Bài
ti
ểu luận:Ứng dụng của vi s
i
nh vậ
t
dùng trong bảo vệ thực vậ
t
SVTH: Nguyễn Thị Ái Diệu Trang: 1
CHẾ
PHẨM
SINH
HỌC
DÙNG
TRONG
BẢO
VỆ
THỰC
VẬT
Để
đáp
tăng,
quá
trình
sản
xuất
nông
nghiệp
ngày
càng
được
phát
triển.
Đồng
thời
với
gây
bất
ổn
đến
năng
suất
vỡ
chất lượng
nông
sản,
gây
thiệt
hại
tới
20
trồng
con
người
đã
sử
dụng
các
biện
pháp
khác
nhau:
biện
pháp
thủ công,
biện
hoá
học
được
coi
là
biện
pháp
tích
cực
cho
hiệu
quả
cao,
nhanh,
đơn
thuốc
hoá
học
thể
hiện
ở
chỗ
nếu
sử
dụng
thuốc
không
hợp
lý,
không
hưởng
tới
sức
khoẻ
người
và
động
vật,
tăng
khả
năng
hình
thành
tính
kháng
thuốc
ra
nhiều
vụ
dịch
hại
mới,
gây
hậu
quả
xấu
tới
môi
trường...
Chính
vì
những
trong
phòng
chống
và
kiểm
soát
dịch
hại,
đặc
biệt
là
cần
giảm
số
lượng
pháp
quản
lý
tổng
hợp
dịch
hại
(IPM),
trong
đó
biện
pháp
sinh
học
là
ong
,
nhện,
...
được
ứng
dụng
rất
rộng
rãi
trong
việc
hạn
chế
tác
III.
nấm
gây
bệnh
côn
trùng
1.
Khái
quát
chung
về
nấm
gây
bệnh
cho
côn
sinh
với
côn
trùng,
trong
đó
có
nhiều
loài
nấm
thực
sự
là
ký
sinh,
gây
côn
trùng
có
ý
nghĩa
rất
lớn
vì
có
thể
gây
chết
thường
xuyên
với
tỷ
hoà
tự
nhiên
rất
hiệu
quả.
Côn
trùng
chết
do
nấm
rất
dễ
nhận
biết
bộ
bề
mặt
ngoài
của
cơ
thể
côn
trùng.
Cơ
thể
côn
trùng
bị
chết
bộ
bên
trong
cơ
thể
chứa
đầy
sợi
nấm.
Hầu
hết
các
các
loại
nấm
gây
mà
qua
lớp
vỏ
cơ
thể,
nghĩa
là
phải
có
sự
tiếp
xúc
của
nguồn
thể
vật
chủ,
trong
điều
kiện
đủ
độ
ẩm
bào
tử
mọc
mầm
và
xâm
hoặc
hoạt
động
men
của
nấm.
Nấm
tiết
ra
loại
men
làm
mềm
lớp
vỏ
thủng
đó
mầm
bào
tử
xâm
nhập
vào
bên
trong
cơ
thể
côn
trùng.
Do
khả
nên
nấm
có
thể
ký
sinh
được
côn
trùng
chích
hút
và
cả
những
pha
sinh
được.
SVTH: Nguyễn Thị Ái Diệu Trang: 3
Bài
ti
ểu luận:Ứng dụng của vi s
i
nh vậ
t
dùng trong bảo vệ thực vậ
t
Nấm
cũng
có
thể
xâm
nhập
vào
bên
và
qua
thành
ruột
xâm
nhiễm
vào
các
tế
bào
nội
quan
để
gây
bệnh.
tác
động
của
độc
tố
do
bào
tử
nấm
tiết
ra
có
thể
dẫn
tới
Aspergillus
trong
ruột
ong
mật.
Bào
tử
nấm
còn
có
thể
xâm
nhập
qua
lỗ
rất
ít.
Nấm
gây
bệnh
cho
côn
trùng
thuộc
nhiêu
nhóm
nấm
khác
nhau:
từ
nhóm
gây
bệnh
cho
côn
trùng
có
mặt
trong
cả
4
lớp
nấm:
Nấm
bậc
thấp
Phycomycetes,
Phycomycetes:
Trong
lớp
nấm
này,
các
loài
ký
sinh
trên
côn
trùng
tập
trung
ở
ba
đều
là
ký
sinh
trên côn trùng
như Entomophthoraceae và
Coelomomycetaceae.
Những
giống
nấm
ký
sinh
côn
trùng
quan trọng của lớp nấm bậc thấp là:
Coelosporidum,
Chytridiopsis
lớp
nấm
túi có
bộ
Laboulbiniales
là
những
nấm
ngoại
ký
sinh
côn trùng
có
chuyên
tính
cao,
trọng
gây
bệnh
cho
côn
trùng
là:
Cordyceps,
Aschersonia
(bộ
Hypocreales).
SVTH: Nguyễn Thị Ái Diệu Trang: 4
Bài
ti
ểu luận:Ứng dụng của vi s
i
nh vậ
t
dùng trong bảo vệ thực vậ
t
loài
gây
bệnh trên
côn
trùng.
Đó
là
giống
Septobasidium
và Uredinella
nấm
đảm
Basidiomycete
-
Lớp
nấm
bất
bộ
Moniliales.
Những giống Beauveria,
Paecilomyces, Spicaria,
Metarhizium,
Cephalosporium
và
Sorosporella chứa
các
loài
khi
xâm
nhiễm
vào
côn
trùng
đã tạo
thành
2.
Một
số
nấm
chính
gây
bệnh
côn
trùng
2.1.
Nấm
xanh
Metarhizium
anisopliae
Nấm
này
bệnh.
Nấm
xanh
thường
gây
bệnh
cho
côn
trùng
sống
trong
đất,
thuộc
hệ
vi
sinh
mặt
cơ
thể
côn
trùng
thì
bắt
đầu
mọc
mầm
và
xâm
nhập
vào
bên
trong.
quan.
Sau
khi
vật
chủ
chết,
sợi
nấm
mọc
ra
ngoài
cơ
thể
côn
trùng
đó
tạo
thành
các
conidi
màu
xanh
xám.
Quá
trình
phát
triển
của
bệnh
trong
như
nguồn
bệnh
ban
đầu.
Vào
giai
đoạn
cuối
cùng
của
quá
trình
phát
triển
bệnh
có
bào
tử
dài
và
M.
anisopliae
var.
anisopliae
có
bào
tử
ngắn.
Nấm
xanh
sinh
côn
trùng,
thuộc
các
bộ:
Orthoptera
(11
loài),
Dermaptera
(1
loài),
Hemiptera
(21
loài),
Lepidoptera
(27
nuôi
cấy
trên
môi
trường
thức
ăn
nhân
tạo.
Nhiều
loài
trong
chi
Metarhizium
có
khả
và
Clex pipiens
thuộc
Diptera,
côn
trùng
hại
lúa
Scotinophara
coarctata
thuộc
họ
Heminoptera, châu
chấu
Schistocera
gragaria
trụ
và
khuẩn
lạc
xanh
đen
hoặc
đôi
khi
màu
tối
hoặc
hồng
o
vỏ
quế.
C
có
đường
kính
2cm.
M.
anisopliae
có
hai
thứ
(varieties)
với
các
đặc
điểm:
-
8,0(-9,0)
×
2,5
-
3,5
(-
4,5)µm.
Bào
tử
túi
lớn
là
M.
anisopliae
thứ
này,
đã
có
những
nghiên
cứu
về
huyết
thanh
học
khác
nhau
của
M.
mạnh
nhất
cho
côn
trùng
thuộc
bộ
Coleoptera.
Hơn
204
loài
côn
trùng
thuộc
họ
nhiên.
Đặc
điểm
sinh
lý,
sinh
hoá
của
M.
anisopliae:
- Không
thể
sinh
trưởng
tốt
trên
ở
nhiệt
độ
thấp
(8
C),
biên
độ
của
độ
ẩm
rộng,
ở
nơi
tích
hoại
sinh
trong
đất,
bào
từ
dính
bị
ức
chế
nảy
mầm
bởi
khu
hệ
C
và
trên
35
C
thì
sự
hình
thành
bào
tử
không
thể
xảy
ra.
C
và
chết
ở
49
C
trong
10
phút.
o
-
Nhiệt
độ
tốt
nhất
cho
khả
năng
phân
giải
tinh
bột,
celluloza
và
kitin
(lông
và
da
côn
trùng).
2.2.
Nấm
kỷ
XIX
ở
Hoa
Kỳ
đã
dùng
nấm
B.
bassiana
để
trừ
một
loại
bọ
xít cánh
mặt
cơ
thể
vật
chủ,
conidi
của
nấm
B. bassiana
bắt
đầu
mọc
mầm
và
xâm
nhập
vật
chủ
bị
nhiễm
conidi
khoảng
10
giờ
và
có
thể
kéo
dài
vài
ngày.
Sau
phát
triển.
Nấm
tiêu
diệt
dần
các
tế
bào
bạch
huyết
khi
bị
tấn
công
bào
bạch
huyết
thì
côn
trùng
vật
chủ
chết.
Nấm
tiếp
tục
sinh
trưởng
phát
trùng
càng
trở
nên
rắn
lại.
Khi
gặp
độ
ẩm
thuận
lợi,
các
sợi
nấm
trùng
bị
nhiễm
B.
bassiana
ở
điều
kiện
25
C
sẽ
chết
sau
6
-7
khá
rộng.
Chỉ
riêng
vùng
Bắc
châu
Mỹ
đã
ghi
nhận
được
175
loài
côn
trường
nhân
tạo.
SVTH: Nguyễn Thị Ái Diệu Trang: 7
Bài
ti
ểu luận:Ứng dụng của vi s
i
nh vậ
t
dùng trong bảo vệ thực vậ
t
2.3.
Nấm
châu
chấu
Entomophaga
grylli
Nấm
lớn.
Sau
dịch
do
nấm
này
gây
ra,
quần
thể
châu
chấu
giảm
đi
80
-
thẳng.
Trong
quá
trình
phát
triển
của
bệnh,
nấm
E.
grylli
phân
huỷ
toàn
bộ
các
phận,
kể
cả
chân
côn
trùng,
chỉ
trừ
trứng
và
buồng
trứng
là
không
bị
nấm
và
chết
ở
đó
với
tư
thế
đầu
hướng
lên
phía
trên.
Xác
chết
này
chết
tạo
thành
conidi.
Châu
chấu
khoẻ
tụ
tập
quanh
xác
chết
sau
một
đêm
lớn,
vì
các
loài
nấm
Entomophaga
nói
chung
không
nuôi
cấy
trên
môi
trường
thức
này
tồn
tại
lâu trong
điều
kiện
tự
nhiên.
3.
Quy
trình
sản
xuất
chế
phẩm
diệt
tuyển
chọn
nấm
thường
chứa:
glucoza,
pepton,
oxagall, chloramphenicol
và
actidione.
Các
chất
kháng
sinh
được
bổ
nhất,
nguồn
cacbon
phù
hợp
nhất
là
saccaro asparagin
hoặc
glyxin.
Trong
sản
xuất
công
nghiệp
người
cao
đậu
tương.
Tỷ
lệ
C/N
được
coi
là
tối
ưu
khi
đạt
10/1.
3.2.
Các
phương
có
thể
dễ
dàng
thu
được
sinh
khối,
bào
tử,
tinh
thể
độc
và
các
sản
trường
dinh
dưỡng
của
vi
sinh
vật
diệt
sâu
hại
và
côn
trùng
gây
hại.
lên
men
chìm
dễ
áp
dụng
cơ
khí
hoá,
tự
động
hóa,
diện
tích
mặt
trùng:
Trong
điều
kiện
thiếu
trang
thiết
bị
người
ta
có
thể
lên
men
bề
mặt
từ
một
số
chủng
nấm.
Nhằm
hạn
chế
sự
nhiễm
tạp
của
vi
sinh
vật
C
trong
30
phút,
sau
khi
môi
trường
nguội,
người
ta
bổ
sung
kháng
sinh
(Streptomycin)
ở
nhiệt
độ
28-30
0
C
bột
bào
tử
túi
Môi
trường
dịch
nấu
sôi Các
chậu
thủy
trường
1-1,5mm
Nuôi
12
ngày,
t
0
=25-30
0
C
Thấm
cho
ráo
nước
+
chất
phụ
gia
Nghiền
lượng
Bảo
quản
ở
5-10
0
C,
sử
dụng
Quy
trình
lên
men
bề
mặt
không
vô
Có
thể
dụng
phương
pháp
lên
men
xốp
tạo
chế
phẩm
vi
sinh
vật
diệt
dinh
dưỡng
vào
các
cơ
chất
lựa
chọn
khác
nhau
như
bột
đậu
nành,
bã
đậu
lên
men.
Khi
sinh
khối
nấm
đạt
cực
đại
tiến
hành
thu
hồi
sinh
khối,
và
hệ
sợi
nấm.
Các
chủng
nấm
có
khả
năng
diệt
côn
trùng,
sâu
hại
thường
giống
5
–
7
ngày
Môi
trường
dịch
thể,
lắc Môi
trường
xốp
trong
bình
200
vòng/phút 250
tinh
so
sánh
+
10%
giống.
Nuôi
ở
10
ngày,
t
0
=28-30
0
C
Độ
ẩm
90-95%
Nghiền
nhỏ
đóng
bao
nhãn
kiểm
tra
chất
lượng
Baỏ
quản
5-10
0
C
trong
tối
và
phẩm
nấm
Nấm
Metarhizium
anisopliae
và
Beauveria
được
nghiên
cứu
sản
xuất
để
trừ
một
với
rầy
nâu,
sâu
đo
đay,
châu
chấu
xanh,
châu
chấu
ở
điều
kiện
trong