại: Việc quản lí tốt quá trình bán hàng và xác định kết quả bán
hàng có ý nghĩa rất lớn đối với Nhà nước và doanh nghiệp. Đó là
nguồn tích luỹ cơ bản để doanh nghiệp tái sản xuất mở rộng và là cơ
sở đẻ doanh nghiệp đưa ra các biện pháp tài chính đúng đắn và hiệu

Quá trình bán hàng được thực hiện bởi 2 phương thức bán hàng :
- Bán hàng trực tiếp
Theo phương thức này, bên khách hàng uỷ quyền cho cán bộ nghiệp vụ
đến nhận hàng tại kho của doanh nghiệp hoạc bàn giao nhận tay ba( các
doanh nghiệp thương mại mua bán thẳng). Người nhận hàng sau khi ký vào
chứng từ bán hàng của doanh nghiệp thì hàng hoá được xác đinh là bán( hàng
đã chuyển quyền sở hữu).
- Gửi hàng đi bán
Theo phương thức này, định kì doanh nghiệp gửi hàng cho khách hàng
trên cơ sở thoả thuận trong hợp đồng mua bán giữa hai bên và giao hàng tại
địa điểm đã quy ước trong hợp đồng. Khi xuất kho hàng gửi đi vẫn thuộc quyền
sở hữu của doanh nghiệp, chỉ khi nào khách hàng trả tiền hoạc chấp nhận trả
tiền thì khi ấy hàng mới chuyển quyền sở hữu và ghi nhận doanh thu bán hàng.
* Trên góc độ thu tiền
- Bán hàng thu tiền ngay
Người mua nhận được hàng và thanh toán ngay (có thể giao hàng tại
kho hoạc gửi hàng đến địa điểm người mua yêu cầu). Việc ghi nhận doanh thu
và ghi nhận số tiền diễn ra cùng thời điểm
- Bán chịu
Người mua đã nhận hàng và chấp nhận thanh toán. Doanh nghiệp cho
phép chậm trả theo hợp đồng, xác định tiêu thụ tính vào doanh thu. Theo
phương thức nay thời điểm giao tiền diễn ra sau thời điểm ghi nhận doanh thu
- Bán hàng đổi hàng
Đây là phương thức bán hàng mà trong đó người bán đem sản phẩm vật
tư hàng hoá của mình dể đổi lấy sản phẩm vật tư hàng hoá của nguời mua. Giá
trao đổi là giá bán của sản phẩm vật tư hàng hoá đó trên thị trường.
* Tuy nhiên đứng trên góc độ khác để xem xét thì còn có thể có các
phương thức bán hàng khác như : Bán buôn, bán lẻ, bán trả góp ….. nhưng xét
về mặt bản chất thì nó thuộc các phương thức bán hàng trên.
1.2.3. Kết quả tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ

tra giám sát tình hình hoạt động kinh doanh tại doanh nghiệp của nhà nước và
những người có quan hệ lợi ích đối với doanh nghiệp
Từ vai trò quan trọng đó, kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng
có những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Ghi chép phản ánh chính xác, đầy đủ kịp thời khối lượng thành phẩm
hàng hoá dịch vụ bán ra và tiêu thụ nội bộ, tính toán đúng đắn trị giá
vốn của hàng đã bán ra, chi phí bán hàng và những khoản chi phí
khác nhằm xác định đúng đắn kết quả bán hàng
- Cung cấp thông tin chính xác trung thực và đầy đủ về tình hình bán
hàng, xác định kết quả và phấn phối kết quả phục vụ cho việc lập báo
cáo tài chính và quản lý doanh nghiệp.
1.3. KẾ TOÁN TIÊU THỤ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH
1.3.1. Kế toán doanh thu bán hàng và các khoản giảm trừ doanh
thu
• Doanh thu bán hàng và nguyên tắc ghi nhận doanh thu
- Doanh thu bán hàng là toàn bộ số tiền bán sản phẩm hàng hoá, tiền
cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm cả phụ thu và phí thu thêm
ngoài giá bán ( nếu có). Số tiền bán hàng được ghi trên hoá đơn
GTGT, hoá đơn bán hàng, hoặc giá thoả thuận giữa người mua và
người bán
Doanh thu bán hàng thường được phân biệt riêng cho từng loại doanh
thu bán hàng hoá, doanh thu bán thành phẩm, doanh thu cung cấp dịch vụ.
Người ta còn phân biệt doanh thu bán hàng theo phương thức tiêu thụ, doanh
thu bán hàng bao gồm: Doanh thu bán hàng ra ngoài và doanh thu bán hàng
nội bộ.
Ở các doanh nghiệp áp dụng thuế tính thuế GTGT theo phương pháp khấu
trừ thì doanh thu bán hàng không bao gồm thuế GTGT theo phương pháp trực
tiếp thì doanh thu bán hàng là toàn bộ giá trị thanh toán của số hàng đã bán.
- Nguyên tắc ghi nhận doanh thu
Trong hoạt động mua bán luôn diễn ra những phương thức thanh toán

1.3.1.1 Các chứng từ kế toán và tài khoản sử dụng
Theo chế độ hiện hành, chứng từ được sử dụng để hạch toán doanh thu
và các khoản giảm trừ doanh thu bao gồm:
+ Hoá đơn giá trị gia tăng
+ Hoá đơn bán hàng
+ Phiếu thu, giấy chấp hành nợ
Các chứng từ này là căn cứ để xác định doanh thu và ghi sổ kế toán liên
quan
• Các tài khoản sử dụng bao gồm:TK 511, TK 512,TK 531, TK 532, TK
521, TK 515 ,TK 131, TK 333 và các tài khoản liên quan khác
-Tài khoản 511 “ Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ”
+ Tài khoản này được dùng để phản ánh
Doanh thu bán hàng thực tế của doanh nghiệp được thực hiện trong
một kỳ kế toán của hoạt động sản xuất kinh doanh
+ TK 511 có bốn tài khoản cấp hai
TK 5111: Doanh thu bán hàng hoá
TK 5112 : Doanh thu bán các thành phẩm
TK 5113: Doanh thu cung cấp dịch vụ
TK 5114: Doanh thu trợ cấp trợ giá
+ Tài khoản 512 “ Doanh thu nội bộ ”
+ Tài khoản 515 “ Doanh thu hoạt động tài chính ”
+ Tìa khoản 521 “ Chiết khấu thương mại”
+ Tài khoản 531 “ Hàng bán bị trả lại”
+ Tài khoản 532 “ Giảm giá hàng bán”
+ Tài khoản 131 “ Phải thu của khách hàng”
Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản phải thu và tình hình thanh
toán các khoản nợ phải thu của doanh nghiệp với khách hàng về tiền bán sản
phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ
+ Tài khoản 3331 “ Thuế giá trị gia tăng phải nộp”
Tài khoản 3331 có hai tài khoản cấp hai


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status