TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 67

TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI
1.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm
Cùng với sự phát triển của nền sản xuất lưu thông hàng hóa, ngân hàng đã
được hình thành, phát triển và trở thành nhân tố không thể thiếu đối với sự phát
triển của mỗi quốc gia. Có thể nói, ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính
có vai trò quan trọng nhất trong nền kinh tế, là trung gian luân chuyển tài sản từ nơi
thừa vốn đến nơi thiếu vốn đồng thời cũng là trung gian cung cấp các dịch vụ thanh toán,
môi giới và tư vấn. Ngân hàng giống như huyết mạch của nền kinh tế, giúp nền kinh tế
có thể vận hành một cách thông suốt.
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về ngân hàng, tùy thuộc vào những cách
tiếp cận khác nhau mà có những định nghĩa khác nhau. Thông thường, ngân hàng
được định nghĩa qua chức năng, dịch vụ hoặc vai trò mà chúng thực hiện trong nền
kinh tế.
Theo luật các tổ chức tín dụng dựa vào hoạt động của ngân hàng cho rằng “
Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội
dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung
ứng các dịch vụ thanh toán”.
Nhưng cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem ngân hàng trên phương diện
các loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp “ Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung
cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất- đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm,
dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức
kinh doanh nào trong nền kinh tế”
1.1.2 Các hoạt động chính
Huy động vốn: Đây là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất
đối với ngân hàng thương mại, tuy không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân
hàng nhưng nếu không có hoạt động này thì ngân hàng không thể tồn tại vì sẽ
không có đủ vốn tài trợ cho hoạt động của mình. Hay có thể nói huy động vốn
cung cấp yếu tố “đầu vào” cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Ngày nay,
cùng với sự phát triển của nền kinh tế, với sự xuất hiện của hàng loạt các tổ chức

thực hiện một số hoạt động khác như: góp vốn và mua cổ phần, kinh doanh ngoại
hối, tham gia vào thị trường tiền tệ, ủy thác và nhận ủy thác, cung ứng dịch vụ bảo
hiểm, tư vấn tài chính và bảo quản vật quý giá.
Bảo lãnh là một hoạt động trung gian của ngân hàng, ra đời do đòi hỏi khách
quan của nền kinh tế và ngày càng khẳng định vị trí quan trọng trong nền kinh tế
thị trường, đặc biệt là trong các giao dịch thương mại quốc tế. Nền kinh tế thế giới
ngày càng phát triển, các hợp đồng có giá trị lớn xuất hiện ngày càng nhiều, bảo
lãnh ngân hàng trở nên cần thiết và rất được chú trọng phát triển.
1.2 Hoạt động bảo lãnh của Ngân hàng thương mại
Bảo lãnh là một nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, nó chỉ mới xuất hiện ở Mỹ vào
đầu thập kỷ 60 của thế kỷ 20, vào thời điểm này bảo lãnh như là một dạng của thư
tín dụng dự phòng. Từ thập kỷ 70 trở đi, phạm vi áp dụng và doanh số thực hiện
nghiệp vụ bảo lãnh đã ngày càng tăng, bảo lãnh không chỉ áp dụng đối với các hợp
đồng quốc tế mà còn cả với hợp đồng ký kết trong nước; không những hoạt động
thương mại mà còn trong các giao dịch tài chính, thuê mua và liên doanh. Vì đây là
thời điểm kinh tế của các nước Trung Đông phát triển rất mạnh mẽ do ký kết được
các hợp đồng lớn về xuất khẩu dầu mỏ. Các hợp đồng này lớn cả về số và chất
lượng mang lại nguồn thu nhập khổng lồ cho các nước này tuy nhiên rủi ro tiềm ẩn
cũng không phải là nhỏ. Như vậy để hạn chế rủi ro sảy ra, những người xuất khẩu
dầu mỏ yêu cầu có sự đảm bảo cho các hợp đồng được diễn ra an toàn nhanh
chóng, đảm bảo cho việc thanh toán của bên đối tác. Bên cạnh đó để đảm bảo số
lượng cũng như chất lượng, người nhập khẩu yêu cầu có sự cam kết của bên thứ ba
về việc nhà xuất khẩu sẽ thực hiện đúng hợp đồng. Những bảo lãnh độc lập do
ngân hàng của các nước phương Tây đã đáp ứng được yêu cầu về sự an toàn và
tiện lợi của những người nhập khâủ cũng như xuất khẩu.
Tại Việt nam, trong thời kỳ hệ thống ngân hàng việt nam còn là hệ thống một
cấp, nghiệp vụ bảo lãnh chủ yếu được thực hiện thông qua Ngân hàng Ngoại
thương- đơn vị nhà nước được giao nhiệm vụ tín dụng và thanh toán quốc tế.
Nghiệp vụ bảo lãnh hình thành chủ yếu bằng các hình thức như mở thư tín dụng
nhập hàng trả chậm, ký bảo lãnh trên các hối phiếu, trong giai đoạn này chưa có

và đã được quy định trong cam kết bảo lãnh.
Như vậy nếu xét theo các hình thức tín dụng của ngân hàng thì bảo lãnh như là
một hình thức tín dụng đặc biệt hay “ tín dụng chữ ký”, là hình thức tín dụng gián
tiếp. Trong đó ngân hàng không trực tiếp cho vay bằng tiền mà bằng uy tín của
mình, ngân hàng tạo điều kiện cho khách hàng của mình có thể sử dụng vốn của
người khác và đảm bảo khả năng thanh toán của khách hàng. Tuy cùng là một hình
thức tín dụng nhưng khi hạch toán, bảo lãnh được xếp vào tài sản ngoại bảng.
Bảo lãnh ngân hàng thường có ba bên tham gia: bên bảo lãnh, bên hưởng bảo
lãnh và bên được bảo lãnh, trong đó:
Bên bảo lãnh: là bên đứng ra phát hành thư bảo lãnh và có nghĩa vụ thanh toán
cho bên nhận bảo lãnh khi bên này yêu cầu, phải xuất trình đầy đủ giấy tờ và hợp
lệ với những điều khoản đã ký trong thư bảo lãnh. Bảo lãnh ngân hàng chính là
việc ngân hàng đứng ra bảo lãnh hay ngân hàng là bên bảo lãnh.
Bên hưởng bảo lãnh: Là bên được hưởng bồi thường theo các quy định trong thư
bảo lãnh khi có sự vi phạm hợp đồng với điều kiện bên hưởng bảo lãnh phải xuất
trình đầy đủ các chứng từ phù hợp với các điều khoản được quy định trong thư bảo
lãnh.
Bên được bảo lãnh: là bên yêu cầu ngân hàng mở thư bảo lãnh. Trong trường
hợp có sự vi phạm hợp đồng, ngân hàng phải trả thay thì bên được bảo lãnh phải có
nghĩa vụ hoàn trả cho ngân hàng.
1.2.2 Đặc điểm của bảo lãnh
1.2.2.1 Mối quan hệ nhiều bên phụ thuộc lẫn nhau
Đặc điểm này đựơc thể hiện ngay trong khái niệm về bảo lãnh ngân hàng, trong
đó quan hệ bảo lãnh phải có ít nhất ba bên: bên hưởng bảo lãnh, bên được bảo lãnh và
bên bảo lãnh tương ứng với nó là ba loại hợp đồng bảo lãnh:
Ngân hàng
(Bên bảo lãnh)
Người thứ ba
(Bên hưởng bảo lãnh)
Khách hàng

tuân thủ, ngân hàng sẽ phải thanh toán mà không thể viện lý do để từ chối hay trì
hoãn. Nhưng mặt khác, ngân hàng có quyền đòi tiền người được bảo lãnh về số
tiền đã thanh toán cho người nhận bảo lãnh theo hợp đồng bảo lãnh mà không phụ
thuộc vào hợp đồng cơ sở.
Tuy nhiên sự độc lập của bảo lãnh cũng chỉ mang tính tương đối vì còn phụ
thuộc vào chính những điều kiện của bảo lãnh. Nếu cam kết bảo lãnh quy định việc
thanh toán là theo văn bản yêu cầu của người hưởng bảo lãnh thì người hưởng bảo
lãnh có quyền yêu cầu thanh toán mà không nhất thiết phải chứng minh sự vi phạm
của người được bảo lãnh. Ngược lại, nếu cam kết bảo lãnh yêu cầu phải kèm theo
chứng từ thì buộc người hưởng bảo lãnh phải mang đầy đủ bộ chứng từ theo quy
định đến ngân hàng thì mới nhận được khoản thanh toán.
1.2.2.3 Tính phù hợp của bảo lãnh
Khi bên được bảo lãnh không thực hiện đúng hợp đồng thì bên hưởng bảo lãnh
có quyền đòi ngân hàng thanh toán cho mình. Nhưng trước khi thanh toán, ngân
hàng cần kiểm tra, đối chiếu xem chứng từ mà người hưởng bảo lãnh đưa ra có hợp
lệ và phù hợp với cam kết bảo lãnh hay không. Ngân hàng chỉ thực hiện thanh toán
nếu các điều kiện đưa ra được đảm bảo, ngân hàng có quyền từ chối trong trường hợp
chứng từ không hợp lệ, nếu ngân hàng vẫn nhất quyết thanh toán thì sẽ không nhận
được khoản bồi hoàn từ bên được bảo lãnh.
1.2.2.4 Bảo lãnh vừa là hoạt động ngoại bảng, vừa là hoạt động nội bảng
Bảo lãnh là hình thức tài trợ thông qua uy tín, khi ngân hàng đứng ra bảo lãnh
thì ngân hàng không phải xuất tiền ngay nên bảo lãnh được xếp vào hoạt động
ngoại bảng. Chỉ khi bên được bảo lãnh không thực hiện đúng cam kết và ngân
hàng phải đứng ra chi trả thay cho bên được bảo lãnh thì lúc này bảo lãnh sẽ được
xếp vào hoạt động nội bảng và trở thành tài sản xấu hình thành nên nợ quá hạn.
1.2.3 Vai trò của bảo lãnh ngân hàng
1.2.3.1 Đối với ngân hàng
Bảo lãnh làm đa dạng hóa các sản phẩm của ngân hàng, giúp ngân hàng thỏa
mãn được các yêu cầu tổng hợp cũng như có tính đặc thù cao, góp phần nâng cao
uy tín và tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa ngân hàng và khách hàng. Uy tín

ngân hàng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có đủ tư cách tham gia đấu thầu,
thực hiện các giao dịch và ký kết hợp đồng khi doanh nghiệp có đủ phương tiện và
khả năng thực hiện hợp đồng nhưng chưa đủ uy tín với bên đối tác. Khi ngân hàng
đứng ra bảo lãnh cho doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể tiết kiệm được một khoản
vốn đáng kể đồng thời có thêm nguồn vốn đáp ứng nhu cầu sản xuất và mở rộng
kinh doanh của mình. Mặt khác, khi tiến hành bảo lãnh, doanh nghiệp phải chịu sự
giám sát chặt chẽ của ngân hàng qua đó giúp doanh nghiệp sử dụng vốn đúng mục đích
và làm ăn có hiệu quả hơn.
1.2.3.3 Đối với nền kinh tế
Bảo lãnh ngân hàng tạo điều kiện mở rộng mối quan hệ thương mại quốc tế vì
hoạt động thương mại quốc tế là hoạt động chứa đựng rất nhiều rủi ro. Thông qua
hoạt động bảo lãnh, các bên đối tác sẽ cảm thấy an toàn hơn, qua đó giúp họ yên
tâm hơn trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng tạo động lực thúc đẩy quan hệ
thương mại phát triển.
Bảo lãnh ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế để phát triển và mở
rộng sản xuất kinh doanh. Ngoài ra việc sử dụng đòn bẩy bảo lãnh, phí bảo lãnh để
hướng nghiệp vụ bảo lãnh phục vụ cho một số lĩnh vực kinh tế nhất định góp phần
tích cực vào việc thực hiện các chương trình quốc gia, thúc đẩy sự phát triển của
một số ngành kinh tế mũi nhọn.
Bảo lãnh ngân hàng góp phần vào việc thực hiện cơ cấu lại các ngành kinh tế
bằng việc áp dụng chính sách đãi đối với các ngành kinh tế trọng điểm, trái lại thực hiện
các điều kiện bảo lãnh khắt khe với các ngành cần hạn chế.
Như vậy, bảo lãnh không chỉ có vai trò quan trọng với các ngân hàng thương
mại, các chủ thể tham gia bảo lãnh, mà nó cũng là một trong những nhân tố quyết
định đến sự phát triển kinh tế của quốc gia. Vì thế mục tiêu phát triển và mở rộng
hoạt động bảo lãnh là mục tiêu chiến lược của tất cả các ngân hàng thương mại.
1.2.4 Phân loại bảo lãnh
Có rất nhiều loại bảo lãnh đựơc áp dụng rộng rãi hiện nay nhưng tùy theo các
tiêu thức khác nhau mà người ta có thể chia bảo lãnh ngân hàng thành các loại như
sau:

bảo hành cho việc lắp đặt và bảo hành thiết bị theo sự thỏa thuận của các bên.
Bảo lãnh dự thầu
Đối với những hợp đồng lớn, đặc biệt là các hợp đồng xây dựng, thiết kế và
cung ứng thiết bị thì chủ công trình thường lựa chọn đối tác thông qua đấu thầu để
có thể tìm kiếm được các nhà thầu có đủ năng lực và hạn chế những rủi ro khi nhà
thầu vi phạm các điều khoản tham gia dự thầu như trúng thầu không thực hiện hợp
đồng, không kê khai đúng các yêu cầu của chủ đầu tư.
Bảo lãnh dự thầu là cam kết của ngân hàng với chủ đầu tư (hay chủ thầu) về
việc trả tiền phạt thay cho bên dự thầu nếu bên dự thầu vi phạm các quy định trong
hợp đồng dự thầu.
Chủ đầu tư thường yêu cầu bên dự thầu phải ký quỹ (đặt cọc) dự thầu, nếu có
sự vi phạm hợp đồng thì bên dự thầu sẽ bị mất tiền ký quỹ. Do phải ký quỹ nên gây
ra nhiều thủ tục phiền phức cho cả hai bên, đặc biệt làm đọng vốn của bên tham gia
dự thầu. Nhưng thông qua bảo lãnh của ngân hàng người tham gia đấu thầu không
cần phải ký quỹ, đồng thời cũng đảm bảo cho chủ công trình vẫn được đền bù thỏa
đáng khi có sự vi phạm hợp đồng.
Hợp đồng thầu thường có giá trị lớn nên giá trị bảo lãnh dự thầu thường từ 1%
đến 5% giá trị hợp đồng, trong trường hợp người dự thầu hoạt động ở nước ngoài
thì chủ công trình yêu cầu bảo lãnh dự thầu gián tiếp. Bảo lãnh sẽ hết hiệu lực khi
người dự thầu trúng thầu và thực hiện ký kết hợp đồng và lúc này bảo lãnh chuyển
sang bảo lãnh thực hiện hợp đồng hoặc khi người dự thầu không trúng thầu thì bảo
lãnh tự động hết hiệu lực. Như vậy thời gian của bảo lãnh dự thầu thường ngắn nên ít
rủi ro hơn so với các loại bảo lãnh khác.
Bảo lãnh hoàn thanh toán
Người cung cấp thường yêu cầu khách hàng của mình (người mua hàng hóa,
dịch vụ) phải đặt trước một khoản tiền trong giá trị hợp đồng cung cấp. Số tiền này
vừa giúp bên cung cấp có một phần vốn để sản xuất kinh doanh, vừa có tác dụng
rằng buộc người mua phải mua hàng đã đặt. Tuy nhiên, đề phòng người cung cấp
không cung cấp hàng đồng thời lại không trả tiền đặt cọc, bên mua yêu cầu bên
cung cấp phải có bảo lãnh của ngân hàng về việc sẽ trả tiền ứng trước.

cho đến hết thời hạn bảo hành của thiết bị. Nhưng với bảo lãnh đảm bảo chất lượng
sản phẩm, ngân hàng không có chức năng thực hiện bảo hành sản phẩm (như thay
thế hay sửa chữa) mà tất cả đều được tính ra giá trị. Thông thường số tiền bảo lãnh
theo hình thức này chiếm 5% đến 10% giá trị sản phẩm công trình. Tuy nhiên, hiện
nay các ngân hàng thường không có khả năng thẩm định tính kỹ thuật của công
trình hoặc sản phẩm mà việc phát hành bảo lãnh chủ yếu dựa trên lòng tin với

Trích đoạn Các nhân tố ảnh hưởng đến mở rộng hoạt động bảo lãnh của ngân hàng thương mạ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status