CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNGVỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP - Pdf 71

CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNGVỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN
VẬT LIỆU TẠI CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
I. ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XÂY LẮP CÓ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU :
Sản xuất xây dựng cơ bản là một hoạt động quan trọng tạo ra cơ sở vật
chất kĩ thuật mới cho mọi ngành dưới hình thức mở rộng, khôi phục, hiện đại hoá
các công trình giao thông, thuỷ lợi, thuỷ điện, các khu công nghiệp, các công trình
quốc phòng và các công trình khác.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của các ngành khác, ngành xây dựng cơ
bản ngày càng thích nghi và khẳng định được vị trí của mình trong nền kinh tế
quốc dân. Điều này được thể hiện ở sự ra đời của nhiều doanh nghiệp xây lắp dưới
nhiều hình thức khác nhau như: Các tổng công ty xây lắp ( doanh nghiệp nhà
nước), các công ty trách nhiệm hữu hạn (doanh nghiệp tư nhân), các công ty xây
lắp liên doanh... Tuy khác nhau về quy mô sản suất, hình thức quản lý nhưng các
doanh nghiệp đều phải đảm bảo yêu cầu nguyên tắc tổ chức kế toán một đơn vị sản
xuất, đó là: Ghi chép, phản ánh đầy đủ hoạt động của doanh nghiệp từ những yếu
tố đầu vào của quá trình sản xuất cho đến khi nó chuyển toàn bộ giá trị vào sản
phẩm xây lắp và xác định kết quả hoạt động.
Nguyên vật liệu có vị trí hết sức quan trọng trong các doanh nghiệp xây lắp,
chi phí về nguyên vật liệu thường chiếm tỉ trọng lớn trong tổng giá trị công trình.
Tuỳ theo mỗi công trình với yêu cầu kĩ thuật kết cấu, địa điểm khác nhau đòi hỏi
số lượng, chủng loại, quy cách nguyên vật liệu khác nhau. Điều này được xác định
cụ thể trên từng thiết kế, dự toán của từng đối tượng thi công xây lắp riêng biệt. Do
sản xuất xây lắp là một loại sản phẩm công nghiệp đặc biệt theo đơn hàng, sản
phẩm xây lắp mang tính chất riêng lẻ nên chi phí nguyên vật liệu để thi công xây
lắp các công trình có nội dung và cơ cấu đồng bộ như các sản phẩm công nghiệp.
Mặt khác, đối tượng sản xuất xây dựng cơ bản thường có khối lượng lớn, giá trị
cao, thời gian thi công thường kéo dài nên cần phải lập dự toán vật liệu một cách kĩ
càng, tránh các trường hợp nguyên vật liệu có thể bị biến động vì thời gian thi công
dài. Đồng thời phải tổ chức tốt kho tàng, bến bãi, thực hiện chế độ bảo quản đối
với từng nguyên vật liệu vì sản xuất xây dựng cơ bản thường xuyên diễn ra ngoài

phận vật liệu (vật liệu luân chuyển) không mang những đặc điểm trên. Vật liệu
luân chuyển có thể tham gia vào một số kì kinh doanh hoặc một số công trình giữ
nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó có thể được chuyển vào chi phí
kinh doanh của một hoặc một số kì kinh doanh.
2. Phân loại và đánh giá nguyên vật liệu:
2.1. Phân loại nguyên vật liệu:
Trong các doanh nghiệp xây lắp, nguyên vật liệu bao gồm nhiều loại, thứ, với
nội dung kinh tế, công dụng, tính năng lí hoá và yêu cầu quản lý khác nhau.Vì
vậy, để quản lý chặt chẽ từng loại, thứ nguyên vật liệu phục vụ cho công tác quản
trị doanh nghiêp cần thiết phải tiến hành phân loại nguyên vật liệu.
* Nhìn chung, trong các doanh nghiệp xây lắp, căn cứ vào vai trò và yêu cầu
quản lý, nguyên vật liệu được chia thành các loại sau:
- Nguyên liệu, vật liệu chính: Là những loại nguyên liệu, vật liệu khi tham
gia vào quá trình sản xuất nó cấu thành thực thể vật chất của sản phẩm xây lắp
như: gạch, cát, đá, sỏi, xi măng... trong nguyên vật liệu chính bao gồm cả bán
thành phẩm mua ngoài. Đó là các chi tiết, bộ phận của sản phẩm mà doanh nghiệp
mua của các đơn vị khác để tiếp tục sản xuất chế biến thành sản phẩm hàng hoá
của doanh nghiệp.
- Vật liệu phụ: Là những loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất
không cấu thành thực thể chính của sản phẩm, mà nó có thể kết hợp với nguyên
liệu, vật liệu chính làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dáng bề ngoài của sản phẩm
hoặc tạo điều kiện cho quá trình chế tạo sản phẩm được thực hiện bình thường.
- Nhiên liệu: Cũng là vật liệu phụ nhưng do có tính chất lí hoá đặc biệt và có
vai trò quan trọng trong sản xuất kinh doanh nên được xếp thành một loại riêng để
có chế độ bảo quản, sử dụng thích hợp. Nhiên liệu là loại vật liệu có tác dụng cung
cấp nhiệt năng cho quá trình sản xuất kinh doanh. Nhiên liệu bao gồm các loại ở
thể lỏng, khí, rắn như xăng, dầu, than, củi, hơi đốt để phục vụ cho công nghệ sản
xuất sản phẩm cho các phương tiện, máy móc thiết bị hoạt động.
- Phụ tùng thay thế: Là các chi tiết, bộ phận dùng để thay thế, sửa chữa máy
móc, thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải...

các doanh nghiệp sản xuất được thực hiện trên cơ sở xây dựng và lập sổ danh điểm
vật liệu, trong đó vật liệu được chia thành nhóm, loại, thứ và mỗi loại nhóm thứ
được sử dụng một kí hiệu riêng gọi là sổ danh điểm vật liệu và được sử dụng thống
nhất trong phạm vi doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho các bộ phận, đơn vị trong
phạm vi doanh nghiệp phối hợp chặt chẽ trong công tác quản lý vật liệu. Mỗi loại
vật liệu sử dụng một số trang trong sổ danh điểm vật liệu để ghi đủ các nhóm thứ
vật liêụ thuộc loại vật liệu đó.
2.2. Đánh giá nguyên vật liệu: Đánh giá nguyên vật liệu là xác định giá trị của
nguyên vật liệu theo những nguyên tắc nhất định. Về nguyên tắc kế toán nhập,
xuất, tồn kho nguyên vật liệu phải phản ánh theo giá trị thực tế.
2.2.1. Giá thực tế nhập kho:
Tuỳ theo từng nguồn nhập mà cấu thành giá thực tế của nguyên vật liệu có
sự khác nhau, cụ thể:
-Đối với nguyên vật liệu mua ngoài: Có hai trường hợp
+Nếu nguyên vật liệu mua để dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh
thuộc đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ:
Trị giá thực tế
của nguyên
vật liệu nhập
kho trong kì
=
Trị giá mua trên
hoá đơn (không
bao gồm thuế
GTGT )
+
Thuế
nhập
khẩu
( nếu có)

tiếp phát
sinh trong
khâu mua
-
Các khoản
giảm giá
và trị giá
hàng mua
trả lại
-Đối với NVL mua ngoài gia công chế biến:
Trị giá thực tế của NVL gia
công nhập kho trong kỳ
=
Trị giá thực tế của NVL xuất
gia công chế biến
+
Chi phí chế
biến
- Đối với NVL thuê ngoài gia công chế biến:
Trị giá thực tế của NVL gia
công nhập kho trong kỳ
=
Trị giá thực tế của NVL
xuất gia công chế biến
+
Chi phí
chế biến
+
Tiền công
gia công

b) Phương pháp giá thực tế đích danh: Theo phương pháp này giá thực tế NVL
xuất kho được tính trên cơ sở số lượng NVL xuất kho và đơn giá thực tế nhập kho
của chính lô NVL xuất kho đó. Phương pháp này thường được áp dụng đối với
những loại vật liệu đặc chủng, có giá trị cao, công thức tính:
Trị giá thực tế của
NVL xuất kho
=
Số lượng NVL
xuất kho
x
Đơn giá thực tế của
từng lô hàng
c)Phương pháp giá thực tế nhập trước xuất trước: Theo phương pháp này kế
toán phải theo dõi được đơn giá thực tế và số lượng của từng lô hàng nhập kho.
Sau đó, khi xuất kho căn cứ vào số lượng xuất tính ra giá thực tế theo công thức:
Trị giá thực tế của
NVL xuất kho
=
Số lượng NVL
xuất kho
x
Đơn giá thực tế của
từng lô hàng
Khi nào xuất hết số lượng của lô hàng nhập trước thì nhân với đơn giá thực
tế của lô hàng nhập tiếp theo. Như vậy, theo phương pháp này giá thực tế của NVL
tồn kho cuối kỳ là giá thực tế của NVL nhập kho thuộc các lần mua sau cùng.
d) Phương pháp giá thực tế nhập sau xuất trước: Theo phương pháp này kế
toán cũng phải theo dõi được đơn giá thực tế và số lượng của từng lô hàng nhập
kho. Sau đó khi xuất kho căn cứ vào số lượng xuất kho để tính trị giá thực tế của
NLV xuất kho theo công thức:

nhập kho trong kỳ
Trị giá hạch toán của
NVL tồn kho đầu kỳ
+
Trị giá hạch toán của
NVL nhập kho

Trị giá thực tế của NVL
xuất kho trong kỳ
=
Trị gía hạch toán của
NVLxuất kho trong kỳ
x
Hệ số giữa giá thực tế
và giá hạch toán
Tuỳ thuộc vào đặc điểm yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp mà hệ
số giá vật liệu có thể tính riêng cho từng thứ, nhóm hoặc toàn bộ vật liệu.
Mỗi phương pháp tính giá NVL có nội dung, ưu nhược điểm và điều kiện áp
dụng phù hợp nhất định. Doanh nghiệp phải căn cứ vào hoạt động sản xuất kinh
doanh, vào yêu cầu quản lý và trình độ của đội ngũ cán bộ kế toán để lựa chọn và
đăng ký một phương pháp phù hợp. Phương pháp tính giá đã đăng ký phải được sử
dụng nhất quán trong niên độ kế toán.
III/.Nội dung công tác kế toán nguyên vật liệu
1/. Các phương pháp hạch toán nguyên vật liệu
Hạch toán chi tiết giúp cho các doanh nghiệp quản lý một cách chi tiết về
mặt số lượng, chủng loại NVL. Nhưng để đáp ứng được yêu cầu quản lý, đánh giá
được tình hình sản xuất kinh doanh cần phải có những thông tin chuẩn xác hơn, do
vậy cần phải hạch toán tổng hợp NVL.
Như chúng ta đã biết, NVL là tài sản cố định, thuộc nhóm hàng tồn kho của
doanh nghiệp. Nó được nhập - xuất kho thường xuyên nên phải có phương thức

kiểm kê phát hiện khi kiểm kê

Dự nợ:
Trị giá thực tế của
nguyên liệu, vật liệu tồn
kho
TK 152 có 6 TK cấp hai:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status