ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN ĐÌNH HỊA
¸P DơNG PHáP LUậT TRONG HOạT ĐộNG XéT Xử
CáC Vụ áN HÔN NHÂN Và GIA ĐìNH QUA THựC TIễN TỉNH PHú THọ
LUN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2020
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN ĐÌNH HỊA
¸P DơNG PHáP LUậT TRONG HOạT ĐộNG XéT Xử
CáC Vụ áN HÔN NHÂN Và GIA ĐìNH QUA THựC TIễN TỉNH PHú THọ
Chuyờn ngành: Lí luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
Mã số: 8380101.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: GS.TS HOÀNG THỊ KIM QUẾ
HÀ NỘI - 2020
LỜI CAM ĐOAN
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử
các vụ án Hơn nhân và gia đình ......................................................... 14
1.2.
Quy trình và nội dung áp dụng pháp luật trong hoạt động
xét xử các vụ án Hơn nhân và gia đình .......................................... 17
1.2.1. Quy trình và nội dung áp dụng pháp luật trong giai đoạn chuẩn
bị xét xử các vụ án Hôn nhân và gia đình của Tịa án nhân dân ........ 18
1.2.2. Quy trình và nội dung áp dụng pháp luật trong giai đoạn xét xử
các vụ án Hơn nhân và gia đình của Tòa án nhân dân ....................... 23
1.3.
Các yếu tố tác động đến chất lƣợng, hiệu quả áp dụng pháp
luật trong hoạt động xét xử các vụ án Hôn nhân và gia đình ...... 34
1.3.1. Yếu tố pháp luật ................................................................................. 34
1.3.2. Ý thức pháp luật của cán bộ áp dụng pháp luật trong hoạt động
xét xử vụ án Hôn nhân và gia đình .................................................... 34
1.3.3. Yếu tố đạo đức nghề nghiệp của của cán bộ áp dụng pháp luật
trong hoạt động xét xử vụ án Hơn nhân và gia đình .......................... 34
1.3.4. Yếu tố ý thức pháp luật của người dân .............................................. 35
1.3.5. Các yếu tố tác động khác về kiểm tra, giám sát, áp dụng cơng
nghệ, kỹ thuật, tài chính, chế độ tiền lương, xử lý vi phạm............... 36
Kết luận chƣơng 1 ......................................................................................... 37
CHƢƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG HOẠT
ĐỘNG XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
TẠI TỈNH PHÚ THỌ ....................................................................... 38
động xét xử các vụ án Hơn nhân và gia đình ................................. 68
3.2.
Thực hiện các chƣơng trình bồi dƣỡng, tập huấn nghiệp vụ,
xây dựng đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ Toà án về áp dụng
pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ án Hơn nhân và gia
đình tại tỉnh Phú Thọ ....................................................................... 71
3.3.
Nâng cao chất lƣợng bản án, quyết định của Tòa án ................... 74
3.4.
Sử dụng có hiệu quả nguồn “Án lệ” ............................................... 77
3.5.
Thực hiện đối thoại, hòa giải trong giải quyết các vụ án Hơn
nhân và gia đình ............................................................................... 78
3.6.
Ứng dụng cơng nghệ thơng tin trong hoạt động của Tịa án........ 78
3.7.
Tăng cƣờng sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xét xử
HN&GĐ:
Hôn nhân và gia đình
HTND:
Hội thẩm nhân dân
PBGDPL:
Phổ biến giáo dục pháp luật
TAND:
Toà án nhân dân
TANDTC:
Toà án nhân dân tối cao
VKSND:
Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC:
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
XHCN:
biến đổi theo, quan hệ giữa con người với con người trong đó có quan hệ Hơn
nhân và gia đình (HN&GĐ) cũng bị tác động mạnh mẽ. Ngồi những ảnh
hưởng tích cực thì có một mặt mà quan hệ HN&GĐ bị tác động theo chiều
hướng xấu nghĩa là tình trạng ly hơn đang ngày một gia tăng. Theo số liệu
thống kê năm 2018 thì trong cả nước, số lượng các vụ án về HN&GĐ mà Toà
án phải thụ lý giải quyết khoảng 262.906 vụ việc, tăng khoảng 2.830 vụ so
với cùng kì năm trước [36].
Khái niệm “gia đình” đã được hình thành từ rất lâu, và nó phát triển
theo sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội trong lịch sử phát triển của
lồi người. Khi viết về gia đình, về hơn nhân và tình u nam nữ, Ăngghen
tán thành quan điểm của Mc gan cho rằng: “Gia đình là một yếu tố năng
động; nó khơng nao giờ đứng ngun ở một chỗ, mà chuyển từ một hình thức
thấp lên một hình thức cao, khi xã hội phát triển từ một giai đoạn thấp lên
một giai đoạn cao” [14, tr.59].
Xét trên bình diện xã hội, ly hơn là tình trạng khơng mong muốn.
Nếu kết hơn là sự tự nguyện thì ly hôn đôi khi không phải là sự tự nguyện
của cả hai bên mà chỉ có một bên đơn phương xin ly hơn cũng vẫn được
pháp luật bảo vệ, Tịa án sẽ xem xét giải quyết. Ăngghen từng nói “Hơn
nhân có thể bị hủy bỏ tùy ý mỗi bên trong cặp vợ chồng ấy” [14, tr.59]. Hệ
lụy của việc ly hôn đầu tiên là nó phá vỡ một chính thể gia đình, sau đó nó
sẽ có những tác động đến tâm lý của con cái theo chiều hướng khơng tích
cực. Ly hơn là một biện pháp chấm dứt tình trạng mâu thuẫn trầm trọng
1
giữa vợ và chồng khi mà đời sống chung không thể kéo dài, vợ chồng chia
tay đường ai nấy đi bằng một phán quyết của Tồ án. Chính vì thế, ly hôn
hiện nay không chỉ là vấn đề riêng của mỗi gia đình, mỗi cá nhân mà cịn là
vấn đề được cả xã hội quan tâm.
với thực tiễn và mang lại nhiều kết quả cho hoạt động xét xử các vụ án nói
chung và án HN&GĐ nói riêng.
Một số cơng trình khoa học có liên quan đến đề tài nghiên cứu ở cấp độ
luận văn như:
Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thu Hường (2014), ADPL trong
giải quyết án HNGĐ ở tỉnh Thái Nguyên, Luận văn thạc sỹ Luật học, Khoa
Luật - Đại học quốc gia Hà Nội.
Bài báo khoa học của tác giả Nguyễn Minh Hằng (2019), Công nhận
hay không công nhận quan hệ vợ chồng" (Tạp chí Tịa án nhân dân, số 4 (1));
Giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội (2007), Giáo trình Luật
HN&GĐ Việt Nam, NXB Cơng an nhân dân, Hà Nội.
Sách chuyên khảo dưới sự chủ biên của GS. TSKH. Đào Trí Úc (chủ
biên) (2002), Hệ thống tư pháp và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay, Nxb
Khoa học Xã hội.
Tác giả Lưu Tiến Dũng với bài “Bàn về áp dụng pháp luật trong cơng
tác xét xử”, Tạp chí Tồ án nhân dân số tháng 5/2005.
Tác giả Thuỷ Nguyên với bài “Áp dụng luật hơn nhân gia đình khi giải
quyết vụ án có yếu tố nước ngồi”, Tạp chí Tồ án nhân dân số 17 tháng 9/2005.
Một số bài viết của Giáo sư Hoàng Thị Kim Quế như: Quan niệm về
pháp luật - một vài suy nghĩ. Tạp chí NN và PL. Số 6 – 2006; Bàn về hiệu quả
phổ biến, giáo dục pháp luật ở nước ta hiện nay. Tạp chí Khoa học pháp lý.
Số 3/2011; Bảo vệ quyền lợi phụ n trong Luật Hồng Đức Lê triều hình luật
- Tính tiến bộ, nhân văn và giá trị đương đại, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN,
Luật học 28 (2012).
3
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và mục đích của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Là ADPL trong hoạt động xét xử các vụ án
Nhà nước và pháp luật, những quan điểm cơ bản của lý luận ADPL trong nhà
nước pháp quyền.
- Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu như: phương pháp
phân tích, tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh, điều
tra xã hội học vv..
6. Đóng góp mới của luận văn
- Luận văn góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn ADPL của
TAND trong hoạt động xét xử các vụ án HN&GĐ, làm rõ những đặc thù của
loại án này tại TAND ở tỉnh Phú Thọ.
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập trong quá trình
ADPL của TAND trong hoạt động xét xử các vụ án HN&GĐ, luận văn đề
xuất một số phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm góp phần nâng cao chất
lượng xét xử các vụ án HN&GĐ của TAND, đáp ứng nhu cầu công cuộc cải
cách Tư pháp hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn là cơng trình nghiên cứu cơ bản là mới nhất về ADPL
trong hoạt động xét xử các vụ án HN&GĐ, về bản chất thì chính là ADPL
trong hoạt động xét xử của TAND trong hoạt động giải quyết án HN&GĐ
ở tỉnh Phú Thọ.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần đáng kể cung cấp cơ sở lý
luận và cơ sở thực tiễn cho những người trực tiếp làm công tác giải quyết án
HN&GĐ, nhằm thực hiện thống nhất luật HN&GĐ, và góp phần nào đó để
giúp các cơ quan lập pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật để xây dựng Nhà
nước pháp quyền trong tình hình thực tế.
5
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên
Quan hệ này được pháp luật công nhận và bảo vệ dựa trên nguyên tắc
hồn tồn tự nguyện và bình đẳng, khơng trái với đạo đức xã hội, không trái
với các quy định của pháp luật. Hôn nhân được xác định bởi hai sự kiện pháp
lý đó là: kết hơn và chấm dứt hơn nhân (ly hôn).
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm áp dụng pháp luật
Áp dụng pháp luật chính là một hình thức thực hiện pháp luật. Do vậy,
trước tiên cần đưa ra khái niệm thực hiện pháp luật là gì?
- Khái niệm và vai trò của thực hiện pháp luật
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin: Pháp luật XHCN là hệ
thống các quy phạm pháp luật (các quy tắc) có tính chất bắt buộc chung do
nhà nước XHCN ban hành (hoặc thừa nhận) theo một trình tự nhất định, và
7
bảo đảm bằng sức mạnh của mình, trong đó đặc biệt là sức mạnh cưỡng chế,
trực tiếp thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp cơng nhân và nhân dân
lao động; là cơng cụ có hiệu lực nhất để điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản,
vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội cơng bằng, dân chủ và văn minh [4].
Pháp luật có vai trị đặc biệt quan trọng, khơng chỉ là cơng cụ quản lý
xã hội cần thiết mà còn là vũ khí chính trị để chống lại thế lực thù địch. Pháp
luật XHCN được thể chế hoá từ đường lối, chủ trương của Đảng cộng sản, là
phương tiện cho Đảng cộng sản lãnh đạo xã hội. Pháp luật là cơ sở pháp lý để
Nhà nước tổ chức và hoạt động, là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội, bảo
vệ quyền công dân, quyền con người, là phương tiện để nhân dân thực hiện
quyền làm chủ, phát huy dân chủ và thiết lập quan hệ xã hội mới.
Pháp luật chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó được thực hiện và thực hiện có
hiệu quả trong đời sống hằng ngày. Nếu pháp luật không thực hiện được trong
đời sống hằng ngày thì sẽ làm giảm hoặc mất ý nghĩa, giá trị của pháp luật.
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất đề cao vai trò của pháp luật, Người từng
mà nghĩa vụ ấy khơng được thực hiện thì họ chắc chắn sẽ bị xử lý bởi các chế
tài trong quy phạm pháp luật hoặc chịu hậu quả bằng một hình phạt cụ thể.
Ví dụ: Một người phạm tội “Trộm cắp tài sản” thì tùy từng trường hợp,
tùy mức độ vi phạm mà bị xử lý theo các quy định trong Bộ luật Hình sự hiện
hành. Các chế tài đó mang tính bắt buộc chung nghĩa là buộc các chủ thể phải
thực hiện từ đó mà việc tuân thủ pháp luật sẽ có tính răn đe cũng như giáo dục
phịng ngừa chung trong xã hội, từ đó mỗi chủ thể sẽ nhận thức được và sẽ
không vi phạm những điều mà pháp luật đã cấm. Tuy vậy, cũng có trường
hợp, cá nhân hay tổ chức tuy đã nhận biết được các quy định cấm của pháp
luật nhưng vẫn cố tình vi phạm do động cơ nào đó hoặc để đạt được mục đích
mà thấy rằng có lợi cho bản thân.
Cũng tương tự ví dụ vừa nêu, khi Pháp luật cấm hành vi “mua, bán trái
phép chất ma túy”. Do đó, Chủ thể “không được thực hiện hành vi mua, bán
9
chất ma túy” được xem là tuân thủ pháp luật. Và chủ thể thực hiện hành vi
mua, bán chất ma túy được xem là không tuân thủ pháp luật, như vậy chủ thể
đó sẽ phải chịu trách nhiệm về hình sự và bị xử phạt bằng chế tài được quy
định trong bộ luật hình sự hiện hành.
+ Thi hành pháp luật, cịn gọi là chấp hành pháp luật là hình thức
trong đó các chủ thể quan hệ pháp luật thực hiện nh ng hành vi mà pháp luật
quy định được thực hiện trong nh ng hoàn cảnh, nh ng quan hệ pháp luật
mà pháp luật đã dự liệu cụ thể.
Đây là hình thức thực hiện pháp luật chủ động và tích cực bằng các
hành vi cụ thể của các chủ thể quan hệ pháp luật. Chủ thể thực hiện hình thức
thi hành pháp luật này là tất cả các cơ quan Nhà nước, nhân viên Nhà nước,
các cá nhân, tổ chức và mọi cơng dân trong xã hội.
Ví dụ: Pháp luật quy định về nghĩa vụ đóng thuế thu nhập cá nhân/ thuế
Hiện nay, về góc độ học thuật thì các học giả Việt Nam có những quan
niệm về “áp dụng pháp luật” và có những cách tiếp cận khác nhau. Nhưng dù
có suy nghĩ như thế nào thì vẫn tồn tại một khái niệm chung thừa nhận rằng:
Áp dụng pháp luật là hình thức hoạt động mang tính tổ chức quyền lực của Nhà nước được thực hiện thơng qua những cơ quan
nhà nước, cá nhân có thẩm quyền (được nhà nước trao quyền) theo
thủ tục, trình tự do pháp luật quy định nhằm cá biệt hoá những qui
phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với các cá nhân, cơ
quan và tổ chức cụ thể [4, tr.283].
- Đặc điểm áp dụng pháp luật
+ ADPL là hoạt động mang tính tổ chức - quyền lực nhà nước. Vì vậy,
hoạt động này chỉ do những cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền tiến hành.
Hoạt động ADPL chỉ do những cơ quan Nhà nước hay nhà chức trách
có thẩm quyền tiến hành. Cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền được
thay mặt nhà nước thực hiện hoạt động ADPL theo đúng nhiệm vụ và chức
năng của họ mà pháp luật đã quy định.
11
ADPL có tính chất bắt buộc đối với chủ thể bị áp dụng và các chủ thể
có liên quan. Hoạt động ADPL có mang tính quyền lực nhà nước nên nó được
nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các hình thức cưỡng chế, giáo dục và
thuyết phục. Các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền, được nhà nước trao quyền
thực thi quyền lực nhà nước sẽ căn cứ quy định pháp luật để đưa ra quyết định
ADPL có giá trị pháp luật thi hành đối với các cá nhân, tổ chức có liên quan.
GS,TS Hồng Thị Kim Quế cho rằng “Trong tương quan với nhà nước, pháp
luật được xác định là phương tiện giới hạn quyền lực nhà nước, là công cụ
chủ yếu của quản lý xã hội v.v” [17, tr. 9]
+ ADPL là hoạt động được thực hiện theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy
định chặt chẽ. Các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền và các bên liên quan
phạm pháp luật đó áp dụng vào trường hợp đang diễn ra trong đời sống một
cách chính xác nhất.
+ ADPL là hoạt động có tính sáng tạo. Khi ADPL, cơ quan nhà nước,
người có thẩm quyền phải phân tích vụ việc, làm sáng tỏ nội dung của vụ
việc, từ đó lựa chọn quy phạm, ra văn bản ADPL và tổ chức thi hành.
Thực tiễn cuộc sống diễn ra vô cùng đa dạng, phong phú và phức tạp,
chính vì thế các quy định pháp luật phải cô đọng, như là một công thức chung
để có thể áp dụng vào những tình huống khác nhau trong thực tiễn. Do vậy,
hoạt động ADPL ln địi hỏi tính sáng tạo, linh hoạt của những người thực thi
nhiệm vụ, bên cạnh đó phải đảm bảo được những nguyên tắc của pháp luật.
Để ADPL đáp ứng được tình hình thực tiễn cụ thể từng giai đoạn thì
yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải nghiên cứu kỹ lưỡng vụ
việc, làm sáng tỏ cấu thành pháp lý của nó để từ đó lựa chọn quy phạm, ra
văn bản ADPL và tổ chức thi hành. Trong trường hợp pháp luật chưa quy
định hoặc quy định chưa rõ thì phải vận dụng một cách sáng tạo bằng cách
ADPL tương tự, hoặc sử dụng án lệ. Điều đó địi hỏi các Cơ quan Nhà nước
là những chủ thể của hoạt động áp dụng phải có kiến thức, kỹ năng và bản
13
lĩnh nghề nghiệp, có đạo đức nghề nghiệp thì mới có thể phân tích, đánh giá
tình huống một cách chặt chẽ, khoa học, khách quan và linh động để đưa ra
một cách giải quyết đúng pháp luật. Có như vậy, quyết định ADPL mới có
tính khả thi cũng như được người dân thừa nhận, từ đó sẽ tin tưởng vào cơ
quan ADPL và tin tưởng vào chủ trương đường lối của Đảng cũng như chính
sách pháp luật của Nhà nước. Các văn bản ADPL được ban hành chính là kết
quả của việc ADPL.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử
các vụ án Hôn nhân và gia đình
như ở quan hệ tài sản, có thể có sự dịch chuyển tài sản từ chủ thể này sang
chủ thể khác thì trong quan hệ nhân thân, việc dịch chuyển các giá trị tinh
thần là không thể thực hiện được.
- Quan hệ tài sản là những lợi ích về tài sản phát sinh giữa vợ và chồng,
giữa cha mẹ và con và giữa những người thân thích khác. Quan hệ tài sản
ln mang nội dung kinh tế, là tiền bạc, tài sản… Đó là quan hệ cấp dưỡng,
thừa kế giữa cha mẹ và con, giữa anh chị em với nhau, giữa ông bà và cháu,
giữa vợ và chồng, giữa các thành viên khác trong gia đình; là các quan hệ về
sở hữu tài sản giữa vợ và chồng…
1.1.2.2. ADPL trong hoạt động xét xử án HN&GĐ có các đặc điểm sau
- ADPL trong hoạt động xét xử án HN&GĐ chỉ do các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền tiến hành, đó là các TAND. Tồ án là cơ quan có thẩm
quyền duy nhất có quyền ADPL để giải xét xử án HN&GĐ.
- ADPL trong xét xử án HN&GĐ được tiến hành theo một thủ tục chặt
chẽ do pháp luật tố tụng dân sự quy định nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp
của các bên đương sự.
- ADPL trong xét xử án HN&GĐ là một hoạt động mang tính quyền
lực nhà nước, Nhà nước trao quyền cho Tòa án, Tòa án nhân danh Nhà nước
để lựa chọn các quy phạm pháp luật và ADPL trong xét xử án HN&GĐ.
- ADPL trong xét xử án HN&GĐ là một hoạt động mang tính khoa học
15
và sáng tạo do Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân thực hiện. Chỉ có Thẩm phán
và Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử vụ án HN&GĐ mới được áp dụng các
quy phạm pháp luật, sao cho phù hợp và khoa học để giải quyết vụ án HN&GĐ.
- ADPL trong xét xử án HN&GĐ diễn ra trên phạm vi rộng với nhiều
vụ án đa dạng, phức tạp. Tuy cùng một loại án về HN&GĐ nhưng tính chất
từng vụ án cũng khác nhau, tình tiết, chứng cứ trong các vụ án cũng khác
Đối với các vụ án HN&GĐ, Tòa án phải ADPL để giải quyết từ giai
đoạn chuẩn bị xét xử đến khi xét xử vụ án, tùy từng vụ án cụ thể mà phân loại
giải quyết khác nhau. Về thủ tục tố tụng thì áp dụng BLTTDS hiện hành của
nước Cộng hịa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tức là BTTDS năm 2015. Về nội
dung thì ngồi việc áp dụng Bộ luật dân sự (BLDS) hiện hành mà tùy từng vụ
án Tòa án áp dụng các luật nội dung có liên quan như Luật Hơn nhân và gia
đình, Luật đất đai... Theo quy định, khi đương sự nộp đơn đề nghị giải quyết
vụ án HN&GĐ đến TAND cấp có thẩm quyền, sau khi tiếp nhận đơn Tòa án
tiến hành phân loại và thụ lý giải quyết theo trình tự tố tụng, như điều tra thu
thập chứng cứ vụ án, lựa chọn quy phạm pháp luật áp dụng, ra các quyết định
hoặc ra bản án buộc các đương sự phải thực hiện.
1.2. Quy trình và nội dung áp dụng pháp luật trong hoạt động xét
xử các vụ án Hơn nhân và gia đình
Q trình giải quyết một vụ án HN&GĐ bắt đầu từ khi Tòa án nhận
được khởi kiện của người khởi kiện và kết thúc khi Tòa án ra một phán quyết
bằng một quyết định hoặc bản án có hiệu lực pháp luật. Kể từ khi nhận được
đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án cấp có thẩm quyền giải quyết việc ly hơn. Tòa
án phải tiến hành xem xét đơn khởi kiện và tiến hành các bước theo quy định
của BLTTDS. Từ khâu tiếp nhận đơn, xem xét đơn, thụ lý đơn, tiến hành thu
thập chứng cứ, thủ tục hòa giải và sau đó ra quyết định cơng nhận sự thỏa
thuận của các đương sự hoặc ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Thủ tục hòa giải được tiến hành theo BLTTDS hiện hành. Các bên
đương sự được quyền trao đổi thỏa thuận với nhau về các vấn đề để giải quyết
17