164
hoặc ý kiến nêu còn dè dặt; bỏ dở giữa chừng...Quỹ thời gian của các cán bộ
được cử tham gia hoạch định hoặc thảo luận chính sách phát triển GDĐH bị hạn
chế. Sự hiểu biết của những người tham gia thảo luận chính sách phát triển
GDĐH chưa toàn diện và thường có tính bảo thủ cao. Những vấn đề đưa ra tọa
đàm phát hiện ở các cuộc hội thảo chính sách phát triển GDĐH khá giống nhau
hoặc lặp đi lặp lại.
Thứ hai, các trường đại học, cao đẳng vẫn còn bị động trong hoạt động,
điều hành.
- Mặc dù được cam kết mở rộng quyền tự chủ nhiều hơn, các trường đại
học và cao đẳng bị kiểm soát ngày càng chặt chẽ hơn. Trường đại học và cao
đẳng, kể cả công lập hay tư thục vẫn phải tuân thủ sự hướng dẫn của Bộ về tuyển
sinh, thiết kế chương trình, tổ chức dạy và học. Các trường đại học và cao đẳng
tư thục phải xin phê duyệt công nhận hội đồng quản trị và hiệu trưởng. Cơ quan
kiểm định chất lượng đào tạo được giao chức năng quản lý nhà nước và đặt dưới
sự quản lý trực tiếp của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Các trường chịu sự thanh tra
thường xuyên và bất thường của Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc một cơ quan đại
diện cho Bộ tại địa phương. Tất cả những điều này đang làm chậm lại quá trình
hình thành cơ chế quản lý và quản trị đại học có định hướng thị trường, hoặc làm
khó khăn cho việc điều chỉnh kịp thời các chương trình đào tạo nhằm đáp ứng
nhu cầu của thị trường lao động. Sự kiểm soát chặt chẽ của trung ương còn làm
hạn chế cơ hội tiếp cận giáo dục đại học của người học, đồng thời tạo ra những
khó khăn, rào cản trong việc xác định các mục tiêu ưu tiên trong lựa chọn chính
sách phát triển. Ngoài ra, cách thức tuyển sinh và cấp phát kinh phí như hiện nay 165
làm triệt tiêu sự cạnh tranh về chất lượng đào tạo. Các trường có chương trình
lạc hậu, ít chú ý hoặc không chú ý đến chất lượng đào tạo vẫn có thể tồn tại.
đại học, toàn cầu hoá trong giáo dục ... và cũng cần lược bớt đi khá nhiều điều
khoản quá chi tiết như chương trình khung, tên gọi các loại bằng cấp theo từng
nhóm ngành nghề (chỉ nên quy định những điều này trong văn bản dưới luật)
nhưng chưa được tiếp thu, sửa đổi. Thêm nữa, các văn bản dự thảo chính sách
chưa có những phương án khác nhau với cách đánh giá, so sánh của từng phương
án, các ý kiến góp ý của các bên có liên quan, các tầng lớp xã hội và các kế
hoạch thực thi chi tiết trước khi trình lên cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Vì
vậy, một số chính sách như tuyển sinh "3 chung" hay cơ chế điểm sàn còn bất
hợp lý, hiệu quả chưa cao.
Việc thực hiện và theo dõi việc thực hiện chính sách, điều chỉnh và bổ
sung chính sách, đề ra chính sách hay giải pháp mới theo sự xuất hiện các yếu tố
phát sinh trong quá trình thực hiện chính sách và đánh giá kết quả chính sách
cũng có nhiều hạn chế. Cũng tại Luật Giáo dục năm 2005, nhà nước giao quyền
tự chủ và tự chịu trách nhiệm cho trường trung cấp, cao đẳng và đại học một loạt
vấn đề, đặc biệt là việc xây dựng chỉ tiêu, tổ chức tuyển sinh, tổ chức đào tạo
công nhận tốt nghiệp và cấp văn bằng…nhưng việc thực hiện hiện nay ra sao thì
chưa có cơ quan giám sát, đánh giá cụ thể. 167
Theo điều lệ trường đại học ban hành năm 2003 thì Hội đồng trường/Hội
đồng quản trị là cơ quan quyền lực cao nhất, nơi quyết nghị, giám sát các chính
sách và chủ trương lớn của nhà nước và của nhà trường do ban giám hiệu nhà
trường tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, ở Việt Nam rất ít
trường đại học thành lập được Hội đồng trường theo đúng nghĩa vì thành viên
của Hội đồng trường vừa là hiệu trưởng vừa là Bí thư Đảng ủy, trong khi cơ chế
hoạt động của Hội đồng trường và Đảng ủy có nhiều điểm trùng lắp nhau. Trong
khi Đảng ủy lại không chịu trách nhiệm đối với những quyết định/định hướng
của mình mà người chịu trách nhiệm chính là hiệu trưởng và Hội đồng trường
(nếu có).
phải trở thành mục đích tối thượng.
Thách thức lớn nhất trong quá trình đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế
của GDĐH Việt Nam là tư duy về phát triển GDĐH chưa được đổi mới một cách
triệt để, đồng bộ và mang tính chiến lược tổng thể. Từng thành viên của hệ thống
đều cố gắng đổi mới trong sự phối kết lỏng lẻo và rời rạc của hệ thống. Cản trở
lớn nhất là sự không rõ ràng về quan hệ sở hữu, quyền lợi và trách nhiệm của
các bên tham gia hệ thống GDĐH. Thách đố nổi bật là nhận thức để điều hoà
các tác động của cơ chế thị trường với các tác động bù đắp của hệ thống chính
trị, kinh tế và văn hoá. Chưa có sự nhận dạng rõ ràng về qui luật hoạt động và tác
dụng các mối liên kết giữa 4 thành tố của cơ chế vận hành GDĐH trong nền kinh 169
tế thị trường, đó là: sự quản lý nhà nước, sự tham gia của xã hội, nhà trường và
thị trường.
Các nghiên cứu về chiến lược phát triển GDĐH dưới góc độ kinh tế giáo
dục còn thiếu và yếu, và nhiều khi phải né tránh không dám coi sản phẩm
GDĐH là một loại dịch vụ hàng hoá công cộng đặc biệt, trong khi điều này là
một tồn tại khách quan trong lý luận khoa học kinh tế giáo dục và trong thực tiện
vận hành của GDĐH ở khu vực và trên thế giới. Nhiều khái niệm, giá trị kinh tế,
văn hoá và xã hội qui chiếu chưa thống nhất trong vận hành GDĐH cần phải
đánh giá lại. Phải rà soát và định nghĩa lại việc giảng dạy, học tập, nghiên cứu
khoa học, quản lý đào tạo, tài chính trong tư duy truyền thống mà chúng ta quá
quen thuộc từ nhiều năm truớc.
TIỂU KẾT CHƯƠNG II
Từ khi đất nước cải cách và mở cửa ra thế giới bên ngoài (năm 1986),
Đảng và Nhà nước rất coi trọng giáo dục và đào tạo, đặc biệt GDĐH để đào tạo
nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài đáp ứng yêu
cầu của công cuộc đổi mới và hiện đại hoá quốc gia. Thực hiện nhiệm vụ chiến
lược đó, trong từng giai đoạn của quá trình đổi mới, một số chủ trương, chính
tập tại các cơ sở GDĐH chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo. Các điều kiện về tài
chính, trang thiết bị phục vụ dạy và học, nhất là ở các trường đào tạo các nhóm
ngành kỹ thuật, công nghệ, khoa học cơ bản (tự nhiên, xã hội) và chăm sóc sức 171
khỏe còn thiếu. Lương và các khoản phụ cấp theo lương của giáo viên và cán bộ
quản lý giáo dục còn rất thấp; việc đầu tư cho giáo dục còn dàn trải, thiếu sự
thống nhất và phối hợp giữa các nguồn đầu tư và các nhà đầu tư.
Từ nội dung nghiên cứu của Chương này cho thấy, mặc dù chính sách phát
triển GDĐH nước ta đã có nhiều thay đổi trong hơn 20 năm qua, nhưng những
thay đổi diễn ra chậm chạp, cẩn trọng nên một số trường đại học vẫn được bao
cấp về tuyển sinh và ngân sách chi tiêu thông qua hệ thống pháp lý. Có thể nói,
cải cách GDĐH Việt Nam chỉ mới bắt đầu. Mối quan hệ giữa các trường đại học
và chính phủ vẫn chưa được xác lập một cách rõ ràng. Chính sách trong nhiều
lĩnh vực vẫn chưa được thực hiện.
của một nước công nghiệp hoá, đủ sức hội nhập vào quỹ đạo phát triển chung
của thế giới hiện đại và khẳng định được vị thế xứng đáng trong khu vực, không 173
bị lệ thuộc và tăng cường hợp tác với các nước trên cơ sở phân công lao động
quốc tế và nâng cao sức cạnh tranh của quốc gia; xã hội hiện đại, phát triển hài
hoà, toàn diện trên tất cả các mặt: Kinh tế, khoa học, văn hóa, chính trị, đạo đức
và môi trường với các điều kiện về kết cấu hạ tầng; khung thể chế; đội ngũ cán
bộ có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, quản lý nhà nước; hoạt động KH&CN.
Năm 2020 chỉ số HĐH sẽ ở bậc 80-85/174 nước trong bảng xếp hạng của LHQ,
đạt được trình độ phát triển trung bình của thế giới. Về cơ cấu kinh tế, tỷ trọng
GDP công nghiệp và xây dựng trong tổng GDP của cả nước đạt 42% (năm 2010)
và trên 45% (năm 2020). Tỷ lệ nhóm ngành sử dụng công nghệ cao đạt khoảng
40 - 50%. Tốc độ đổi mới công nghệ ngành công nghiệp đạt trung bình 12 -
15%/năm [125]..
- Sự phát triển tăng tốc của khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ
thông tin (CNTT) và truyền thông (TT). CNTT và TT đang mang lại những thay
đổi lớn lao trong cách thức truyền thông, lưu giữ và tái tạo tri thức. Nếu trước
đây thư viện là nơi chứa sách và tạp chí thì ngày nay internet là nơi cung cấp các
phương tiện và công cụ cho mọi đối tượng có nhu cầu tiếp cận với hệ thống các
cơ sở dữ liệu một cách dễ dàng và thuận lợi. Các nhà khoa học dùng internet để
thực hiện việc nghiên cứu, phân tích và phổ biến kết quả nghiên cứu. Các cơ sở
đào tạo sử dụng CNTT và TT để thực hiện việc dạy trực tuyến nhiều chương
trình cấp bằng cho sinh viên bên ngoài nhà trường, thậm chí bên ngoài biên giới
quốc gia. Kết quả là giáo dục từ xa tăng trưởng rất nhanh cả ở phạm vi quốc gia
và quốc tế. CNTT và TT cũng đang ảnh hưởng đến phương pháp dạy và học,
cũng như việc quản lý GDĐH và quản trị trường trường đại học. Với ưu điểm
của tốc độ truyền thông nhanh, dễ dàng, bảo đảm độ tin cậy và tính chính xác,
trong việc nghiên cứu và làm việc ở các khu vực khác nhau bên ngoài biên giới
quốc gia. Song trên nhiều bình diện, thực hiện quá trình này không có nghĩa là
xóa đi ngay được các bất bình đẳng hiện đang tồn tại và các rào cản mới đang
được dựng lên. Để đối phó với môi trường toàn cầu hóa và quốc tế hóa, các
trường đại học và các trường cao đẳng cần hiện thực hóa các mục tiêu về đổi mới
cấu trúc chương trình và phương pháp giáo dục.
- GDĐH thế giới đã bước vào một giai đoạn thay đổi nhanh và thậm chí
mang tính cách mạng. Hệ thống này đang trở nên cạnh tranh nhiều hơn. Các nhà
hoạch định chính sách đang đưa ra các lập luận ủng hộ cho sự ít phụ thuộc hơn
vào các quy định, sử dụng nhiểu hơn các nguồn lực thị trường cũng như khả
năng hạch toán. Bản thể của việc dạy và học ngày càng biến đổi do công nghệ
số. Các nhà cung cấp dịch vụ GDĐH mới - dưới dạng các cơ sở ảo - đang mở
rộng sự lựa chọn cho sinh viên. Tất cả các cơ sở GDĐH trên thế giới – công
cộng hoặc tư nhân - đều chịu áp lực phải tìm kiếm các nguồn tài trợ khác và
thiết lập các dòng thu nhập mới. Một số các cơ sở tự coi mình là các tổ hợp đào
tạo có tính toàn cầu thông qua việc thiết lập các chi nhánh trên toàn thế giới và
mở rộng đối tác toàn cầu. Các thay đổi này hợp lại tạo nên một hệ thống trong đó
khả năng cạnh tranh của các cơ sở đào tạo trong thị trường dịch vụ GDĐH vừa
có tính đáp ứng, vừa có tính kinh doanh và linh hoạt. Điều này có tầm quan trọng
đặc biệt, quyết định đến sự sống còn của mỗi trường đại học. Tác động của cuộc
cạnh tranh này, cùng với việc sử dụng ngày càng nhiều công nghệ số và sự thay
đổi những yếu tố xã hội có thể sẽ đưa lại nhiều hứa hẹn, nếu các nhà hoạch định 176
chính sách và các nhà lãnh đạo, quản lý GDĐH Việt Nam không chỉ đáp ứng,
mà còn kịp thời tận dụng được các cơ hội.
- Yêu cầu cải cách và đổi mới xã hội vẫn tiếp tục tăng lên trong môi
trường xung đột chính trị thế giới cả ở phạm vi khu vực và toàn cầu. Từ cuối thời
kỳ Chiến tranh lạnh, sự phân chia quyền lực trên thế giới đã có những thay đổi
tạo ra một sự thay đổi căn bản để khắc phục những yếu kém bất cập; thể hiện hệ
tư duy đổi mới, xoá bỏ thói quen bao cấp đối với GDĐH, chuyển hướng GDĐH
từ sự nghiệp công ích thuần túy sang cơ chế dịch vụ phù hợp với kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng một nền GDĐH tiên tiến, đáp ứng
nhu cầu đào tạo nhân lực trình độ cao cho sự nghiệp CNH, HĐH và nâng cao
dân trí; tác động đến sự phát triển của KH và CN, làm tăng sức cạnh tranh của
nền kinh tế; bảo tồn và phát huy những tinh hoa của dân tộc, góp phần tạo nên sự
phát triển nhanh chóng và bền vững của đất nước trong một thế giới hội nhập.
Trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI, chính sách phát triển GDĐH phải
đạt được những mục tiêu sau đây:
Thứ nhất, đa dạng hóa mô hình hệ thống GDĐH. Theo đó, chuyển hệ
thống GDĐH từ chỗ chỉ đào tạo hàn lâm hoặc chủ yếu hàn lâm sang hoạt động
theo mô hình vừa đào tạo hàn lâm, vừa kết hợp với mô hình doanh nghiệp.
Chính sách phát triển GDĐH phải hướng đến việc đào tạo con người Việt Nam
có sức khỏe tốt, phát triển toàn diện về trí tuệ, ý chí, năng lực và đạo đức; có
năng lực tự học, tự đào tạo, năng động, chủ động và sáng tạo; có tri thức và có 178
kỹ năng làm việc toàn cầu; khả năng thích nghi nhanh chóng với môi trường việc
làm không ngường biến đổi. Chính sách phát triển GDĐH phải đặt trọng tâm vào
việc tăng cường đào tạo các kỹ năng về công nghệ, thực hành kỹ thuật; những
kiến thức cơ bản để có thể hiểu biết vững chắc về khoa học, công nghệ; nâng cao
kỹ năng về tư duy để làm sao có được tư duy phê phán và phân tích logic sáng
tạo, mở rộng, linh hoạt và biết sử dụng các kết quả phân tích vào trong thực tiễn để
tìm ra các giải pháp và đưa ra các quyết định; rèn luyện kỹ năng giao tiếp và năng
lực ngoại ngữ hiệu quả. Người học được học và hiểu biết, tôn trọng và tiếp thụ các
nền văn hoá khác nhau để có đủ khả năng hoà nhập với các cộng đồng, dân tộc khác
trên thế giới.
Chính sách phát triển GDĐH khuyến khích và thúc đẩy đổi mới phương
dục chính thống; tạo điều kiện để mở rộng giáo dục sau trung học đáp ứng nhân
lực trình độ cao phù hợp với cơ cấu kinh tế-xã hội của thời kỳ CNH, HĐH; khắc
phục tình trạng mất cân đối về phát triển GDĐH giữa các vùng, miền; sự bất hợp
lý về cơ cấu trình độ, ngành nghề đào tạo; tăng cường năng lực thích ứng với
việc làm trong xã hội, năng lực tự tạo việc làm. Ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực
trình độ cao thỏa mãn đồng thời 3 yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và
bồi dưỡng nhân tài để góp phần phát triển kinh tế xã hội thông qua các hoạt động
giảng dạy, nghiên cứu khoa học, triển khai, tư vấn và phục vụ xã hội. Các cơ sở
giáo dục đại học là các trung tâm trí tuệ và văn hóa của cộng đồng, là nơi sản
sinh và phát triển tri thức, bảo tồn và phát huy những tinh hoa của dân tộc và 180
nhân loại, nơi đề xuất các ý tưởng mới, các dự báo, là tác nhân thúc đẩy tiến bộ
xã hội. GDĐH là hệ thống bao gồm các cơ sở giáo dục thực hiện toàn bộ hoặc
một phần các chương trình giáo dục sau trung học, được tổ chức một cách đa
dạng về mục tiêu, cơ cấu và phương thức đào tạo, về loại hình sở hữu, nguồn lực
huy động. Hệ thống đó phải gắn kết chặt chẽ, có các cấp học và chương trình đào
tạo liên thông với nhau trong và ngoài nước, gồm nhiều đầu vào và đầu ra, đảm
bảo cho mỗi người dân có thể tiếp cận GDĐH theo một phương thức và loại hình
nào đó ở bất cứ lúc nào và không chỉ một lần trong cả cuộc đời. Hệ thống đó
phải phát triển nhanh nhằm sớm đạt quy mô GDĐH đại chúng; phải được chuẩn
hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa và quốc tế hóa theo từng loại hình và đảm bảo chất
lượng để làm nòng cốt cho một xã hội học tập.
Th ba, chuyn phng thc qun lý h thng GDH t tp
trung sang c ch th trng có s qun lý ca nh nc. Cải
cách hả thảng hảnh chính vả điảu hảnh, bao gảm tái
đảnh hảảng mải quan hả chính phả vả trảảng đải hảc, xác
lảp tả cách pháp lý cảa các cả sả GDảH, tảo thêm sả tả chả
cho các trảảng đải hảc đả hả có thả vản hảnh theo nhu
đảy phát triản. GDảH phải phát huy vai trò lảm chả dảa
cho các bảc giáo dảc khác, đảc biảt trong viảc nâng
cao chảt lảảng đải ngả giáo viên vả truyản bá các ý
tảảng mải vả nải dung vả phảảng pháp dảy vả hảc; ngản
ngảa tình trảng chảy máu chảt xám; hản chả nhảng ảnh
hảảng cảa chả nghảa thảc dân, sả bóc lảt vả bảt công
trong viảc khai thác, thả hảảng vả sả hảu nguản tải
nguyên tri thảc mả trí tuả cảa cả dân tảc vả nhân loải
sáng tảo ra trên phảm vi toản cảu.
Thứ tư, chuyển hệ thống GDĐH từ đơn thành phần sở hữu sang đa
thành phần sở hữu. Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập
trung sang thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế, khi vấn đề
nâng cao hiệu quả và chất lượng công tác của tất cả các khâu của nền kinh tế
quốc dân được đặt ra như một nhiệm vụ cấp bách, một nội dung xuyên suốt thì ý 182
nghĩa kinh tế-xã hội của GDĐH được tăng lên một cách đáng kể trên mọi bình
diện. Khi tính đến vai trò quan trọng của trường đại học trong việc phát triển
kinh tế và văn hoá xã hội của đất nước, đẩy nhanh tiến bộ khoa học và công
nghệ, Nhà nước XHCN cần dành không ít những nguồn vốn đầu tư cho GDĐH.
Vì vậy, khối lượng chi phí các nguồn dự trữ vật tư, lao động và tài chính để đào
tạo đội ngũ lao động kỹ thuật trình độ cao cần được tăng lên không ngừng và
mối quan hệ qua lại của trường đại học với quá trình tái sản xuất xã hội cũng
thường xuyên được tăng cường. Để có thước đo sử dụng các nguồn khan hiếm
xã hội một cách hiệu quả nhất cho GDĐH, cần sử dụng những hình thức biểu
hiện của các quy luật kinh tế trong lĩnh vực GDĐH. Việc vận dụng các quy luật
kinh tế không làm biến dạng bản chất của loại dịch vụ hàng hóa công ích của
GDĐH, mà nó làm cho các lĩnh vực hoạt động kinh tế và xã hội (giữa lĩnh vực
sản xuất vật chất và lĩnh vực không sản xuất vật chất vốn có những quan hệ mật
chính sách đổi mới đã hình thành một cách hệ thống và đã được áp dụng trong
thực tiễn phù hợp với nền tảng văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội đặc thù từ cuối
những năm 1980 đến nay. Cùng với việc tăng trưởng của GDP hàng năm, mức
sống của nhân dân đã được cải thiện một bước. Trong lĩnh vực GDĐH, quá độ
sang mô hình kinh tế mới đã hình thành hệ thống chính sách cải cách bước đầu
phản ánh được những biến đổi sâu sắc hoặc đánh giá lại một số khái niệm có tính
truyền thống. Tuy nhiên, việc xây dựng hệ thống chính sách phát triển mới cho 184
GDĐH là một công việc cực kỳ khó khăn, vì hệ thống này đang tồn tại một quán
tính về cấu trúc nặng nề hình thành trong bối cảnh nền kinh tế kế hoạch hóa tập
trung. Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với chính sách phát triển GDĐH trong giai đoạn
hiện nay và một số năm sắp tới là tạo lập những tiền đề và điều kiện cho GDĐH
tiếp tục tự đổi mới để có thể thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của kinh
tế-xã hội. Nhằm đạt được điều đó, việc hoàn thiện chính sách phát triển GDĐH
trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI cần tập trung vào giải những vấn đề
sau đây:
3.2.1. Thúc đẩy tăng trưởng về quy mô, số lượng sản phẩm giáo dục
đại học đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội
Th nht, v quy mô, GDảH lả hả thảng bao gảm các cả
sả giáo dảc thảc hiản toản bả hoảc mảt phản các chảảng
trình giáo dảc sau trung hảc, đảảc tả chảc mảt cách
đa dảng vả mảc tiêu, cả cảu vả phảảng thảc đảo tảo, vả
loải hình sả hảu, nguản lảc huy đảng. Hả thảng đó phải
có các cảp hảc vả chảảng trình đảo tảo liên thông vải
nhau ả cả trong vả ngoải nảảc, gảm nhiảu đảu vảo vả đảu
ra, đảm bảo cho mải ngảải dân có thả tiảp cản GDảH theo
mảt phảảng thảc vả loải hình nảo đó ả bảt cả lúc nảo vả
không chả mảt lản trong cả cuảc đải. Các cả sả GDảH phải
bản vẫn giữ cơ cấu trình độ theo mô hình 4+2+3 (cử nhân 4, thạc sĩ 2, tiến sĩ 3
năm). Hướng nghề nghiệp-thực hành thiết kế cơ cấu trình độ theo mô hình
2+2+1+1+3, tức là thực hiện phân đoạn thời gian đào tạo thành nhiều giai đoạn
(chương trình đại học: 2+2; cao học: 1+1) để tăng thêm cơ hội học tập và phân
tầng trình độ nhân lực được đào tạo. Ưu tiên phát triển quy mô đào tạo theo
hướng nghề nghiệp-thực hành. 186
- Mở rộng quy mô giai đoạn đầu, các chương trình cao đẳng và thu hẹp
quy mô các giai đoạn tiếp sau nhằm nâng cao chất lượng, đảm bảo cơ cấu hình
tháp về trình độ nhân lực đáp ứng nhu cầu sử dụng. Quy định sự tương đương
trình độ và chuyển đổi giữa hướng nghiên cứu- triển khai và hướng nghề nghiệp-
thực hành ở mọi trình độ sau trung học.
- Phân chia hệ thống cơ sở GDĐH theo chức năng và củng cố từng bộ
phận: chuyển một bộ phận lớn hệ thống trung học chuyên nghiệp sang cao đẳng
kỹ thuật với bằng cử nhân cao đẳng kỹ thuật 2 năm; củng cố và phát triển các
trường cao đẳng cộng đồng trên cơ sở xác định rõ mục tiêu phương thức thành
lập, đầu tư, phương thức hoạt động đáp ứng nhu cầu học tập của từng cộng đồng,
phục vụ nhu cầu phát triển KT-XH tại địa phương; xây dựng trường đại học kiểu
mới, hiện đại đạt trình độ tiên tiến trong khu vực làm hình mẫu cho hệ thống
GDĐH.
- Thành lập các trường đào tạo sau đại học trong các cơ sở nghiên cứu
khoa học cấp quốc gia và chuyển các viện này thành các trường đại học nghiên
cứu; sáp nhập một số viện, cơ sở nghiên cứu chuyên ngành vào các trường đại
học; xây dựng các viện, trung tâm nghiên cứu trọng điểm quốc gia trong các
trường đại học hàng đầu; xây dựng các trường đại học trong các doanh nghiệp
lớn để tăng cường việc gắn đào tạo với sử dụng.
- Phát triển các trường đại học mở và hệ thống đào tạo từ xa ở quy mô
188
viện nghiên cứu, thư viện quốc gia và các phòng thí nghiệm trọng điểm để
giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh có điều kiện thực hiện
nghiên cứu.
Thứ ba, về cơ cấu ngành nghề, xuất phát từ thực tế và yêu cầu nâng cao
trình độ và tiềm lực khoa học và công nghệ quốc gia, ưu tiên phát triển một số
ngành trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn; công nghệ
thông tin; công nghệ cơ điển tử và tự động hoá; công nghệ sinh học; công nghệ
vật liệu mới; một số ngành/nghề kỹ thuật và công nghệ đáp ứng yêu cầu CNH và
HĐH; giáo viên và chuyên gia trình độ cao trong lĩnh vực dịch vụ. Điều chỉnh cơ
cấu sinh viên giữa các ngành nghề theo hướng tăng tỷ trọng sinh viên các ngành
khoa học cơ bản (tự nhiên và xã hội); công nghệ-kỹ thuật và nông-lâm-ngư.
Thứ tư, tiếp tục phát triển cơ cấu nhiều thành phần trong hệ thống
GDĐH. Hệ thống trường đại học sẽ bao gồm trường công lập; trường tư thục và
trường có vốn đầu tư nước ngoài (100% vốn hoặc liên kết, liên doanh).
Thứ năm, hoàn thiện cơ cấu vùng miền theo hướng ở thành thị, ưu tiên
thành lập các cơ sở mới có đủ tiềm lực và điều kiện, không dựa trên nâng cấp
các cơ sở đã có sẵn; khuyến khích thành lập các trường đào tạo những
ngành/nghề thuộc lĩnh vực công nghiệp; bảo đảm hợp lý cơ cấu trình độ giữa
tiến sỹ, thạc sỹ, đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề; cơ cấu
ngành nghề giữa khoa học cơ bản, khoa học kỹ thuật-công nghệ và các ngành
nghề khác; khắc phục tình trạng có nhiều cơ sở đào tạo đơn ngành hẹp, đồng thời
bảo đảm khả năng liên thông giữa các loại hình, các trình độ đào tạo. khuyến
khích và hỗ trợ các nhà đầu tư trong và ngoài nước thành lập trường tư thục