MỤC LỤC
1
LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức ra đời vào năm 2000,
đánh dấu bằng sự ra đời của Trung tâm giao dịch chứng khoán TP HCM,
nay là Sở GDCK Tp HCM. Sự ra đời chính thức của TTCK Việt Nam là nhờ
có một sự nỗ lực từ phía UBCKNN, vừa là cơ quan quản lý, vừa điều hành
và giám sát cấp Nhà nước. Mặc dù mới ra đời, nhưng TTCK Việt Nam đã
thật sự sôi động. Đặc biệt là vào cuối năm 2006, đầu năm 2007 chơi chứng
khoán trở thành "mốt", "hiện tượng", "nhà nhà chơi chứng khoán, người
người chơi chứng khoán". Hàng loạt cổ phiếu lên sàn giao dịch, hàng loạt
nhà đầu tư vào cuộc, chỉ số chứng khoán VN – Index đã có thời gian vượt
trên 1000 điểm.
Sự phát triển nóng và nhanh của TTCK đã đặt ra một "bài toán hóc
búa" cho hoạt động giám sát TTCK nói riêng ở Việt Nam. Để có một cái
nhìn tổng quan nhất về tình hình giám sát TTCK nhóm chúng tôi đã tìm hiểu
và đưa ra một số nhận định về hoạt động giám sát trên TTCK hiện nay.
Tham gia hoàn thành đề tài này có sự nỗ lực rất lớn từ phía các thành
viên trong nhóm, đặc biệt là các bạn:
• Nguyễn Phương Thuỳ
• Đỗ Kim Thoa
• Nguyễn Mậu Việt
• Nguyễn Hải Yến
• Nguỵ Hồng Thuý
Và không thể thiếu sự hướng dẫn của cô giáo: Lê Hương Lan.
Xin chân thành cảm ơn sự đóng góp và giúp đỡ của cô giáo và các bạn!
2
NỘI DUNG
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT
TRÊN TTCK
1. Sự cần thiết
ích của mình. Chính vì vậy, họ thực hiện những hoạt động đa dạng,
phức tạp và cạnh tranh lẫn nhau. Nhưng cũng chính sự cạnh tranh
phức tạp đó đã dẫn đến hành vi gian lận. Khi sự cạnh tranh quá lớn,
nó sẽ chuyển sang một thái cực xấu thị trường sẽ hoạt động hỗn loạn,
mất ổn định. Do vây. cần có sự giám sát các hoạt động nhằm dung
hoà lợi ích giữa các chủ thể trên thị trường
Thứ tư , giám sát TTCK nhằm hạn chế những gian lận phát sinh gây
tác động xấu đến thị trường và các hoạt động kinh tế xã hội. TTCK là
một định chế tài chính hoạt động phức tạp và tinh vi. Hàng hoá trên
TTCK là các giấy tờ có giá, nó khác biệt với các hàng hóa thông
thường do vậy dễ phát sinh các hành vi lừa đảo ,gian lận trên thị
trường. Trên thực tế điều này là không tránh khỏi. Vấn đề quan trọng
là phải khống chế và kiểm soát chúng nhằm giúp TTCK hoạt động
hiệu quả hơn .
Thứ năm, giám sát TTCK nhằm ngăn chặn và kiểm soát các rủi ro
dẫn đến rủi ro hệ thống làm sụp đổ thị trường. Thực tế cho thấy rủi ro
luôn tồn tại trên TTCK Khi rủi ro xảy ra không chỉ làm cho nhà môi
giới, nhà phát hành, nhà đầu tư bị chao đảo mà còn làm cả thị trường
bị chao đảo. Đặc biệt là các rủi ro hệ thống có thể khéo theo hàng loạt
4
các biến cố khác có thể gây sụo đổ thị trường. Chúng ta chỉ có thể
kiểm soát chế ngự được rủi ro hệ thống chứ không xoá bỏ hoàn toàn
đựơc nó .Tính tiềm ẩn của các rủi ro hệ thống đ òi hỏi phải có sự
phân tích đánh giá,dự báo từ đó đưa ra các biện pháp đảm bảo tính ổn
định của thị trường . Điều này chỉ được thực hiện khi chúng ta có một
bộ phận chuyên nghiệp thực hiện công việc này.
Thứ sáu, giám sát trên TTCK để đảm bảo an toàn trong điều kiện
hội nhập kinh tế. Hiện nay, xu thế hội nhập quốc tế ngày một sâu
rộng, việc xây dựng và vận hành TTCK ở mỗi quốc gia đều theo
hướng mở .Tuy nhiên hội nhập TTCK là con giao hai lưỡi , vì vậy để
Hai là, Thi hành kỷ luật đối với các giao dịch gian lận , bất hợp
pháp trên thị trường .
Ba là, báo cáo với cơ quan quản lý nhà nước những bất ổn của thị
trường nhằm có sự điều chỉnh hợp lý.
b. Giám sát thành viên SGDCK
Được thực hiện trên cơ sở kiểm tra định kỳ và kiểm tra đột xuất
nhằm phát hiện ra những sai lệch để sửa chữa, uốn nắn kịp thời.
Giám sát thành viên của SGDCK bao gồm: giám sát tổ chức niêm
yết, giám sát công ty môi giới chứng khoán, giám sát công ty kinh
doanh chứng khoán.
6
+ Giám sát tổ chức niêm yết: Việc giám sát tổ chức niêm yết gồm
ba nội dung chính là: việc lập hồ sơ của các tổ chức niêm yết để theo
dõi; giám sát việc tuân thủ, duy trì các tiêu chuẩn niêm yết; giám sát
hoạt động công bố thông tin.
+ Giám sát công ty môi giới, kinh doanh chứng khoán và công ty
quản lý quỹ: Việc giám sát này nhằm mục đích bảo vệ các nhà đầu tư
và tạo lập sự công bằng cho thi trường.
Với nghiệp vụ kinh doanh, SGDCK thực hiện việc giám sát các
công ty chứng khoán theo các nội dung sau :
• Cung cấp thông tin giao dịch kịp thời ,chính xác .
• Phương thức nhận lệnh của khách hàng phải hợp pháp.
• Các nhân viên của công ty không được lợi dụng danh nghĩa
công ty để thực hiện các giao dịch của riêng mình.
Đối với các công ty quản lý quỹ, SDGDCK tiến hành giám sát về
cơ cấu tổ chức, phương thức hình thành quỹ, tình hình tài chính và các
hoạt động trên thị trường. Việc giám sát của SGDCK cũng được thực
hiện với hai nội dung chính:
• Lập hồ sơ giám sát công ty quản lý quỹ gồm :
• Giám sát việc tuân thủ các quy định hoạt động của SGDCK
* Theo dõi chứng khoán trong khoảng thời gian
Quy trình theo dõi chứng khoán trong nhiều ngày được thực hiện qua
các bước sau:
- Phát hành các giao dịch không bình thường bằng cách theo dõi phân
tích kết quả giao dịch trong ngày
- Tiến hành theo dõi kết quả giao dịch trong nhiều ngày liên tục ,nếu thấy
có sự biến động lớn về giá hoặc khối lượng giao dịch thì thu thập tiếp thông
tin để điều tra
- Thu thập, phân tích tin đồn và các thông tin liên quan
- Kết thúc việc theo dõi ,đưa ra kết luận và báo cáo về cơ quan chủ quản
4.2. Thanh tra
Đối tượng thanh tra TTCK bao gồm: các tổ chức niêm yết ;các công ty
chứng khoán, quỹ đầu tư chứng khoán ,công ty quản lý quỹ đầu tư ,thành
viên lưu ký chứng khoán ,ngân hàng giám sát ;……..
Đối tượng bị thanh tra có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ chính xác và kịp thời
các thông tin có liên quan để tổ chức thanh tra xác minh ,phân tích :
- Số lượng chứng khoán đã phát hành
- Biến động về giá và khối lượng chứng khón đã giao dịch
9
- Tính lành mành trong mối quan hệ giữa tổ chức niêm yết với công
ty chứng khoán và công ty kiểm toán
- Mối quan hệ giữa những người nắm được thong tin nội bộ của tổ
chức phát hành với nhau và với những đói tượng khác
- Mối quan hệ giữa những nhà đầu tư nắm giữ phần lớn số lượng
chứng khoán phát hành
- Các giao dịch có giá trị lớn, mờ ám
- Những hành vi gian lận khác như : nhiều giá, đầu cơ…..
4.3. Xử lý kỷ luật
* Các hình thức xử lý kỷ luật :
- Yêu cầu sửa đổi, sửa chữa khi đối tượng phát sinh các vấn đề không
Đối tượng thanh tra bao gồm :
a. Tổ chức chào bán chứng khoán ra công chúng ;
11
b. Công ty đại chúng;
c. Tổ chức niêm yết chứng khoán ;
d. Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứng khoán ;
đ. Trung tâm lưu ký chứng khoán, thành viên lưu ký ;
e. Công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng
khoán, ngân hàng giám sát, chi nhánh và văn phòng đại diện của công ty
chứng khoán, công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam ;
g. Người hành nghề chứng khoán ;
h. Tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư và hoạt động trên thị trường chứng
khoán ;
i. Tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt động chứng khoán và thị
trường chứng khoán.
b. Phạm vi thanh tra
Phạm vi thanh tra bao gồm :
a. Hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng ;
b. Hoạt động niêm yết chứng khoán ;
c. Hoạt động giao dịch chứng khoán ;
d. Hoạt động kinh doanh chứng khoán, đầu tư chứng khoán, dịch vụ về
chứng khoán và thị trường chứng khoán ;
đ. Hoạt động công bố thông tin ;
e. Các hoạt động khác có liên quan đến chứng khoán và thị trường chứng
khoán.
c. Hình thức thanh tra
Ở Việt Nam, hình thức thanh tra được quy định tại điều 110 của luật
chứng khoán như sau :
a. Thanh tra theo chương trình, kế hoạch đã được Chủ tịch Ủy ban Chứng
khoán Nhà nước phê duyệt;