VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG CỦA TỔ CHỨC LAO ĐỘNG - Pdf 68

VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG CỦA TỔ CHỨC LAO ĐỘNG
1. Khái niện về Tổ chức lao động.
- Khái niệm: Tổ chức lao động là tổ chức quá trình hoạt động của con
người, trong sự kết hợp giữa ba yếu tố cơ bản của quá trình lao động và các mối
quan hệ qua lại giữa những người lao động với nhau nhằm đạt được mục đích
của quá trình đó.
- Có thể nói Tổ chức lao động là một phạm trù gắn liền với lao động
sống, với việc đảm bảo sự hoạt động của sức lao động. Thực chất, Tổ chức lao
động trong phạm vi một tập thể lao động nhất định là một hệ thống các biện
pháp đảm bảo sự hoạt động lao động của con người nhằm mục đích nâng cao
năng suất lao động và sử dụng đầy đủ nhất các tư liệu sản xuất.
- Tổ chức lao động giữ vị trí quan trọng trong tổ chức sản xuất, do vai trò
quan trọng của con người trong quá trình sản xuất nhất định. Vì cơ sở kỹ thuật
của con người trong quá trình sản xuất dù hoàn thiện như thế nào chăng nữa,
quá trình sản xuất cũng không thể tiến hành được nếu không sử dụng sức lao
động, không có sự hoạt động có mục đích của con người đưa cơ sởđó vào hoạt
động. Do đó lao động có tổ chức của con người trong bất kỳ xí nghiệp nào cũng
làđiều kiện tất yếu của hoạt động sản xuất, còn tổ chức lao động là một bộ phận
cấu thành của tổ chức quá trình sản xuất. Tổ chức lao động không chỉ cần thiết
trong lĩnh vực sản xuất vật chất mà nó cũng cần thiết trong các tập thể lao động
thuộc các lĩnh vực không sản xuất vật chất.
2. Nội dung của Tổ chức lao động.
2.1 Tuyển dụng lao động.
- Khái niệm: Tuyển dụng là một quá trình nhằm thu hút những người lao
động từ những nguồn khác nhau cho vị trí công việc trống và lựa chọn ra người
phù hợp cho vị trí công việc đó.
* Nội dung của tuyển dụng gồm 2 quá trình liên tiếp:
- Tuyển mộ: Là quá trình tìm kiếm, thu hút những người lao động ở các
nguồn khác nhau cho vị trí công việc trống. Kết quả tạo ra một tập hợp ứng
viên.
+ Nguồn và phương pháp tuyển mộ:

Tiếp đón ban đầu và phỏng vấn sơ bộ.
Nghiên cứu hồ sơ xin việc.
Trắc nghiệm tuyển chọn.
Phỏng vấn tuyển chọn.
Kiểm tra lại về tiểu sử làm việc và trình độứng viên.
Kiểm tra sức khoẻ.
Phỏng vấn bởi người quản lý trực tiếp.
Thăm quan cụ thể công việc (thử việc).
Ra quyết định thuê mướn và chấm dứt quá trình tuyển dụng.
Kết quả của quá trình tuyển chọn là kí kết hợp đồng lao động.
2.2 Phân công và hiệp tác lao động lao động.
- Khái niệm: Phân công lao động trong xí nghiệp là sự chia nhỏ toàn bộ
các công việc của xí nghiệp để giao cho từng người hoặc nhóm người lao động
thực hiện. Đó chính là quá trình gắn từng người lao động với những nhiệm vụ
phù hợp với khả năng của họ.
- Phân công lao động gắn liền với lịch sử xuất hiện và phát triển của xã
hội loài người, là quy luật chung của mọi hình thái kinh tế xã hội. Nội dung của
quy luật này là sự tất yếu phải tách biệt, cô lập các chức năng lao động riêng
biệt và tạo nên những quá trình lao động độc lập và gắn bó chúng với từng
người lao động, phân công lao động chính là sự chuyên môn hoá lao động. Phân
công lao động được thực hiện dựa trên tỷ lệ khách quan của sản xuất, xuất phát
từ trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của phương pháp công nghệ và
biểu hiện như là quy luật của những tỷ lệ và tương quan chặt chẽ.
* Các hình thức phân công lao động trong xí nghiệp:
- Phân công lao động theo chức năng: Là hình thức phân công lao động
trong đó tách riêng các công việc khác nhau thành những chức năng lao động
nhất định, căn cứ vào vị trí và chức năng chính của xí nghiệp. Tuỳ thuộc vào
tính chất của các chức năng được hoàn thành mà toàn bộ công nhân viên chức
của xí nghiệp được chia ra thành nhiều nhóm chức năng.
- Phân công lao động theo Trình độ : Là hình thức phân công lao động

Ứng với những mức độ phức tạp khác nhau của công việc đòi hỏi những
công nhân có trình độ lành nghề khác nhau. Trình độ lành nghề của công nhân
thể hiện ở các mặt sau:
Sự hiểu biết của công nhân về quá trình công nghệ, về thiết bị.
Kỹ năng lao động và kinh nghiệm sản xuất.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status