ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------
NGUYỄN QUANG VINH
XÂY DỰNG BẢN ĐỒ PHÂN VÙNG
CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG LAM, NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – Năm 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------
NGUYỄN QUANG VINH
XÂY DỰNG BẢN ĐỒ PHÂN VÙNG
CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG LAM, NGHỆ AN
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 60. 44. 03. 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS VÕ CHÍ MỸ
TS. ĐỖ HỮU TUẤN
2.4. Phương pháp thực nghiệm xây dựng bản đồ phân vùng chất lượng nước sông Lam . 40
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.............................................................................. 49
3.1. Cơ sở dữ liệu và hiện trạng môi trường khu vực sông Lam...................................... 49
3.2. Kết quả xây dựng bản đồ chất lượng nước sông Lam:............................................... 67
KẾT LUẬN................................................................................................................................... 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................................... 75
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1. Sông Lam, Nghệ An..................................................................................................... 5
Hình 2. Mô hình tháp dữ liệu.................................................................................................. 21
Hình 3. Mô hình tổ chức dữ liệu CSDL GIS môi trường................................................. 28
Hình 4. Quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu........................................................................... 29
Hình 5. Quy trình thành lập bản đồ môi trường................................................................. 31
Hình 6. Sơ đồ quy trình công nghệ thành lập bản đồ môi trường.................................. 32
Hình 7. Mô hình thực nghiệm xây dựng bản đồ phân vùng nước sông Lam..............40
Hình 8. Tạo PersonalGeodatabase......................................................................................... 41
Hình 9 : Mô tả tổ chức dữ liệu nền địa hình Sông Lam – Nghệ An.............................. 42
Hình 10. Chọn lớp cần chạy sửa lỗi...................................................................................... 43
Hình 11.Sửa lỗi Topology được thực hiện trong Arcmap................................................ 44
Hình 12. Bảng thuộc tính của lớp khu chức năng.............................................................. 45
Hình 13. Bảng thuộc tính của lớp Điểm Dân Cư............................................................... 45
Hình 14. Bảng thuộc tính của lớp sông suối....................................................................... 46
Hình 15. Bảng dữ liệu môi trường nước mặt...................................................................... 46
Hình 16. Bảng thuộc tính của lớp quan trắc dạng điểm................................................... 47
Hình 17. Hộp thoại Table, nhập dữ liệu thuộc tính........................................................... 47
Hình 18. Hộp thoại phương pháp nội suy Spline............................................................... 48
Hình 19. Hộp thoại công cụ Mask......................................................................................... 48
Hình 20. Diễn biến hàm lượng DO tại các điểm quan trắc Sông Lam......................... 56
Bảng 5. Phân loại ô nhiễm nguồn nước mặt....................................................................... 40
Bảng 6. Thiết bị quan trắc và phương pháp phân tích môi trường nước......................49
Bảng 7. Vị trí quan trắc đưa vào tính toán........................................................................... 50
Bảng 8. Thông tin về hoạt động lấy mẫu............................................................................. 51
Bảng 9. Tổng hợp kết quả phân tích các mẫu nước mặt dọc tuyến sông Lam............53
Bảng 10. Tổng hợp kết quả phân tích các mẫu nước mặt dọc tuyến sông Lam........54
Bảng 11. Giá trị i của các thông số........................................................................................ 61
Bảng 12. Giá trị qi của các thông số..................................................................................... 62
Bảng 13. Kết quả tính toán WQI thông số chất lượng nước sông Lam........................ 63
Bảng 14. Kết quả tính toán chỉ số WQI và mức đánh giá chất lượng nước sông Lam
2012 và 2013.............................................................................................................................. 64
KÝ HIỆU VIẾT TẮT
ĐMC - Đánh giá môi trường chiến lược
ĐTM - Đánh giá tác động môi trường
NSF - National Sanitation Foundation (Quỹ vệ sinh Quốc gia Mỹ)
WQI - Water Quality Index - Chỉ số chất lượng nước
CSDL – Cơ sở dữ liệu
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
Trong những năm gần đây, vấn đề ô nhiễm, suy thoái và tai biến môi trường
toàn cầu đang có những biến đổi theo chiều hướng ngày càng tăng. Các quốc gia, các
tổ chức quốc tế đã và đang có những ưu tiên, phối hợp hành động, cùng hợp tác giải
quyết các vấn đề môi trường bức xúc đặt ra. Nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, sự phát triển kinh tế - xã hội mạnh mẽ đã gây những tác động nghiêm trọng
tới các thành phần tài nguyên và môi trường mà đối tượng chịu ảnh hưởng rõ nét
nhất, nhạy cảm nhất là các nguồn nước. Nhiều vấn đề môi trường cấp bách đã và
năng lực quản lý môi trường sông Lam là vấn đề bức xúc, có ý nghĩa khoa học và
thực tiễn to lớn.
Hiện nay việc thành lập các bản đồ môi trường lưu trữ và hiển thị các dữ liệu
môi trường hỗ trợ mạnh mẽ cho công tác quy hoạch và quản lý tài nguyên, phản ánh
sự thay đổi của môi trường dưới tác động của các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội
của con người. Đồng thời chỉ số chất lượng nước (WQI) và phân vùng chất lượng
nước là công cụ giúp đánh giá mức độ ô nhiễm từng đoạn sông phục vụ mục đích quy
hoạch sử dụng hợp lý nguồn nước mặt và xây dựng định hướng kiểm soát
ô nhiễm, bảo vệ môi trường nước. Để quản lý môi trường khu vực sông Lam có hiệu
quả cần phải có một cơ sở dữ liệu đầy đủ, chính xác, với khả năng cập nhật kịp thời
và nhanh chóng sự biến động chất lượng môi trường nước trong khu vực. Đề tài luận
văn thạc sỹ "Xây dựng bản đồ phân vùng chất lượng nước sông Lam, tỉnh Nghệ An"
được lựa chọn là xuất phát từ nhu cầu thực tế và có tính thực tiễn, vì sự phát triển bền
vững của khu vực Sông Lam nói riêng và của tỉnh Nghệ An nói chung.
2.
Mục đích và nhiệm vụ
của đề tài Mục tiêu của đề tài :
Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu thành lập bản đồ môi trường; tính toán
chỉ số chất lượng nước WQI nhằm phục vụ quản lý môi trường. Từ đó hướng tới
thành lập được phương pháp để xây dựng bản đồ phân vùng chất lượng nước khu vực
sông Lam dựa trên chỉ số WQI.
Để hoàn thành được mục tiêu đó, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
2
-
2.
Xây dựng bản đồ phân vùng chất lượng nước quản lý môi trường khu Sông
Lam.
3.
Nghiên cứu tổng quan về phương pháp tính toán chỉ số chất lượng nước
(WQI) cho sông Lam, Nghệ An.
4.
Thành lập phương pháp xây dựng bản đồ phân vùng chất lượng nước sông
Lam dựa trên chỉ số WQI: Tính toán chỉ số chất lượng nước (WQI) theo Quyết định
số 879/QĐ-TCMT; Thử nghệm xây dựng bản đồ hiện trạng chất lượng nước sông
Lam theo chỉ số WQI;
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Về mặt khoa học, đề tài nghiên cứu giúp học viên nắm chắc được kiến thức cơ
bản về bản đồ môi trường, ứng dụng và vai trò của bản đồ trong thực tế cũng như quy
trình và các phương pháp xây dựng các bản đồ chuyên đề về môi trường. Bên
3
cạnh là hiểu rõ hơn về phương pháp đánh giá chất lượng nước theo chỉ số WQI, qua
đó kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần nhận biết hiện trạng chất lượng nước khu
vực sông Lam.
Về mặt thực tiễn, đề tài được hoàn thành sẽ là một tài liệu hữu ích cho công
tác quản lý môi trường khu vực sông Lam.
Hình 1. Sông Lam, Nghệ An
(Đường màu tím than)
5
1.1.1.2. Đặc điểm địa hình
Do Nghệ An một mặt là biển và một mặt là núi nên độ dốc của sông Lam là
khá lớn, tính trung bình của cả triền sông thì sông Lam nằm ở cao độ 294 m và độ
dốc trung bình là 18,3%, khi gần tới biển chảy ngược lên hướng Bắc.
1.1.1.3. Đặc điểm thủy văn
Là một con sông lớn của Việt Nam, sông Lam có một hệ thống chi lưu sông
ngòi, kênh hồ khá lớn với mật độ sông suối là 0,60 km/km². Từ biên giới Việt-Lào
đến Cửa Rào, lòng sông dốc nhiều với hơn 100 ghềnh thác. Từ Cửa Rào trở về xuôi,
tàu thuyền nhỏ có thể đi lại được trên sông vào mùa nước. Tổng lượng nước 21,90
km³ tương ứng với lưu lượng trung bình năm 688 m³/s và môđun dòng chảy năm 25,3
l/s.km². Lưu lượng trung bình mỗi năm tại Cửa Rào là 236 m³/s, tại Dừa: 430 m³/s.
Mùa lũ: xuất hiện trên các dòng chảy chính từ tháng 7-11 nhưng chiếm tới 73,5%
lượng dòng chảy hàng năm. Trên dòng chính 3 tháng (8-11) có lượng dòng chảy lớn
nhất chiếm tới 55,4% lượng dòng chảy năm. Tháng có lượng dòng chảy lớn nhất là
tháng 9 chiếm 21,8% cả năm.[8]
1.1.1.4. Đặc điểm khí hậu
Khu vực sông Lam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt
và có sự biến động lớn từ mùa này sang mùa khác.[19]
+ Nhiệt độ và độ ẩm không khí :
Nhiệt độ không khí đã được thống kê nhiều năm và lấy giá trị trung bình tại
Đài khí tượng thủy văn Bắc Trung Bộ như sau:
-
mùa rõ rệt:
-
Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm 15 - 20%
lượng mưa cả năm, tháng khô hạn nhất là tháng 1, 2; lượng mưa chỉ đạt 7 - 60
mm/tháng.
-
Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa tập trung chiếm 80 - 85%
lượng mưa cả năm, tháng mưa nhiều nhất là tháng 8, 9 có lượng mưa từ 220 540mm/tháng.
-
Số ngày mưa 15 - 19 ngày/tháng, mùa này thường kèm theo giông bão.
Khu vực hạ lưu sông Lam chịu ảnh hưởng của hai loại gió chủ yếu: gió mùa
Đông Bắc và gió phơn Tây Nam.
-
Gió mùa Đông Bắc thường xuất hiện vào mùa Đông từ tháng 10 đến tháng 4
năm sau, bình quân mỗi năm có khoảng 30 đợt gió mùa Đông Bắc, mang theo không
0
khí lạnh, khô làm cho nhiệt độ giảm xuống 5 – 10 C so với nhiệt độ trung bình năm.
-
Gió phơn Tây Nam là một loại hình thời tiết đặc trưng cho mùa hạ của vùng
chất thải của cả khu vực.
Việc sử dụng quá mức phân đạm nhằm tăng năng suất rau màu của các vùng
nông nghiệp ven sông đã tăng quá mức lượng nitrat, nitrit trong rau. Trong super lân
chứa một lượng kim loại nặng, chủ yếu là Cd (Cadimi) cũng là một trong những
nguồn gây ô nhiễm kim loại nặng[8].
b. Chất thải sinh hoạt và công nghiệp
Quá trình đô thị hoá nhanh các thị xã, thị tứ của các huyện sông Lam chảy qua
đã làm tăng một khối lượng lớn chất thải sinh hoạt, chất thải do sản xuất công nghiệp
và từ các làng nghề. Lượng chất thải với một số hợp chất độc hại cho sinh vật với
nồng độ cao đã tác động mạnh mẽ một số hệ sinh thái trên quy mô bộ phận và có khả
năng lan truyền rộng.
8
Các chất thải đưa ra các thuỷ vực làm thay đổi tính chất vật lý (tăng nhiệt độ,
tính dẫn điện...), hoá học của đất, nước dẫn đến thay đổi điều kiện sống, chuỗi thức
ăn, khả năng sinh sản, làm giảm số lượng loài, năng suất các loài có ích so với tính đa
dạng sinh học tự nhiên của sông Lam, năng suất các loài cá, các loài thuỷ sản trong
sông, các thuỷ vực giảm nhanh chóng, nhiều loài dần vắng mặt.
Như vậy, trong thời gian phát triển kinh tế rất ngắn đã để lại những hậu quả
cho môi trường khá nghiêm trọng cho sông Lam nói chung và khu vực hạ lưu nói
riêng. Ô nhiễm đất, ô nhiễm kim loại nặng tại các làng nghề tái chế kim loại và các
khu công nghiệp với thiết bị lạc hậu, ô nhiễm chất hữu cơ tại các vùng chế biến thực
phẩm và lan rộng ra xung quanh, ven các cụm dân cư lớn. Do lượng nước lấy từ nước
ngầm quá lớn trong những năm qua, mực nước ngầm hiện tại đã hạ xuống, chất lượng
nước đang dần xấu đi, một số chất có hàm lượng tăng lên rõ rệt.
c. Các nguy cơ tiềm ẩn
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tăng dân số các vùng thuộc lưu vực sông Lam
đã thúc đẩy việc khai thác mạnh mẽ những nguồn tài nguyên vốn có như: đất lầy, đất
tỉnh Nghệ An có rất nhiều lợi thế về mặt kinh tế do có vị trí thuận lợi trong giao
thương, buôn bán. Vị trí địa lý của tỉnh Nghệ An nằm trên trục giao thông Bắc - Nam
cả về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không. Vì vậy tỉnh có điều
kiện giao lưu kinh tế với các tỉnh thành trong cả nước và một số nước trong khu vực.
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế cả nước nói chung, ở sông Lam nói
riêng phát triển khá mạnh mẽ thì yêu cầu về lượng nước cấp đồng thời tạo ra số lượng
và đa dạng về nguồn thải cũng rất lớn.
Hiện trạng nguồn xả thải từ các cơ sở sản xuất, cụm công nghiệp và làng nghề
trên địa bàn huyện, thành phố, thị xã dọc theo trục sông Lam[8]:
a. Thành phố Vinh :
Thành phố Vinh là trung tâm kinh tế, chính trị của tỉnh Nghệ An và đã được
Chính phủ quy hoạch để trở thành trung tâm kinh tế - văn hóa của vùng Bắc Trung
Bộ, Việt Nam. Hiện nay, thành phố Vinh là một trong 8 đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh,
là trung tâm kinh tế lớn nhất khu vực Bắc Miền Trung của Việt Nam. Có tổng diện
2
tích 104,96 Km với dân số 435.208 người[19]. Nguồn xả thải trực tiếp hay gián tiếp
gần vào sông Lam từ các cơ sở sản xuất, cụm công nghiệp và làng nghề là:
-
Xưởng sản xuất giấy công ty TNHH An Châu: Chuyên sản xuất giấy Krap
chưa có hệ thống xử lý rác thải đúng quy cách, hàng ngày rác thải đổ thẳng ra sông
Côn Mộc rồi chảy thẳng ra sông Lam.
-
Cụm công nghiệp dệt may và khai thác cảng Bến Thủy: ngành nghề hoạt
động chính là sản xuất bao bì nhựa, caston, sản xuất gia công cơ khí, sản xuất vật liệu
xây dựng.
trải dài theo sông Lam[19]. Nguồn xả thải trực tiếp hay gián tiếp gần vào sông Lam
là:
-
Rác thải sinh hoạt của các xã ven sông vì tỉnh và huyện chưa xây dựng được
các bãi xử lý thải rắn và thải sinh hoạt nên toàn bộ rác thải hàng ngày của người dân
các xã ven sông đều được tập trung và đổ ra ven sông.
-
Các chất hóa học từ các vườn rau ven sông Đước đổ thẳng ra sông Lam.
Các khu, hộ chăn nuôi lớn và nhỏ lẻ cùng dự án chăn nuôi VietGap nhưng
chưa có hệ thống xử rác thải, phân gia súc hợp lý đều thải thẳng ra sông con và đổ ra
sông Lam.
d. Huyện Nam Đàn:
2
Huyện Nam Đàn có tổng diện tích 239.9 km với dân số 159000 người, đây là
một huyện miền núi của Nghệ An trải dài theo sông Lam nhưng nó đã hình thành từ
rất lâu đời cùng với các làng nghề truyền thống như Làng mộc nề Nam Hoa, làng rèn
Quy Chính, làng tương Tự Trì, làng nón Đông Liệt, các làng dệt Xuân Hồ, Xuân
11
Liễu, Tầm Tang, làng nồi đồng Bố Ân, Bố Đức, làng gạch ngói Hữu Biệt, làng dầu
bông, dầu lạc Đan Nhiệm, Đồng Trung[8].
Dân cư huyện tập trung chính 2 bên con sông Đào là con sông nhân tạo lấy
Quá trình đô thị hoá diễn biến liên quan mật thiết đến môi trường đô thị, lượng
chất thải, tệ nạn xã hội ...
Các diễn biến dân số thành thị của vùng hạ lưu sông Lam chịu sự tác động
nhiều mặt của các yếu tố điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội, các chính sách kinh tế
của Trung ương và địa phương.
-
Thành phố Vinh là trung tâm kinh tế của Bắc Trung Bộ. Việc tăng nhanh dân
số thành thị của thành phố chủ yếu là do sự tác động của hiện tượng di dân từ nông
thôn ra thành thị và do tác động của quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá.
Trong tương lai định hướng phát triển đô thị vùng được bố trí theo cụm hay
theo chùm. Các trung tâm cấp quốc gia hay vùng tạo thành các đô thị hạt nhân sẽ quy
tụ các đô thị khác tạo thành các chùm đô thị. Hệ thống đô thị được lan tỏa ra qua các
đô thị cấp 2, 3 đến các thị trấn, thị xã....
1.1.2.4. Những vấn đề môi trường do diễn biến dân cư - đô thị hoá
Sự phát triển dân số nói chung và dân số đô thị cùng với những tiến trình tạo
lập đô thị mới khu vực ven sông Lam và mở rộng của đô thị cũ trong thời kỳ công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước và của vùng đã ảnh hưởng không nhỏ đến môi
trường. Đặc trưng chủ yếu của đô thị là nơi tập trung dân với mật độ cao, mà hoạt
động là phi nông nghiệp, là nơi tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên, năng lượng, sản phẩm
của xã hội tính trên đầu người cao hơn nhiều lần so với mức trung bình của đất nước,
nhưng cũng là nơi phát sinh nhiều chất thải nhất gây ô nhiễm môi trường.
"Công nghiệp hoá" và "đô thị hoá" được coi là bạn đồng hành. Thông thường,
bên cạnh các khu công nghiệp mới sẽ hình thành các khu đô thị mới. Vì vậy, khi xem
xét những biến đổi môi trường cần lưu ý cả hai khía cạnh: môi trường tự nhiên và môi
trường xã hội do công nghiệp hoá, đô thị hoá.
* Áp lực của dân số và đô thị hoá, công nghiệp hoá đến môi trường.
Tác động của dân cư và đô thị hoá đến môi trường là hết sức phức tạp, đa dạng
và mâu thuẫn. Bên cạnh những mặt lợi do đô thị hoá mang lại, thì sự phát triển theo
thông, hoạt động của ngành xây dựng đã là nguồn phát sinh các loại ô nhiễm không
khí như ô nhiễm bụi, ô nhiễm khí độc hại (SO 2, NO2, CO), ô nhiễm chì (do phương
tiện giao thông)... Các kết quả quan trắc nồng độ bụi ở các khu dân cư cạnh khu công
nghiệp với nồng độ bụi của khu dân cư thông thường cho thấy cao gấp 3 -5 lần[8].
-
Ô nhiễm tiếng ồn đô thị, cùng với sự phát triển của đô thị là sự gia tăng đáng
kể của các phương tiện giao thông. Đây là nguồn chính gây ô nhiễm tiếng ồn đô thị.
Theo tiêu chuẩn TCVN 5949-1995 thì mức tiếng ồn cho phép ở các khu thương mại dịch vụ là 70 dBA. Với mức tiêu chuẩn này thì phần lớn các đô thị ở Việt Nam đều có
mức tiếng ồn xấp xỉ hoặc vượt tiêu chuẩn cho phép...
14
Chất thải rắn ở các đô thị đang là một vấn đề bức xúc. Quá trình đô thị hoá
diễn ra càng nhanh, dân số thành thị tăng lên thì lượng chất thải rắn càng nhiều và
tính chất độc hại càng tăng. Tuỳ đặc điểm và quy mô của từng đô thị thì lượng chất
thải rắn cũng khác. Theo kết quả quan trắc môi trường (năm 1998) cho kết quả như
sau: ở Vinh, lượng chất thải rắn bình quân/người/ngày từ 0,6 - 0,8 kg. Các thành phố,
thị xã còn lại lượng chất thải rắn bình quân/người/ngày: 0,3 - 0,5 kg[8].
Xử lý nơi chứa đựng rác thải cũng là một vấn đề hết sức phức tạp, hiện tại ở
nước ta chủ yếu là chôn lấp. Vì vậy, nguy cơ các bãi rác chôn lấp cũng là nguồn tiềm
tàng gây ô nhiễm môi trường và đây cũng là nguyên nhân gây xung đột môi trường.
Những năm gần đây, một số dự án về xử lý chất thải rắn và vệ sinh môi trường đã
được triển khai ở một số thành phố, thị xã, thị trấn... Tuy nhiên, do khó khăn về vốn
nên phương án thu gom, phân loại, vận chuyển, chôn lấp vẫn là chủ yếu.
* Áp lực của dân số - đô thị đến các công trình hạ tầng cơ sở.
Dân số thành thị tăng nhanh cùng với quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá
thường gây ra sự quá tải đối với hệ thống hạ tầng cơ sở đô thị như cấp nước, thoát
phá rừng, làm quá tải đối với vùng đô thị gây ô nhiễm môi trường, kể cả môi trường
xã hội.
1.2. Bản đồ môi trường:
1.2.1. Khái niệm và vai trò của bản đồ môi trường
a. Khái niệm: Bản đồ môi trường là một loại bản đồ chuyên đề, trên đó thể
hiện các nội dung thông tin về hiện trạng môi trường (ô nhiễm, suy thoái hoặc tai biến
môi trường), nguồn gây tác động môi trường, dự báo xu thế tác động, đánh giá ảnh
hưởng của các đối tượng tác động môi trường,… hay thể hiện tổng hợp toàn bộ các
nội dung nêu trên có ảnh hưởng, tác động đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển
của con người và tự nhiên.
-
Bản đồ môi trường là mô hình thu nhỏ của hệ thống môi trường. Mô hình
này phản ánh sự tương hợp, đặc trưng phân bố không gian của các yếu tố môi trường
và quan hệ hình học giữa các đối tượng. Vì vậy, bản đồ có các chức năng cơ bản về
chuyển tải thông tin môi trường và thông tin nhận thức về môi trường. Với các đặc
điểm và công năng cơ bản nói trên, những năm gần đây, bản đồ môi trường
16
đã trở thành một bộ phận khoa học quan trọng phát triển song song với khoa học môi
trường, ngày càng được mở rộng về nội dung và hoàn thiện về lý luận[7].
b. Vai trò, ý nghĩa: Bản đồ là phương tiện và công cụ quan trọng trong quá
trình điều tra các hiện tượng ô nhiễm, suy thoái và tai biến môi trường; phục vụ đánh
giá chất lượng môi trường, đánh giá tác động môi trường, dự báo môi trường...
-
Môi trường là một hệ thống phức tạp. Diễn biến môi trường không thể diễn