NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN
CỦA THỊ TRƯỜNG PHÂN BÓN VÔ CƠ TRÊN
THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM
LỜI NÓI ĐẦU
1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
- Nông nghiệp là một ngành sản xuất quan trọng của Việt Nam, hiện tại
nông nghiệp vẫn chiếm 70% lực lượng lao động của toàn xã hội và khoảng
27,2% GDP của cả nước. Theo nghị quyết đại hội toàn quốc lần thứ VIII
của Đảng cộng sản Việt Nam, từ năm 1997 trở đi Việt Nam sẽ chuyển sang
một giai đoạn phát triển mới giai đoạn thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại
hoá. Mặc dù vậy sản xuất nông nghiệp vẫn có một vị trí hết sức quan trọng
trong nhiều năm nữa.
- Trong sản xuất nông nghiệp, có nhiều yếu tố tác động đến năng suất và
sản lượng các loài cây trồng như: đất đai, thời tiết, khí hậu, các thiết bị kỹ
thuật, giống, phân bón ...v.v. Song phân bón bao giờ cũng là yếu tố có tính
quyết định thường xuyên. Bởi vậy, ở Việt Nam phân bón được xếp vào loại
mặt hàng chiến lược hết sức quan trọng.
- Là một nước nông nghiệp, nên nhu cầu về phân bón của Việt Nam rất
lớn (bình quân mỗi năm trên 2 triệu tấn). Tuy nhiên công nghiệp phân bón
của Việt Nam đang còn quá nhỏ bé và lạc hậu, hiện tại mới sản xuất và
cung ứng được khoảng 8- 10% nhu cầu về phân ure của cả nước, số còn lại
phải dựa vào nhập khẩu từ bên ngoài.
- Nông nghiệp luôn cần phân, song do nhiều lý do khách quan và chủ
quan tác động (tài chính, tổ chức quản lý, cơ chế chính sách...) nên việc nhập
khẩu phân bón của Việt Nam vừa qua diễn ra không được thuận lợi. Điều
này đã làm cho Cung-Cầu, giá cả phân bón ở Việt Nam diễn ra không ổn
1
định: lúc sốt nóng, lúc sốt lạnh gây không ít khó khăn cho nông dân và cho
sản xuất nông nghiệp.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu các yếu tố cơ bản của thị trường phân bón
vô cơ như: cung, cầu, giá cả phân bón vô cơ trên thị trường và các chính sách
Trong nhiều năm trước đây, nông nghiệp đã tạo ra trên 40% thu nhập
quốc dân sản xuất và hiện nay ngành này đang tạo ra gần 30% GDP và
hơn 45% giá trị xuất khẩu của cả nước.
Tích luỹ từ nông nghiệp tuy không lớn về ngoại tệ, nhưng lại diễn ra
trên phạm vi rộng (trên 10 triệu hộ nông nghiệp). Tích luỹ từ ngành này
được thực hiện trực tiếp thông qua thuế nông nghiệp trước đây(nay là thuế
sử dụng đất nông nghiệp). Đối với các Tỉnh, Huyện nông nghiệp thì đây là
nguồn thu chủ yếu.
3
BIỂU 1: TỶ LỆ THUẾ NÔNG NGHIỆP TRONG TỔNG THU NGÂN
SÁCH VÀ GDP NÔNG NGHIỆP (1993-1998)
Năm Tỷ lệ thuế nông nghiệp
so với
Tổng thu ngân sách Tổng GDP nông nghiệp
1993 4,7% 1,9%
1994 6,7% 2,3%
1995 6,1% 3,6%
1996 4,2% 3,3%
1997 2,7% 2,4%
1998 2,7% 2,5%
Mức và tỷ lệ đóng góp của thuế nông nghiệp vào ngân sách nhà nước
và vào GDP tuy không lớn nhưng là nguồn thu ổn định, có ý nghĩa rất
quan trọng đến sự phát triển kinh tế địa phương trong bước đi ban đầu của
thời kỳ công nghiệp hoá.
+ Sản xuất nông nghiệp là nguồn cung cấp ngoại tệ nhờ xuất khẩu: Để
hiện đại hoá và công nghiệp hoá đất nước thì nước ta phải tạo điều kiện
dựa vào thế mạnh của mình- đó là sự thuận lợi cho phát triển nông nghiệp
và sản xuất hàng tiêu dùng. Nhờ vậy sản phẩm nông nghiệp đóng vai trò
quan trọng trong việc xuất khẩu, tạo điều kiện cho việc mở rộng và phân
công hợp tác quốc tế. Hơn nữa, với khoa học kỹ thuật còn kém, công
liệu vẫn phải xuất thô, giá trị thấp như cà phê nhân, cao su tấm, cao su
xốp, chè sơ chế, thuỷ sản đông lạnh, gỗ ván sàn.... cùng với quá trình công
nghiệp hoá, tình trạng đó sẽ được khắc phục dần bằng việc xuất khẩu các
sản phẩm tinh chế qua công nghiệp kỹ thuật cao. Khi đó vai trò của nông
nghiệp trong việc cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp càng tăng lên.
+Nông nghiệp còn là nguồn cung cấp nhân lực cho công nghiệp và dịch
vụ. Học thuyết về kinh tế và thực tiễn các nước đã qua công nghiệp hoá
chỉ ra rằng, quá trình phát triển kinh tế theo hướng hiện đại đều gắn kết
với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động từ nông thôn ra thành thị,
5
từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp. Công nghiệp hoá gắn liền với thành
thị hoá và thu hút nguồn lao động từ nông nghiệp chuyển sang các ngành
phi nông nghiệp. Quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá không đòi hỏi
tăng nhanh số lượng lao động vào các hoạt động thuần tuý Công nghiệp
nhưng đòi hỏi nhiều hoạt động dịch vụ hỗ trợ như vận chuyển, bao bì,
đóng gói, phân loại sản phẩm, nhận hàng, tiếp thị, thông tin thị trường, y
tế, văn hoá, giáo dục,....khi các hoạt động này tăng lên tất yếu đòi hỏi
nguồn lao động bổ sung rất lớn từ nông nghiệp.
Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể thấy rằng nông nghiệp giữ một vị
trí cực kỳ quan trọng trong sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
Chính vì vậy, Đảng ta đã khẳng định: Phát triển nông nghiệp và kinh tế
nông thôn đã, đang và sẽ còn là mối quan tâm hàng đầu có vai trò quyết
định đối với việc ổn định tình hình kinh tế, xã hội, tạo cơ sở cho phát triển
công nghiệp.
1.2.Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp và nhu cầu phân bón vô
cơ.
Trước năm 1950, trong sản xuất nông nghiệp người nông dân Việt Nam
dường như chỉ dùng các loại phân hữu cơ (phân chuồng, phân xanh, phân
bùn, phân bắc....) để bón cho các loại cây trồng. Phân hữu cơ có những ưu
điểm là: làm cho đất tơi xốp, từng bước được cải tạo, nâng cao dần độ màu
đất đai, thời tiết, nguồn nước....Trong đó đất đai giữ vai trò quyết định, đây là
tư liệu sản xuất cơ bản của sản xuất nông nghiệp. Gắn liền vơí vai trò chủ đạo
của đất đai là ảnh hưởng của thời tiết- yếu tố quan trọng quyết định sản lượng
của nông nghiệp cao hay thấp. Trong nông nghiệp sự khác nhau về chất lượng
đất trồng, khí hậu và nguồn nước sẵn dẫn đến việc sản xuất lương thực khác
nhau và các biện pháp để nâng cao năng suất của mùa vụ cũng khác nhau.
Tuy khối lượng chất dinh dưỡng trong đất rất lớn nhưng trên thực tế cây trồng
không thể huy động hết được. Mặt khác, tỷ lệ chất dinh dưỡng trong đất
7
không giống nhau. Có loại đất chứa nhiều đạm nhưng ít lân, Ka li và ngược
lại. Ngoài ra, chất dinh dưỡng còn bị các loại cây trên mặt đất sử dụng hoặc
đất bị rửa trôi. Do đó mà việc sử dụng phân bón cho đất, cho cây là rất cần
thiết.
1.3.Phân bón vô cơ và nhu cầu phân bón vô cơ trong nông
nghiệp
Phân bón đã từng là một trong những nhân tố quan trọng (cùng với giống
và thuỷ lợi) của cách mạng xanh, giúp cho nhiều nước đông dân tự túc được
lương thực thoát khỏi đói nghèo.
Trước đây sản lượng ngũ cốc chủ yếu đưa vào 2 yếu tố: Diện tích và năng
suất. Trong thời gian gần đây khi diện tích đất canh tác ngày càng tới gần giới
hạn tối đa thì vai trò năng suất ngày càng quan trọng.Theo tính toán của
IFPRI năm 1996, hiện nay tăng năng suất đóng góp trên 80% tăng sản lượng
ngũ cốc và trong tương lai, việc tăng sản lượng sẽ cũng dựa vào tăng năng
suất. Để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, thâm canh gần như là giải
pháp duy nhất đối với Việt Nam. Mà trong thâm canh, vai trò của phân bón
lại càng quan trọng, phân bón có thể góp phần tăng năng suất cây trồng qua
nhiều cơ chế tác động khác nhau. Song quan trọng hơn cả là phân bón cung
cấp cho cây trồng những dinh dưỡng cần thiết mà đất không đủ khả năng
cung cấp, góp phần duy trì độ phì nhiêu của đất trong canh tác. Thêm nữa,
cùng với năng suất kinh tế, phân bón góp phần tăng lượng sinh khối và nhờ
vùng trũng 300 16 3.185 150
-Bón phân cân đối cho
vùng mặn 350 10 2.281 277
-Sử dụng các chế
phẩm vi sinh 538 27 5.686 215
-Bón phân phun lá 490 23 5.200 190
-Bón phân cân đối cho Ngô 300 17 3.110 -
9
-Bón phân cân đối cho
đậu tương 250 26 3.036 -
-Bón phân cân đối cho lạc 50 2 698 58
Cộng 3.726 172 38.120 2.225
Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong sử dụng phân bón vô cơ, song hệ số sử
dụng phân đạm ở Việt Nam cũng chỉ mới đạt 30-40%, phân lân và kali
khoảng 50-60%. Một lượng lớn phân vô cơ bị mất đi do rửa trôi, xói mòn, bay
hơi, cố định chặt.... Chỉ tính riêng với phân đạm, hàng năm chúng ta mất đi
xấp xỉ 1-1,2 triệu tấn (quy ure) với giá trị hàng triệu USD/ năm, còn chưa kể
đến những tác động môi trường do sự mất mát này đem lại. Bón phân cân đối
hiện nay được coi là giải pháp quan trọng nhất để năng cao hiệu lực phân bón.
Theo tổng kết của FAO, bón phân không cân đối có thể giảm hiệu lực phân
bón từ 20-50%. Ở các nước đang phát triển như Việt Nam hiên nay, việc sử
dụng không cân đối dinh dưỡng với liều lượng phân đạm tương đối cao đã
làm giảm hiệu lực phân bón (khái niệm cân đối bao gồm: cân đối về nhu cầu
và lượng hút của cây trồng, cân đối giữa các chất dinh dưỡng tại các thơì kỳ
sinh trưởng khác nhau, cân đối với các điều kiện tự nhiên liên quan đến hiệu
lực phân bón, cũng như cân đối với từng loại cây trồng trong một hệ thống
luân canh). Tóm lại, phân bón nói chung và phân bón vô cơ nói riêng rất cần
cho cây trồng. Song để sử dụng mang lại kết quả như mong muốn thì phải
quan tâm và nghiên cứu đến tính chất, tác dụng từng loại phân cũng như đặc
điểm đất đai, sử dụng hợp lý và đúng thời vụ.
Tập đoàn cây trồng của Việt Nam hết sức phong phú đa dạng: có cây
lương thực, cây công nghiệp, cây rau đậu, cây ăn quả, cây dược liệu, cây thức
ăn cho gia súc. Song trong từng loại cây có hàng chục, hàng trăm loại cây cụ
thể. Ví dụ, riêng cây lương thực ở Việt Nam đã có các loại: lúa , ngô, khoai,
sắn, đỗ ..(trừ đỗ tương), đồng thời cũng có thể tính cả cây khoai tây nữa.
11
Trong tập đoàn cây trồng đó, không phải cây nào người nông dân Việt
Nam cũng dùng phân bón vô cơ để bón trong quá trình sản xuất. Thực tiễn sự
phát triển của nền nông nghiệp Việt Nam mấy chục năm vừa qua đã cho thấy,
phân bón vô cơ hầu như 80% là dùng bón cho cây lúa, các loại cây trồng
khác, chỉ bón có 20% mà thôi (các cây này chủ yếu là caphê, chè, mía, rau,
hoa). Các loại cây còn lại người ta thường dùng phân xanh, phân chuồng,
phân rác.Tất nhiên, như thế không có nghĩa là các loại cây trồng khác không
cần dùng phân vô cơ, rất cần song vì khả năng có hạn, nên trước hết người ta
phải ưu tiên cho các loại cây trồng giữ vai trò chủ yếu (bảo đảm an ninh
lương thực Quốc gia, tạo ra hàng hoá lớn phục vụ cho xuất khẩu ...).
Bởi vậy, khi khả năng đầu tư của người nông dân ngày một tăng thì các
loại cấy trồng được bón phân vô cơ cũng sẽ được mở rộng thêm và như vậy
nhu cầu phân vô cơ sẽ tăng.
2.3. Phụ thuộc vào thu nhập của người nông dân
Về mặt lý thuyết thì dường như người nông dân nào của Việt Nam cũng
hiểu được rằng, muốn nâng cao năng suất cây trồng phải có sự đầu tư thoả
đáng, đặc biệt là đầu tư phân bón. Song với một đất nước 80% dân số sống ở
nông thôn, trên 70% lực lượng lao động của toàn xã hội làm việc trong nông
nghiệp nhưng đất nông nghiệp lại quá ít (tính bình quân đầu người vào loại ít
nhất thế giới). Đã thế lại chịu sự tàn phá nặng nề của 2 cuộc chiến tranh trong
suốt 30 năm, do đó người dân, nhất là nông dân nghèo cho đến nay GDP bình
quân ở nông thôn mới đạt khoảng 200 USD/năm /người, thì nông dân khó có
thể đem nhiều tiền để mua phân bón, bởi lẽ họ còn nhiều nhu cầu khác cần
thiết hơn. Theo đánh giá của một số chuyên gia, người dân nước ta chưa đủ
Nguồn: Tổng cục thống kê
Biểu trên cho ta thấy, trừ đồng bằng Sông Cửu Long có diện tích trên 4
triệu ha, lớn nhất cả nước. Còn các vùng khác có diện tích gần bằng nhau.
(riêng Tây Nguyên là ít nhất song vùng này cũng có khả năng mở rộng ra
trong tương lai). Tuy nhiên, không phải nông dân ở 7 vùng đều có nhu cầu sử
dụng phân bón vô cơ như nhau. Đồng bào thuộc các dân tộc ít người ở miền
núi phía bắc, khu 4 cũ, Duyên hải miền trung và ở Tây Nguyên với phương
thức canh tác rất lạc hậu , đốt nương làm rẫy (chọc lỗ, gieo hạt, sau đó là trăm
13
sự nhờ trời ) nên ít sử dụng phân bón. Một bộ phận đồng bào các dân tộc sống
định canh ở các cánh đồng lúa nước ven các thung lũng, hoặc những vùng cây
nguyên liệu tập trung như Chè, Cà phê, Cao su.v.v... đã biết sử dụng phân vô
cơ, nhưng do thu nhập của họ còn quá thấp nên số lượng sử dụng cũng không
nhiều.
Nông dân các vùng đồng bằng đều có sử dụng phân vô cơ vào sản xuất
nông nghiệp. Tuy nhiên mức độ cũng có khác nhau, ở đồng bằng Sông Cửu
Long do sản xuất lúa gạo hàng hoá là chính và người dân ở đây cũng quen với
việc dùng phân vô cơ hơn nên số lượng họ dùng để bón cho 1 ha cây trồng
thường cao hơn ở đồng bằng Sông Hồng, Đồng bằng khu 4 cũ và đồng bằng
Duyên hải miền trung. Chẳng hạn, tổng số phân bón NPK bón cho 1ha lúa ở
đồng bằng sông Hồng những năm qua bình quân từ 150-200 kg/vụ, thì ở đồng
bằng Sông Cửu Long con số đó là 200-250kg. Thêm vào đó là việc không
hiểu biết của người nông dân, nhiều khi do một ý thích nẩy sinh không có cơ
sở khoa học có thể thích loại phân này hơn loại khác. Có thời kỳ nông dân
thích sử dụng loại phân đạm hạt nhỏ làm cho loại hạt to bị ứ đọng, mặc dù nó
có tác dụng đến cây trồng là như nhau.
Như vậy, để nâng cao hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh
phân bón vô cơ thì phải nắm bắt đựơc các tính chất này, để từ đó đảm bảo
được cân bằng cung cầu trên thị trường. Có như vậy mới bảo đảm được chi
phí lưu kho, tăng được vòng quay vốn, nâng cao được kết quả hoạt động kinh
Si: sản lượng của các loại cây trồng từ 1 đến n.
Mi: là mức tiêu hao vật tư cho các cây trồng từ năm 1-n
*Phân đạm tiêu chuẩn: là loại phân có chứa lượng đạm (N) là 20-21%
Tính trung bình 20,5%
15
*Phân lân quy Suppe phốt phát Lâm Thao: chứa lượng lân P
2
O
5
-Lân
chuẩn 10% P
2
O
5
+Mức độ chính xác của phương pháp.
-Lượng vật tư thực tế sử dụng: là số vật tư đã tiêu hao trong quá trình sản
xuất. Trong phạm vi cả nước việc thống kê số liệu này là rất khó, vì vậy có
thể lấy số lượng vật tư đã được nhập khẩu và số vật tư đã được bán ra của các
cơ sở sản xuất trong nước là số vật tư thực tế sử dụng.
-Lượng vật tư tính theo lý thuyết: Sử dụng công thức trên.
+Ưu điểm của phương pháp:
-Trên cùng một đơn vị diện tích nhưng năng suất càng cao, yêu cầu phân
bón càng lớn.
3.2. Phương pháp dự tính nhu cầu phân bón căn cứ vào tiêu hao cho
một đơn vị diện tích gieo trồng.
+ Cơ sở phương pháp, dựa vào:
-Diện tích gieo trồng .
-Tiêu hao vật tư cho 1ha gieo trồng .
Định mức này do viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp thuộc Bộ nông
nghiệp- CNTP ban hành năm 1990 với mục đích làm căn cứ cho việc tính
+Sử dụng công thức QUEFTS hay máy đo diệp lục tố đã giảm bón lượng
đạm từ 15-20% mà năng suất lúa không đổi.
+Nâng cao hàm lượng chất dinh dưỡng trong phân bằng cách loại bỏ các
tạp chất hay những yếu tố không cần thiết cho cây trồng, như sản xuất ure
(40%N) thay dần cho Bicacbonatamon hay sunphatAmôn, Clorua amôn, sản
xuất DAP, TSP có hàm lượng lân cao (46% P
2
O
5
) thay dần cho supephôtphát
đơn hay Tecmophotphat. Thông qua sản xuất phân hoá hợp, phana trộn chứa
từ 2-3, nguyên tố trở lên như MAP, DAP, Phân NPK các loại.
+Sản xuất phân bón chuyên cây.
17
PHẦN 2. CUNG PHÂN BÓN CÔ CƠ TRÊN THỊ TRƯỜNG
VIỆT NAM.
Có 2 nguồn cung câp phân bón vô cơ cho sản xuất nông nghiệp trên thị
trường Việt nam đó là: Nguồn nhập khẩu và nguồn sản xuất phân bón trong
nước.
1. NGUỒN SẢN XUẤTPHÂN BÓN VÔ CƠ TRONG NƯỚC.
1.1. Năng lực sản xuất của các doanh nghiệp trong nước:
Hiện tại nền công nghiệp hoá chất, nhất là công nghiệp sản xuất phân bón
vô cơ của chúng ta chưa có khả năng sản xuất và cung ứng đủ lượng phân bón
vô cơ các loại cần thiết cho nông dân theo yêu cầu. Theo các phương pháp
tính toán, thu thập được cho thấy, nhu cầu về phân bón ure của toàn quốc là
khoảng 1,4 triệu tấn /năm đến 1,5 triệu tấn/năm; nhu cầu về phân DAP là từ
khoảng 450.000 tấn/năm đến 500.000tấn/năm; nhu cầu phân NPK là từ
khoảng 500.000- 600.000tấn/năm; nhu cầu về phân Kali (K) khoảng
300.000tấn/năm. Trong khi nhu cầu về phân bón vô cơ lớn như vậy nhưng
tình hình sản xuất trong nước hết sức hạn chế, nhà máy sản xuất phân ure Hà
19
Đơn vị: 1000tấn
Năm Sản lượng phân
vô cơ các loại
1990 354
1991 450
1992 530
1993 714
1994 841
1995 937
1996 965
1997 982
1998 974
Nguồn: Tính từ số liệu TCTK
BIỂU SỐ 5 : SẢN LƯỢNG SẢN XUẤT P HÂN VÔ CƠ TỪ N ĂM 1990 -
1998
ĐVT: (1000 tấn)
1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998
Phân hoá học
các loại
354 450 530 714 841 937 965 982 974
Doanh nghiệp
Nhà nước
354 450 530 714 841 937 965 982 974
Doanh nghiệp
khác
- - - - - - 3 2.4 1.5
DN Nhà nước
TW
354 450 530 714 841 937 962 980,6 972,5
Nộp ngân sách tỷ đồng 5,1 15,5 4,4 15 11,6 8 8
Lãi phát sinh tỷ đồng 5,7 4,7 - 5,2 21 28,7 0,7 0,7
21
Thu nhập bình
quân
(ngày/tháng)
1000đ 236 372 393 465 655 732 732
Nguồn Tổng cục thống kê
Như vậy với mức sản lượng ngày một tăng theo công suất thiết kế
thì nhà máy đã có thể đáp ứng tốt từ 5-8% nhu cầu về phân urê cho cả
nước. Tuy nhiên tình hình thực tế cho việc sản xuất phân bón ở đây tồn
tại mấy vấn đề lớn:
- Do dây chuyền công nghệ sản xuất lạc hậu nên chất lượng của sản
phẩm do nhà máy sản xuất ra chưa thuyết phục được người tiêu dùng.
- Chi phí cho các nguồn nguyên, nhiên liệu đầu vào sản xuất lớn đồng
thời hiệu suất của dây chuyền công nghệ thấp dẫn đến chi phí sản xuất lớn
(giá điện tăng) do đó tất yếu giá xuất bán sản phẩm phân đạm urê của nhà
máy khó có khả năng cạnh tranh với phân urê nhập khẩu.
Về lâu dài, nước ta còn ưu tiên phát triển công nghiệp sản xuất phân
bón, tăng tỷ trọng phân bón nội địa trong tổng nguồn cung ứng cho sản xuất
nông nghiệp. Một trong những khó khăn không nhỏ là vốn đầu tư để sản xuất
phân đạm rất lớn nhưng lợi nhuận lại không cao. Do đó không hấp dẫn các
nhà đầu tư, cho nên khả năng huy động vốn trong và ngoài nước để liên
doanh là một trở ngại lớn (một nhà máy phân đạm với công suất 550.000 tấn
urê/năm cần số vốn đầu tư là 500 triệu USD). Vì vậy, Nhà nước cần ưu tiên
tập trung vốn để đổi mới dây chuyền công nghệ, tăng sản lượng, hoặc đầu tư
thông qua liên doanh, triển khai dự án phân bón trọng điểm. Theo dự đoán
của Bộ nông nghiệp và PTNT, nhu cầu phân urê từ nay đến năm 2000 sẽ tăng
khoảng 10% năm. Năm 2000 sẽ là 2,5 triệu tấn và năm 2005 sẽ là 3 triệu tấn.
Do đó kế hoạch phát triển sản xuất phân urê những năm sắp tới là từng bước
23
1994 713.370 530.000
1995 799.176 570.000
1996 825.688 567.000
1997 987.412 565.000
1998 1.087.564 576.000
1999 980.000 650.300
Năm 1989 khi chuyển sang cơ chế thị trường, phân lân tiêu thụ có khó
khăn hơn, vì dân quen dùng giá thấp do Nhà nước bù lỗ ở thời kỳ kế hoạch
hoá tập trung bao cấp.
Trước tình hình đó, các DN đã tập trung đầu tư chiều sâu, đổi mới kỹ
thuật và công nghệ sản xuất, đổi mới mẫu mã bao bì, đóng gói - Phân lân từ
chỗ bán phân rời đã chuyển sang đóng bao bì như phân đạm. Chất lượng phân
cũng được nâng cao, công tác tuyên truyền khuyến mại cũng được thực hiện
tốt hơn. Do vậy từ năm 1995 đến nay, số lượng phân lân sản xuất cũng như
tiêu thụ đã tăng lên khá nhanh, giá bán tương đối ổn định, sản xuất phân lân
đã từ hoà vốn tới có lãi và lãi năm sau cao hơn năm trước. Ta có thể thấy điều
này qua số liệu so sánh giá bán và chi phí sản xuất phân lân một số năm:
Năm Giá vốn Giá bán tại DN sản xuất
1989 109.100 đ/tấn 110.000 đ/tấn
1990 126.300 130.000
1991 424.300 430.000
1992 539.600 540.000
1995 737.700 770.000
1996 838.400 840.000
1997 895.200 900.000
1998 895.300 901.000
1999 923.000 940.000
24
Riêng phân lân, mục tiêu 5-10 năm tới, nước ta hoàn toàn đáp ứng đủ