THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI
NGÂN HÀNG ĐT PT VIỆT NAM
1 - KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG ĐT&PT VIỆT NAM
1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam được thành lập ngày 26/4/1957, lúc đầu được
gọi là Ngân hàng kiến thiết Việt Nam trực thuộc Bộ tài chính. Đến nay đã trải qua
hơn 42 năm xây dựng và phát triển, với nhiều lần thay họ đổi tên, liên tục có sự
thay đổi về chức năng và nhiệm vụ sao cho phù hợp với tình hình, điều kiện và
chính sách của Nhà nước, nhưng về bản chất vẫn là một Ngân hàng quốc doanh, có
vai trò là Ngân hàng phục vụ cho sự nghiệp xây dựng đầu tư và phát triển, được
Chính phủ xếp loại doanh nghiệp nhà nước hạng đặc biệt, giữ vị thế là một trong
những Ngân hàng lớn nhất tại Việt Nam.
Trước năm 1975, giai đoạn đất nước có chiến tranh, Ngân hàng đã thực hiện
chính sách cấp phát, quản lý vốn, kiến thiết cơ bản tất cả các lĩnh vực thuộc Nhà
nước từ nguồn vốn của Ngân sách, cung cấp vốn hàng tỷ đồng cho đất nước xây
dựng nền kinh tế phục vụ công cuộc đấu tranh bảo vệ tổ quốc.
Giai đoạn 1976-1985, thời kì khôi phục và phát triển nền kinh tế sau khi
thống nhất đất nước. Ngân hàng được đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Xây
dựng VN trực thuộc Ngân hàng NN Việt Nam. Với nhiệm vụ mới, Ngân hàng
cũng thay đổi chính sách của mình cho phù hợp; cấp phát cho vay và quản lý vốn
đầu tư xây dựng cơ bản tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế.
Đến năm 1986, Đại hội VI Đảng và Nhà nước đã thực hiện đổi mới chuyển
kinh tế nước ta từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Theo đó hoạt động của hệ thống
Ngân hàng cũng có sự thay đổi lớn, chuyển từ mô hìnhNgân hàng một cấp sang mô
hình Ngân hàng hai cấp.
Năm 1990, pháp lệnh Ngân hàng ra đời, Ngân hàng được đổi tên thành Ngân
hàng ĐT&PT Việt Nam với tư cách là một Ngân hàng độc lập thuộc hệ thống các
tổ chức tín dụng. Đứng trước sự đổi mới này, Ngân hàng ĐT&PT VN cũng thay
đổi về môi trường, quan điểm nhận thức nâng cao trình độ để phù hợp với nền kinh
tế thị trường. Nhiệm vụ và chính sách của Ngân hàng cũng thay đổi, đó là Ngân
- Được hùn vốn mua cổ phần với các tổ chức kinh tế.
- Cùng với các Ngân hàng trong nước, Ngân hàng nước ngoài, các tổ chức
khác đồng tài trợ đầu tư cho các dự án.
- Làm Ngân hàng đại lý, Ngân hàng phục cho đầu tư và phát triển từ các
nguồn của Chính phủ, các tổ chức kinh tế tài chính tiền tệ, các tổ chức kinh tế xã
hội, đoàn thể, cá nhân trong và ngoài nước.
Như vậy ngoài chức năng chính, huy động vốn trung và dài hạn trong và
ngoài nước để cho vay các dự án kinh tế kỹ thuật... Ngân hàng ĐT&PT VN còn
thực hiện kinh doanh như một Ngân hàng TM đối với các thành phần kinh tế, tầng
lớp dân cư.
Đây là một bước ngoặt quan trọng trong hoạt động của Ngân hàng ĐT&PT,
tạo điều kiện mở rộng thị trường thích ứng hơn nữa với cơ chế thị trường, phù hợp
vơi xu hướng kinh doanh đa năng tổng hợp của Ngân hàng TM trong nền kinh tế
thị trường.
1.2. Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng ĐT&PT VN
Hội đồngquản trị
BanTổng giám đốc iám đốc
Bankiểm soát
Các phòng ban tại NHĐT&PT Việt Nam Văn phòng đại diệnCác đơn vị sự nghiệp
Các sở giao dịch và các chi nhánh NHĐT&PT tỉnh thành phố
Các phòng banCác chi nhánh trực thuộcCác phòng giao dịch
Các công ty chuyên doanh
NHĐT&PT VN hoạt động trên phạm vi cả nước như một định chế tài chính
phục vụ cho lĩnh vực đầu tư và phát triển, có trụ sở chính tại 194 Trần Quang Khải,
quận hoàn kiếm,Hà Nội và hơn 64 chi nhánh tại các tỉnh, thành phố trong cả nước.
Năm 2000 là năm đầu tiên Ngân hàng ĐT&PT VN triển khai hoạt đọng theo
mô hình Tổng công ty,cơ cấu tổ chức gồm có: Hội đồng quản trị, Ban tổng giám đốc
điều hành. Bộ máy giúp việc gồm các đơn vị hạch toán phụ thuộc, hạch toán độc lập,
các đơn vị sự nghiệp. Hội đồng quản trị thực hiện chức năng quản lý doanh nghiệp,
Tổng giám đốc lãnh đạo điều hành các cấp, các chi nhánh.
* Ban kiểm soát trực thuộc HĐQT để kiểm giám sát hoạt động điều hành
của Tổng giám đốc, bộ máy giúp việc và vác đơn vị thành viên của NHĐT&PT
theo đúng quy định của Nhà nước, Điều lệ và các quyết định của HĐQT.
Ngoài ra còn có một hệ thống kiểm tra nội bộ từ Trụ sở chính đến các đơn vị
thành viên thuộc quyền điều hành của Tổng giám đốc.
Việc xác định thêm bộ máy kiển soát nội bộ thuộc quyền điều hành của Tổng giám
đốc nằm ngoài ban kiểm sopát là một trong những diểm đặc trưng nhằm đảm bảo
hoạt động của các đơn vị thành viên an toàn, hiệu quả theo đúng quy định của pháp
luật và Điều lệ.
* NHĐT&PT VN có các đơn vị thành viên hạch toán độc lập, hạch toán phụ
thuộc và các đơn vị sự nghiệp:
- Đơn vị thành viên hạch toán độc lập: Là các DNNN có tư cách pháp nhân,
do NHĐT&PT VN sáng lập, có Điều lệ tổ chức và họt động riêng. Hoạt động của
các đơn vị thành viên này độc lập như các DNNN khác. Tuy nhiên trong quan hệ
về nhân sự và tài chính phải chịu sự chi phối của NHĐT&PT VN.
Việc hình thành các công ty hạch toán độc lập trong NH, hoạt động trong
lĩnh vự tài chính, tín dụng nhằm đa dạng và chuyên môn hoá hoạt động nâng cao
doanh lợi của NH, đồng thời với tính chất trach nhiệm hưu hạn, chúng đảm bảo
những rủi ro mắc phải trong các hợp đồng đó, không làm ảnh hưởng lớn đến nguồn
tài chính của NH.
- Đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc: NHĐT&PT VN có 2 loại đơn vị
thành viên kiểu này đó là Sở giao dịch và các chi nhánh được đặt tại những nơi cần
thiết cho hoath động kinh doanh của NH. Mặc dùđược xác định là thành viên của
NHĐT&PT, nhưng thực chất Chi nhánh là cánh tay nối dài của Trụ sở chính, là
một thực thể thống nhất nằm trong NHĐT&PT VN.
- Đơn vị sự nghiệp: đây là loại hình đơn vị thành viên chủ yếu nhằm mục
đích NCKH, đào tạo, đào tạo lại các cán bộ để phục vụ kịp thời các yêu cầu hoạt
động kinh doanh của NH.
* Văn phòng các phòng ban hoặc ban chuyên môn nghiệp vụ của Hội sở
chính có chức năng tham mưu giúp việc cho HĐQT và Tổng giám đốc trong quản
trung tâm điều hành kinh doanh toàn hệ thống với mục đích yêu cầu:
- Thị trường và bạn hàng của Ngân hàng là các tổng công ty, doanh nghiệp
có địa bàn hoạt động lớn và khả năng an toàn cao.
- Mở rộng dịch vụ Ngân hàng, nhất là đối với các khách hàng lớn vì khối
lượng tín dụng tập trung ở đây nhiều, có thể áp dụng nhiều dịch vụ và công nghệ
Ngân hàng.
- Hiện nay, Ngân hàng ĐT&PT VN bên cạnh việc cho vay theo kế hoặch của
Nhà nước, hàng năm Ngân hàng có nguồn vốn tài trợ lớn dịch vụ thanh toán quốc
tế qua Ngân hàng đã hình thành và phát triển, tạo điều kiện cho Ngân hàng cung
ứng vốn cho các Tổng công ty, những đơn vị kinh tế, cạnh tranh với các Ngân
hàng khác trong chiến lược Marketing của Ngân hàng.
2 - THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI NGÂN
HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
2.1. Tình hình hoạt động của Ngân hàng ĐT&PT VN trong thời gian qua
2.1.1 Tình hình huy động vốn của Ngân hàng ĐT&PT VN.
Chính sách nguồn vốn được coi là một trong các chính sách quan trọng, quyết
định sự thành công của Ngân hàng. Ngân hàng ĐT&PT VN đã xác định tạo vốn là
khâu mở đầu, tạo một mặt bằng vốn vững chắc cả về VNĐ và ngoại tệ; coi nguồn
vốn trong nước là quyết định, vốn nước ngoài là quan trọng.
Với phương châm đó Ngân hàng ĐT&PT VN đã thực hiện đa dạng hoá nguồn
vốn bằng nhiều hình thức, biện pháp và các kênh huy động vốn khác nhau từ mọi
nguồn trong và ngoài nước. NH chú trọng tăng tỷ trọng vốn trung và dài hạn bằng
việc phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, tăng tiền gửi và tiền tiết kiệm của dân cư; khai
thác triệt để nhiều nguồn tài trợ trung và dài hạn của các tổ chức tài chính tiền tệ
quốc tế phục vụ cho đầu tư và phát triển.
Bằng những biện pháp và chính sách trên, trong vài năm gần đây nguồn vốn
huy động của Ngân hàng đã tăng trưởng đáng kể và cơ cấu nguồn cũng thay đổi
theo hướng tích cực. Cụ thể:
Bảng1: Nguồn vốn trong giai đoạn 1999 - 2001
(Đơn vị tỷ đồng)
20549 tỷ đồng, tăng 40% so với năm 1999, tiền gửi khách hàng đạt 6181 tỷ đồng,
trong đó chủ yếu là tiền gửi tổ chức kinh tế: 4007 tỷ đồng..
Trong năm 2001 cơ cấu giữa vốn VNĐ và vốn ngoại tệ tương đối hợp lý,
nguồn vốn huy động đã đáp ứng tích cực nhu cầu sử dụng vốn đảm bảo đủ vốn giải
ngân kịp thời các hợp đồng tín dụng đã ký, đảm bảo khả năng thanh khoản. Tổng
nguồn vốn là 27000 tỷ đồng, tiền gửi huy động tổ chức kinh tế và dân cư đạt
11261 tỷ đồng,trong đó tiền gửi của dân cư đã tăng lên một cách đáng kể so với
năm 2000, đạt 5561 tỷ đồng. Chứng tỏ người dân đã ngày càng tín nhiệm NH, cảm
thấy an toàn khi gửi tiền vào NH. Vốn và các quỹ trong năm đạt 5820 tỷ đồng,
chiếm 21.5% tổng nguồn vốn.
Huy động trái phiếu năm 1998 là 341 tỷ đồng, năm 1999 là 980 tỷ đồng,
năm 2000 là 1637 tỷ đồng.
Ngân hàng ĐT&PT VN đã nỗ lực huy động vốn trong và ngoài nước để đáp
ứng cao nhất cho kế hoạch tín dụng đầu tư và phát triển theo địng hướng của Chính
phủ đã thông qua với trách nhiệm cao phục vụ kế hoạch đầu tư và phát triển của
đất nước. Đặc biệt năm 2001 NH ĐT&PT đã phát hành trái phiếu huy động 1200
tỷ đồng, trong đó 80% bằng VND, còn lại là USD; vượt kế hoạch Nhà nước giao
đáp ứng vốn cho các công trình theo kế hoạch Nhà nước chỉ định.
46,1% Tiền gửi, kỳ phiếu trái phiếu
Biểu đồ 3: Cơ cấu nguồn vốn đến ngày 31/12/2001
Đồng thời nhiều chi nhánh đã áp dụng biện pháp , hình thức huy động thích
hợp điều chỉnh lãi suất huy động phù hợp để thu hút nguồn tiền gửi của tổ chức
kinh tế và dân cư.
Để nâng cao nghiệp vụ và chất lượng dịch vụ, Ngan hàng ĐT&PT VN rất
quan tâm đến sự giúp đỡ về vốn và kỹ thuật của các tổ chức tài chính quốc tế như:
Ngân hàng thế giới(WB), NH phát triển Châu á(ADB), Quỹ hợp tác phát triển kinh
tế(OECF),...
Trong những năm qua, NHĐT&PT đã tìm mọi cách để tạo lập và tăng
trưởng nguồn vốn kinh doanh từ ngoại tệ để tài trợ xuáat nhập khẩu, mỏ rộng các
hình htức huy động vốn ngoại tệ, mỏ rộng thanh toán quốc tế, tham gia mạng thanh
(Đơn vị: tỷ đồng)
Chỉ tiêu 1999 2000 2001
1. Các khoản dự trữ kinh doanh 2.231 3.594 4.289
2. Cho vay các loại 10.315 13.357 18.267
2.1. Cho vay trung dài hạn 6.216 7.909 11.072
2.2. Cho vay ngắn hạn 4.099 5.447 7195
3. Cho vay uỷ thác tài trợ P T 2.258 2.581 3.097
4. Các khoản đầu tư 151 267 372
5. Tài sản có khác 470 747 975
Tổng 15.427 20.549 27.000
(Nguồn: Báo cáo thường niên của NH ĐT&PT VN giai đoạn 1999-2001)
Ta thấy dư nợ tín dụng không ngừng tăng trưởng qua các năm. Năm 1999
tổng dư nợ( gồm cho vay các loại và cho vay uỷ thác tài trợ phát triển) là 12573 tỷ
đồng, sang năm 2000 tổng dư nợ tăng lên 15939 tăng 26.7%; năm 2001 là 21364
tăng 34% so với năm 2000.
Biểu đồ 4: Tổng dư nợ qua các năm
(Đơn vị: Tỷ đồng)
Trong đó:
Đối với tín dụng ngắn hạn: NH tiếp tục đạt được những kết quả đáng khích
lệ với một chính sách khách hàng hợp lý; ưu tiên tập trung cho vay ngắn hạn đối
với các doanh nghiệp trong thi công xây lắp, trong khảo sát thiết kế, sản xuất vật
liệu xây dựng, đảm bảo vốn cho các doanh nghiệp trúng thầu các dự án lớn trong
nước và quốc tế và đối với khách hàng có số dư tiền gửi lớn tại Ngân hàng. Dư nợ
cho vay ngắn hạn qua các năm như sau: năm 1999 dư nợ tín dụng ngắn hạn là 4099
tỷ đồng, tăng 55% so với 1998, chiếm 48% tổng dư nợ cho vay các loại đặc biệt là
mở rộng cho vay ngắn hạn bằng ngoại tệ, nguyên liệu phục vụ sản xuất.
Năm 2000 cho vay ngắn hạn đạt 5447 tỷ đồng, tăng 32.8% so với năm 1999,
năm 2001 là 7195 tỷ đồng, tăng 32% so với năm 2000.
Đối với tín dụng trung và dài hạn: Ngân hàng xác định mọi hoạt động của
Ngân hàng khởi đầu từ khách hàng chứ không phải là từ sản phẩm, lấy hiệu quả