Luận văn tốt nghiệp: "Một số giải pháp phát triển thị trường hàng hoá của tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2010" - Pdf 71



Luận văn tốt nghiệp:
"Một số giải pháp phát triển thị trường hàng
hoá của tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2010"
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
Chương I : Đặc điểm kinh tếLuận Văn - Đề Án - Tiểu Luận Kinh Tế - xã hộiLuận
Văn - Đề Án - Tiểu Luận Xã Hội Vĩnh Phúc và yêu cầu phát triển thị trường hàng
hoá - dịch vụ 3
I. Nghiên cứu thị trường và vai trò của thị trường với sự phát triển hàng hoá - dịch vụ 3
1.1. Khái niệm thị trường 3
1.2 Nghiên cứu thị trường 3
1.3. Vai trò của nghiên cứu thị trường với việc phát triển thị trường hàng hoá dịch vụ 4
II. Đặc điểm kinh tế xã hội và điều kiện phát triển thị trường hàng hoá dịch vụ tỉnh Vĩnh
Phúc 7
1. Mục tiêu nghiên cứu thị trường hàng hoá dịch vụ 7
2. Những đặc điểm của tỉnh Vĩnh Phúc ảnh hưởng tới sự phát triển hàng hoá - dịch vụ 9
III. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội Vĩnh Phú và sự cần thiết phát triển thị
trường hàng hoá - dịch vụ 16
1. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 16
2. Sự cần thiết phát triển thị trường hàng hoá - dịch vụ tỉnh Vĩnh Phúc 18
I. Khái quát sự hình thành và phát triển của tỉnh Vĩnh Phúc 20
II. Thực trạng thị trường hàng hoá - dịch vụ tỉnh Vĩnh Phúc 20
III. Đánh giá chung về thị trường hàng hoá - dịch vụ 27
CHƯƠNG III 30
Một số giải pháp phát triển thị trường hàng hoá - dịch vụ vĩnh phúc đến 2010 30
I. Dự báo nhu cầu hàng hoá - dịch vụ tỉnh Vĩnh Phúc 30
II. Định hướng phát triển thị trường hàng hoá - dịch vụ Vĩnh Phúc 33
III. Một số giải pháp nhằm phát triển thị trường hàng hoá - dịch vụ tỉnh Vĩnh Phúc năm
2010 36

nhu cầu là rất thiết yếu. Vì vậy em xin mạnh dạn chọn đề tài "Một số giải
pháp phát triển thị trường hàng hoá của tỉnh Vĩnh Phúc đến năm
2010".
Với thời gian thực tập ngắn và trình độ bản thân còn có hạn nên
trong bài báo cáo thực tập này không tránh khỏi những thiếu xót. Vậy em
rất mong nhận được sự góp ý nhận xét của các thầy, cô các cán bộ CNVC
trong Sở kế hoạch - đầu tư Vĩnh Phúc để bài báo cáo của em được đầy đủ
và hoàn thiện hơn.
Qua đây em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể thầy cô giáo
khoa Thương mại , đặc biệt là thầy giáo TS Trần Hoè đã trực tiếp , tận tình
hướng dẫn tôi làm báo cáo thực tập và tập thể CBCNV Sở kế hoạch - Đầu
tư Vĩnh Phúc đã giúp đỡ tôi hoàn thành báo cáo thực tập này.
Chương I : Đặc điểm kinh tế - xã hội Vĩnh Phúc và yêu cầu phát
triển thị trường hàng hoá - dịch vụ
I. Nghiên cứu thị trường và vai trò của thị trường với sự phát triển
hàng hoá - dịch vụ
1.1. Khái niệm thị trường :
Ban đầu thuật ngữ thị trường "được hiểu là nơi mà người mua và
người bán gặp nhau để trao đổi hàng hoá. Theo định nghĩa này , thị trường
được thu hẹp ở "cái chợ". Các nhà kinh tế sử dụng thuật ngữ thị trường để
chỉ tập thể người mua, người bán giao dịch với nhau về một sản phẩm hay
một lớp sản phẩm cụ thể như : thị trường nhà đất, thị trường rau quả, thị
trường lao động.....
Sự phát triển của sản xuất làm cho quá trình lưu thông trở nên phức
tạp. Các quan hệ mua - bán không còn chỉ đơn giản là "tiền trao, cháo múc"
nữa mà đa dạng và phong phú nhiều kiểu hình khác nhau. Định nghĩa thị
trường cổ điển ban đầu không còn bao quát hết được. Nội dung mới được
đưa vào phạm trù thị trường. Theo định nghĩa hiện đại, thị trường là quá
trình người mua, người bán tác động qua lại để xác định giá cả và sản
lượng hàng hoá mua bán. Như vậy thị trường là tổng thể các quan hệ về lưu

trung mọi nỗ lực của mình vào kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu khách
hàng và tồn tại trong sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường. Luôn luôn xem
xét đánh giá thị trường với những biến động không ngừng của nó. Sự hiểu
biết sâu sắc về thị trường sẽ tạo điều kiện cho các nhà sản xuất kinh doanh
phản ứng với những biến động của thị trường một cách nhanh nhạy và có
hiệu quả. Nghiên cứu thị trường là xuất phát điểm để hoạch định chiến lược
kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó tiến hành lập ra các chiến lược kinh
doanh và chính sách thị trường.
Có thể nói nghiên cứu thị trường là chìa khoá của sự thành công, nó
có vai trò vô cùng quan trọng, đã có rất nhiều công ty, các hãng khác nhau
đã trở nên phát đạt và nổi tiếng nhờ chú trọng đến hoạt động nghiên cứu thị
trường.
2.2 Vị trí của công tác nghiên cứu thị trường.
Để thấy được vị trí của nghiên cứu thị trường ta có thể bắt đầu từ
việc so sánh hai quan điểm : Quan điểm bán hàng và quan điểm Marketing.
Quan điểm tập trung vào bán hàng khẳng định rằng : Người tiêu
dùng thường bảo thủ và do đó có sức ỳ hay thái độ ngần ngại chần chừ
trong việc mua sắm hàng hoá. Vì vậy, để thành công doanh nghiệp cần phải
tập trung mọi nguồn lực và sự cố gắng vào việc thúc đẩy tiêu thụ và khuyến
mại.
Theo quan điểm này thì yếu tố quyết định sự thành công của doanh
nghiệp là tìm mọi cách tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ đã được sản xuất
ra. Từ đó yêu cầu các nhà quản trị doanh nghiệp cần phải đầu tư nhiều hơn
cho khoản tiêu thụ và khuyến mại.
Trong khi đó, quan điểm Marketing khẳng định : chìa khoá để đạt
được những mục tiêu trong kinh doanh của doanh nghiệp là doanh nghiệp
phải xác định đúng những nhu cầu và mong muốn của thị trường (khách
hàng) mục tiêu, từ đó tìm mọi cách bảo đảm sự thoả mãn nhu cầu và mong
muốn đó bằng những phương thức có ưu thế hơn so với đối thủ cạnh tranh.
Theo Doe Levit , sự tương phản sâu sắc giữa quan điểm bán hàng và

thị trường nguồn hàng hay người cung cấp chúng ta cần xem xét ký kết
nhiều yếu tố: đặc điểm của nguồn sản xuất , tổ chức sản xuất, phương thức
bán và chính sách tiêu thụ của nguồn cung ứng, mối quan hệ bán hàng, chi
phí vận chuyển hàng hoá và thoả thuận của người cung ứng với hãng khác
để cung ứng hàng hoá nhưng quan trọng hơn là cả thị trường bán hàng.
Thực chất nghiên cứu thị trường là nghiên cứu khách hàng cuối cùng cần
hàng hoá sử dụng để làm gì? Nghiên cứu khách hàng trung gian có nhu cầu
và khả năng đặt hàng như thế nào? có thể nói nghiên cứu thị trường bán
hàng như một công cụ khoa học để tìm hiểu mà khách hàng mong muốn
cũng như xác định lượng cung ứng đối v sản phẩm, dịch vụ và giá cả ; việc
suy đoán khách hàng mong muốn loại hàng hoá nào đó với số lượng nào đó
là một khách hàng việc làm không có cơ sở khoa học, rất dễ sai lầm.
Nhìn chung, vai trò của nghiên cứu thị trường được thể hiện cụ thể
như sau :
Trong điều kiện hoạt động ít có hiệu quả, nghiên cứu thị trường có
thể phát hiện các nguyên nhân gây ra tình trạng trên, từ đó đưa cách khắc
phục bằng cách loại bỏ hay cải tiến cách làm cũ.
- Nghiên cứu thị trường nhằm thu thập các thông tin cần thiết cho
việc tìm kiếm những cơ hội kinh doanh mới bên thị trường và khai thác
triệt để thời cơ khi chúng xuất hiện. Tiềm năng của doanh nghiệp được tận
dụng tối đa nhằm khai thác có hiệu quả cơ hội kinh doanh trên thị trường.
- Nghiên cứu thị trường cung cấp cho doanh nghiệp những thông tin
nhằm tránh và giảm bớt những rủi ro do sự biến động không ngừng của thị
trường đến hoạt động kinh doanh đồng thời đề ra những biện pháp ứng phó
kịp thời đối với những biến động đó.
- Thông qua nghiên cứu thị trường để thu thập thông tin cần thiết
phục vụ cho hoạch định chiến lược và kế hoạch Marketing , tổ chức và thực
hiện.
- Nghiên cứu thị trường hỗ trợ cho mọi hoạt động kinh doanh của
công ty thông qua việc nghiên cứu thái độ của người tiêu thu đối với sản

Nhưng quan trọng hơn cả là thị trường bán hàng của doanh nghiệp .
Thực chất nghiên cứu thị trường là nghiên cứu khách hàng cuối cùng cần
hàng hoá sử dụng để làm gì. Nghiên cứu khách hàng trung gian có nhu cầu
khả năng đặt hàng. Trên địa bàn doanh nghiệp đa dạng và sẽ hoạt động;
doanh nghiệp cần biết thị phần của mình là bao nhiêu để đáp ứng phù hợp
với nhu cầu thị trường; khả năng khách hàng và khách hàng lại sẽ mua
hàng của doanh nghiệp trong từng thời gian trên từng địa bàn.
Nghiên cứu thị trường là quá trình thu thập điều tra, tổng hợp số liệu
thông tin về các yếu tố cấu thành thị trường, tìm hiểu quy luật vận động và
những nhân tố ảnh hưởng đến thị trường ở một thời điểm nhất định trong
lĩnh vực lưu thông để từ việc xử lý các thông tin rút ra các kết luận và hình
thành các quyết định đúng đắn cho việc xây dựng chiến lược kinh doanh.
Từ khi chuyển sang cơ chế mới, cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước. Nhà nước xoá bỏ chế độ phân phối, bao cấp thay vào đó là việc
thương mại hoá các quna hệ kinh tế. Lúc này doanh nghiệp muốn tồn tại
và phát triển được thì phải tổ chức hoạt động kinh doanh của mình như thế
nào cho có lãi; Và muốn như vậy trước hết doanh nghiệp phải bán hàng,
hàng hoá càng bán được nhiều thì khả năng sinh lãi càng cao. Muốn bán
được hàng thì cần phải bán cái thị trường cần điều này doanh nghiệp chỉ có
thể biết thông qua việc nghiên cứu thị trường. Nghiên cứu thị trường cho
phép doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh thích ứng với thị trường
của các sản phẩm mà mình kinh doanh. Trong cơ chế thị trường , sự cạnh
tranh là vô cùng quyết liệt. Doanh nghiệp nào không có khả năng thích ứng
và chiến thắng các đối thủ cạnh tranh của mình thì tất yếu dẫn đến thua lỗ
phá sản. Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì nhất thiết phải
tiếp cận và nghiên cứu thị trường, nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh thị
trường.
Như vậy tổ chức nghiên cứu thị trường là vô cùng quan trọng và cần
thiết trong hoạt động kinh doanh. Mặt khác khi muốn mở rộng kinh doanh ,
doanh nghiệp phải nghiên cứu thị trường nhằm giải đáp những vấn đề :

lộ 2 từ 5 tỉnh miền núi phía Bắc chạy dọc qua sân bay quốc tế Nội Bài về
Hà Nội, nối với quốc lộ 5 đi cảng Hải Phòng, quốc lộ 18 đi cảng Cái Lân
(Quảng Ninh). Đường sắt Hà Nội - Lào Cai đi Vân Nam (Trung Quốc)
chạy dọc tỉnh, nối đường sắt Hà Nội - Hải Phòng. Hà Nội - Lạng Sơn - Hà
Nội - TP Hồ Chí Minh . Hệ thống đường sông từ cảng Chu Phan, Vĩnh
Thịnh bên sông Hồng, đảm bảo cho các tàu có trọng tải từ 500 - 1000 tấn đi
Hà Nội - Hải Phòng, Quảng Ninh.
Do đặc điểm vị trí địa lý Vĩnh Phúc có 3 vùng sinh thái : đồng bằng,
trung du và miền núi rất thuận lợi cho việc phát triển các ngành kinh tế và
du lịch.
2.1.1 Đồng bằng :
Vùng đồng bằng gồm 76 xã - phường - thị trấn thuộc lãnh thổ các
huyện Vĩnh Tường , Yên Lạc, 21 xã của huyện Mê Linh và 6 xã của Bình
Xuyên và 3 xã của Tam Dương. Tổng diện tích là 46,8 nghìn ha trong đó
diện tích đất nông nghiệp là 32,9 nghìn ha.
2.1.2 Trung du :
Vùng trung du gồm 8 xã của huyện Tam Dương và 6 xã của huyện
Bình Xuyên, 10 xã của Lập Thạch, 6 phường của thị xã Vĩnh Yên và 2 xã
của Mê Linh.
Tổng diện tích là 24,9 nghìn ha trong đó đất nông nghiệp chiếm
14.000 ha.
2.1.3 Vùng miền núi :
Chiếm phần lớn huyện Lập Thạch (gồm 28 xã) , 7 xã của huyện Tam
Dương, 2 xã của huyện Bình Xuyên, 1 xã của Mê Linh , 1 thị trấn của thị
xã Vĩnh Yên.
Tổng diện tích 65,3 nghìn ha trong đó đất nông nghiệp chỉ có 17,4
nghìn ha, đất lâm nghiệp 20,3 nghìn ha.
Địa hình phức tạp, nhiều sông suối, nhiều dân tộc sinh sống. Đặc biệt
có dãy núi Tam Đảo khí hậu trong lành thuận lợi cho khai thác du lịch dịch
vụ.

Năm 2001 nguồn lao động toàn tỉnh là 584,59 nghìn người trong đó
lao động trong độ tuổi là 499,7 nghìn người chiếm 64% dân số của tỉnh . Số
lao động làm việc trong các ngành kinh tế là 526,47 nghìn người .
2.5 Thu nhập và nhu cầu tiêu dùng trong dân cư :
Hiện tại thu thập bình quân của các hộ gia đình trên địa bàn dao
động trong khoảng 100 - 300 USD/người/năm . Do đó phần thu nhập giành
ra để cho tiêu dùng là không nhỏ. Như vậy sức mua của người dân Vĩnh
Phúc là đáng kể, lượng tiêu thụ hàng hoá cao, nhu cầu vật dụng tăng. Khác
với trước kia người dân chỉ chăm lo gom góp tích cóp để xây nhà cửa chứ
ít đầu tư, ngày nay nhu cầu mua sắm các vật tư , máy móc cho sản xuất
hay mua sắm cho hiện đại hoá trang thiết bị trong gia đình tăng lên rõ rệt.
3. Những lợi thế và hạn chế trong việc phát triển thị trường hàng hoá
- dịch vụ Vĩnh Phúc.
3.1 Lợi thế :
Vĩnh Phúc có vị trí địa lý thuận lợi , gần thủ đô Hà Nội là vùng
chuyển tiếp giữa trung du miền núi và đồng bằng sông Hồng, đó là một lợi
thế so sánh để phát triển thương mại nhanh, mở rộng thị trường.
Có nhiều mặt bằng đất đồi cùng với các điều kiện về cơ sở hạ tầng
khác là những tiền đề thuận lợi để phát triển công nghiệp và các khu công
nghiệp tập trung, tăng khối lượng hàng hoá, thúc đẩy quan hệ thương mại
phát triển.
Có nhiều tài nguyên du lịch hấp dẫn, đa dạng (hồ Đại Lải, Núi Tam
Đảo, các di tích và danh lam thắng cảnh), thu hút được nhièu khách du lịch
trong và ngoài nước tạo nên thị trường hấp dẫn và có điều kiện xuất khẩu
tại chỗ.
Đã hình thành một hệ thống đô thị Vĩnh Yên - Tam Đảo - Phúc Yên
trong mối quan hệ khăng khít với Việt Trì - Hà Nội là những vùng trung
tâm chính trị, kinh tế , văn hoá, khoa học kỹ thuật của vùng và cả nước , có
ý nghĩa làm động lực thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh.
Với lợi thế về vị trí địa lý, hàng nông sản của Vĩnh Phúc và các hàng

máy tăng 200%....
Khuyến khích phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nông
thôn theo hướng khôi phục và phát huy ngành nghề truyền thống với việc
tổ chức lại, đổi mới công nghệ hiện đại, tăng cường mở rộng hợp tác sử
dụng nhiều lao động, vươn lên đạt nhiều sản phẩm có chất lượng cao, mẫu
mã đẹp đủ sức cạnh tranh trên thị trường, như các mặt hàng về đồ gỗ, đồ
thủ công mỹ nghệ đồ gốm....
Ước tính cả năm giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn (năm
2002) đạt 1328,2 tỷ đồng tăng 159,5% so với năm 2000 , vượt kế hoạch đề
ra 27,5%. Trong đó công nghiệp trung ương 234,1 tỷ đạt 133,2% kế hoạch
năm., công nghiệp Nhà nước địa phương 32,4 tỷ đạt 96,3% công nghiệp
ngoài Nhà nước 256,3 tỷ đạt 129,6%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
654,4 tỷ đạt 144,3% kế hoạch năm và chiếm 60,8% giá trị sản xuất toàn
ngành công nghiệp.
Nhìn chung sản xuất công nghiệp trên địa bàn phát triển khá nhưng
không đồng đều giữa các khu vực và thành pầhn kinh tế, công nghiệp Nhà
nước TW và địa phương phát triển khá do một số doanh nghiệp đầu tư
chiều sâu, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, thay đổi mặt hàng hợp
thị hiếu người tiêu dùng như : gạch , ngòi lò tuynen của công ty gồm xây
dựng Hợp Thịnh, gồm xây dựng Tam Đảo, gốm Xuân Hoà, pin R8 của
công ty phin Xuân Hoà, bàn ghế của công ty Lixeha.... tuy nhiên một số
doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn về hướng sản xuất quy mô nhỏ bé ,
do vậy khả năng cạnh tranh còn hạn chế, công ty ngoài Nhà nước phát triển
chậm.
Công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có mức tăng trưởng cao do
một số doanh nghiệp đi sâu vào sản xuất như : công ty Toyota Việt Nam ,
Honda Việt Nam , công ty mút xốp Việt Khánh, công ty Phanh Nissin,
công ty viét metal, công ty Takanichi.
4.2 Ngành nông - lâm nghiệp :
4.2.1 Ngành nông nghiệp :

được thành lập đi vào hoạt động. Đã triển khai xây dựng cột ăng ten 85 m
tại bưu điện tỉnh, mạng cáp ngần Vĩnh Yên, Xuân Hoà, tổng đài Bình
Xuyên 500 số...
Tổng số máy cố định trên địa bàn là 14.538 máy sản lượng đàm
thoại dài là 140,1 triệu phút. Tổng doanh thu cước viễn thông chiếm
83,6%.
4.3.2. Ngành du lịch - khách sạn
Tính đến cuối năm 2002 có 25 doanh nghiệp Nhà nước, 1 doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và 2497 hộ kinh doanh khách sạn, nhà
hàng thu hút 4356 lao động. tính riêng kết quả hoạt động khách sạn Nhà
nước năm 2002 tổng doanh thu qui tiền Việt Nam là 55423 triệu đồng.
Tổng doanh thu từ du lịch năm 2002 đạt 62300 triệu tăng 11,3% so với
năm 2001.
4.3.3. Ngành thương mại:
Kinh doanh thương mại của các thành phần kinh tế đều phát triển,
thương nghiệp Nhà nước đã được củng cố, ổn định tổ chức. Hàng hoá bán
ra rất phong phú về chủng loại, đa dạng về mẫu mã, đáp ứng nhu cầu người
tiêu dùng trên các địa bàn.
Đến cuối năm 2002 có 19 doanh nghiệp Nhà nước và 23 doanh
nghiệp tư nhân, 7920 hộ tư nhân kinh doanh thương mại. Mạng lưới các
chợ và các tụ điểm buôn bán rộng khắp và nhộn nhịp.
Tổng mức hàng hoá bán lẻ xã hội ngày càng tang, năm 2002 đạt
362812 triệu đồng gấp 1,43 lần so với năm 2001.
III. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội Vĩnh Phú và sự cần thiết
phát triển thị trường hàng hoá - dịch vụ.
1. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội.
1.1. Tốc độ phát triển kinh tế.
Nền kinh tế Vĩnh Phúc trong mấy năm gần đây liên tục tăng trưởng
và tăng trưởng cao hơn các thời kỳ trước, đáp ứng nhu cầu cơ bản trước
mắt và tạo đà phát triển cho những năm tiếp theo.

80 km, các tuyến đường cấp huyện tổng chiều dài 314 km, đường nông
thôn tổng chiều dài 958 km. Tất cả các đường đều được rải nhựa và bê tông
trong cả tỉnh. Các phương tiện tuy đã đổi mới xong không nhiều lắm, dẫn
đến việc vận chuyển chưa đảm bảo an toàn và đạt hiệu quả mong muốn.
- Đường thuỷ: vận tải bằng đường thuỷ có nhiều lợi thế, vận chuyển
được khối lượng lớn và và giá thành rẻ. Vĩnh Phúc có sông Lô và sông
Hồng bao bọc phía Tây và phía Nam, trong tỉnh có sông Cà Lồ và sông Phó
Đáy, tổng chiều dài 120 km. Mạng lưới vận chuyển bằng đường sông đã có
nhưng chưa khai thác hết năng lực, riêng đường nội địa chỉ sử dụng được
trong mùa mưa. Nhiều bến bãi chưa được cải tạo, phương tiện vận tải thô
sơ, luồng lạch chưa được nạo vét thường xuyên
1.3.2. Thông tin liên lạc:
Vĩnh Phúc đã có tổng đài khách hàng riêng, mạng lưới thông tin đã
phủ kín các xã trong tỉnh, có thể liên lạc được với cả nước và quốc tế.
Hiện nay mật độ điện thoại ở Vĩnh Phúc khá cao: 1 máy/30 người.
1.3.3. Phát triển đô thị.
Hiện nay Vĩnh Phúc có 1 thị xã, 8 thị trấn và 38 thị tứ. Diện tích đất
đô thị chiếm gần 5700 ha, dân số 207,5 nghìn người trong đó 93 nghìn
người trong nội thị.
Nhìn chung quy mô đô thị còn nhỏ, mật độ dân cư còn thưa thớt. Hạ
tầng khách hàng của đô thị còn thấp kém, thể hiện ở các điểm:
- Mật độ đường giao thông thấp, chất lượng đường xấu.
- Hệ thống cung cấp điện chỉ đủ dùng cho hiện tại ở mức hạn chế.
- Hệ thống cung cáp nước mới có ở thị xã và 57% thị trấn, công suất
16440 m3/ngàyđêm, chưa đủ cung cấp về số lượng và kém chất lượng. Tỉ
lệ dân dùng nước máy mới đạt 15%.
- Đời sôngs văn hoá tinh thần được nâng lên, nhưng chưa đáp ứng
được nhu cầu bồi thường của một tỉnh lỵ mới tái lập. Thị xã Vĩnh Yên
trung tâm tỉnh, cơ sở hạ tầng đang bị quá tải và còn thiếu rất nhiều. Quy
hoạch xây dựng mới được phê duyệt, cần nhiều vốn đầu tư xây dựng từng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status