Tải Đề thi học kì 2 môn Ngữ văn lớp 12 năm 2017 - 2018 Sở GD&ĐT Bình Phước - Đề thi học kì 2 môn Ngữ văn lớp 12 - Pdf 71

<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>

<b>Đề thi học kì 2 mơn Ngữ văn lớp 12 năm 2017 - 2018 Sở GD&ĐT Bình</b>
<b>Phước</b>


<b>GỢI</b>
<b>Ý</b>
<b>LÀM</b>
<b>BÀI</b>


<b>I. ĐỌ</b>
<b>C</b>
<b>HIỂU</b>
<b>(2,0</b>
<b>điểm)</b>
<b>Câu 1.</b>
Xác
định


phương thức biểu đạt và thao tác lập luận chính được tác giả sử dụng trong đoạn trích
trên?


Gợi ý đáp án:


Nếu đề yêu cầu xác định phương thức biểu đạt và thao tác lập luận (nói chung) thì HS
có thể trả lời theo nhiều đáp án; nhưng vì là “Xác định phương thức biểu đạt và thao
tác lập luận chính” nên học sinh (HS) chỉ có thể đưa ra 1 đáp án chính là:


- Phương thức biểu đạt nghị luận/ Nghị luận.


</div>
<span class='text_page_counter'>(2)</span><div class='page_container' data-page=2>

<b>Câu 2. Trong đoạn trích trên người cha đã nhắn nhủ con những điều gì?</b>
Gợi ý đáp án:



- HS trình bày rõ ràng, nêu ra căn cứ để thuyết phục quan điểm của mình:


- HS có thể lựa chọn đồng tình, và lí giải 2 ý của câu hỏi:


Chú ý: HS có thể bám theo cách lí giải ở những câu sau đó:


- Ý 1: “Không phải tất cả những người thành công đều học hành đến nơi đến chốn” –
điều này đúng; bởi có rất nhiêu những người thành cơng (có địa vị trong xã hội, có
tiền bạc, có hạnh phúc...) mà họ lại có q khứ học hành khơng tốt, thậm chí là tồi tệ.
(HS có thể nêu 1 vài dẫn chứng).


</div>
<span class='text_page_counter'>(3)</span><div class='page_container' data-page=3>

<b>Câu 4. Thơng điệp chính mà người cha muốn gửi gắm cho người con qua đoạn trích</b>
trên là gì?


Gợi ý đáp án:


HS có thể rút ra những thơng điệp mà người cha muốn gửi gắm cho người con; cụ thể
có thể nói đến những thơng điệp như:


- Trong cuộc sống, mọi điều đều có thể xảy đến (có thể là những điều tồi tệ, cũng có
thể là những điều tốt đẹp); cần thận trọng đón nhận nó bằng những hiểu biết và kinh
nghiệm của bản thân.


- Kiến thức là tài sản lớn lao và quý giá. Mỗi người cần tự học tập, rèn luyện và tích
lũy kiến thức và kĩ năng sống.


- Tương lai cuộc sống của mỗi người đều do mỗi người lựa chọn, không thể đổ lỗi cho
hoàn cảnh hay cho một ai khác.


- Cuộc sống có khi khơng cơng bằng, khơng như những gì chúng ta muốn; nên nếu


Tương lai cuộc sống của mỗi người đều do mỗi người lựa chọn, không thể đổ lỗi cho
hoàn cảnh hay cho một ai khác. Cuộc sống có khi khơng cơng bằng, khơng như những
gì chúng ta muốn; nên nếu chỉ nhìn cuộc sống “màu hồng” thì bạn sẽ có lúc phải chấp
nhận những đau khổ, thất vọng….


+ Bàn bạc mở rộng vấn đề, đưa ra phản đề: một số người con sống chưa biết chia sẻ
thấu cảm với những hy sinh của cha mẹ, sống thực dụng, ích kỉ cá nhân; một số bạn
trẻ cịn chưa lựa chọn và định hướng được cuộc sống đúng đắn; có nhiều bạn cịn “ảo
tưởng” nhìn cuộc sống…


- Liên hệ thực tế cuộc sống của bản thân: Lựa chọn cuộc sống của bản thân; điều
chính thái độ sống tích cực ra sao?


<b>Câu 2: (6,0 điểm).</b>
Gợi ý đáp án:


1. Yêu cầu hình thức: HS đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận; diễn đạt rõ ràng, hành
văn mạch lạc lập luận chặt chẽ; liên hệ so sánh phù hợp; dùng từ, đặt câu, viết chính
tả chuẩn mực... diễn đạt rõ ràng.


2. Xác định yêu cầu của đề: Thông qua đoạn văn bản trong đề bài HS tập trung làm rõ
2 vấn đề:


- Cảm nhận được tình yêu thương của người mẹ trong đoạn văn


- Nhận xét giá trị nhân đạo của Kim Lân trong đoạn trích này.


3. Yêu cầu nội dung: HS triển khai vấn đề nghị luận tập trung, hiệu quả.



lặng”.


- Bà liên tưởng đến bao cơ sự “xót thương” cho số kiếp của đứa con mình.


- Bà cụ Tứ nghĩ đến gia cảnh mà thêm buồn ủi. Tiếng than, tiếng thở dài như tràn qua
dòng nước mắt. Thương con, thương cho số phận mình, những tháng năm dài dằng
dặc với bao chuyện buồn.


Bà thương mình trải qua một cuộc đời đầy cay đắng: “Chao ôi! Người ta dựng vợ gả
chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái nở mặt
sau này. Cịn mình thì...”. Nạn đói đang đe dọa. Bà phấp phỏng lo âu: “Chúng nó có
ni nổi nhau sống qua được cơn đói khát này khơng!".


- Bà cụ Tứ lo lắng thực sự cho con trai, con dâu, lo cho cái gia đình nghèo túng của bà
giữa lúc đói kém này liệu có ni nổi nhau? Tương lai rồi sẽ ra sao... Bà chấp nhận
cái “hạnh phúc” ối oăm éo le của gia đình. Ngẫm cái phận nghèo bà tự nhủ: “Có gặp
bước khó khăn, đói khổ này người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ
được..”.


Bà chỉ biết khun con, khun dâu thương yêu nhau, ăn ở hoà thuận với nhau để
cùng vượt qua cơn khốn khó. Đó là nỗi lo, nổi thương của người mẹ từng trải, hiểu
đời có tấm lịng sâu thẳm đối với mình.


- Trong sự lo lắng tủi hờn vẫn nhen nhóm một niềm tin, bà nói những câu động viên
an ủi chân tình như: “ai giàu ba họ ai khó ba đời”; “có ra thì con cái chúng mày về
sau”…


- Bà liên tưởng đến người chồng quá cố, đến đứa con gái đã qua đời, lòng bà trĩu nặng
tủi buồn, xót xa. Một đời người trải qua nhiêu đau khổ, mất mát, cay đắng, bà lấy làm
xót xa, thấy mình làm mẹ mà khơng trịn bổn phận với con.

- Khẳng định những phẩm chất đáng quý, đáng trân trọng của người nơng dân: nổi bật
đó là tình yêu thương, tình mẫu tử sâu sắc. Ở bà cụ Tứ là hiện thân của người mẹ
nghèo khổ, từng trải, hiểu biết với những nét đạo lí truyền thống đáng q. Bên cạnh
đó đoạn văn cịn khắc họa niềm vui, niềm lạc quan, nung nấu một khái vọng về cuộc
sống gia đình hạnh phúc của những người dân nghèo trong hồn cảnh nạn đói.


C. Tóm lược, đánh giá vấn đề: Qua đoạn văn trên; với những diễn biến tâm trạng
phức tạp của bà cụ Tứ, nhà văn đã tập trung thể hiện tình u thương con bà; qua đó
khái qt những giá trị nhân đạo sâu sắc.


</div>

<!--links-->


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status