Đề tài "Một số giải pháp hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Sở giao dịch I - Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam " - Pdf 72


LUẬN VĂN
"Một số giải pháp hạn chế rủi ro
trong phương thức thanh toán tín
dụng chứng từ tại Sở giao dịch I -
Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt
Nam "
LỜI CẢM ƠN
Trước khi trình bày luận văn, tôi xin trân trọng cảm ơn thày Đinh
Xuân Trình - giáo viên hướng dẫn cùng toàn thể các anh, chị công
tác tại phòng Thanh toán quốc tế, Sở giao dịch I - Ngân hàng đầu
tư và phát triển Việt Nam đã chỉ bảo tận tình, hết lòng giúp đỡ tôi
hoàn thành khoá luận này.
Sinh viên
Lưu Phương Lan
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU................................................................................................1
CHƯƠNG I: RỦI RO VÀ CÁC RỦI RO TRONG PHƯƠNG THỨC
THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG
TỪ.......................................................4
I. Khái niệm về rủi ro và phân loại...........................................................4
1. Khái niệm..................................................................................................5
2. Phân loại....................................................................................................6
II. Các rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng
từ..............6
1. Các rủi ro thường gặp trong phương thức thanh toán tín dụng chứng
từ...6
1.1 Rủi ro kỹ thuật.....................................................................................6
1.2 Rủi ro đạo đức...................................................................................12
1.1 Rủi ro chính trị..................................................................................15
2. Các loại L/C và những rủi ro tiềm

Nam...................46
CHƯƠNG III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HẠN
CHẾ RỦI RO TRONG PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG
CHỨNG TỪ TẠI SỞ GIAO DỊCH I - NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ
PHÁT TRIỂN VIỆT NAM.............................................................................55

I. Quan điểm định hướng trong việc đưa ra các giải
pháp....................55
1. Các định hướng
chung.............................................................................55
1.1. Các giải pháp phải phù hợp với thông lệ quốc
tế.............................56
1.2. Tạo điều kiện cho hoạt động xuất nhập khẩu phát triển..................57
1.3. Phù hợp với tình hình thực tế Việt
Nam..........................................58
2. Định hướng hoạt động của Sở giao dịch I - Ngân hàng đầu tư và
phát triển Việt Nam................................................................................58
2.1 Định hướng hoạt động chung..........................................................58
2.2 Định hướng phát triển hoạt động thanh toán quốc tế bằng
phương thức thư tín dụng tại SGDI - Ngân hàng ĐT & PT
VN......59
II. Những giải pháp chủ yếu......................................................................60
1. Những giải pháp tầm vĩ mô.....................................................................60
1.1. Sớm nghiên cứu, soạn thảo và áp dụng hệ thống luật, tạo môi
trường pháp lý cho hoạt động thanh toán quốc
tế............................60
1.2. Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng.................................................61
1.3. Tổ chức thực hiện tốt thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, tạo điều
kiện cho thị trường hối đoái Việt Nam ngày càng phát triển..........62
2. Những giải pháp tầm vi mô.....................................................................62

những năm gần đây
2. Bảng 2. Doanh số thanh toán xuất khẩu, nhập khẩu tại SGDI - Ngân
hàng đầu tư và phát triển Việt Nam trong những năm qua.
3. Bảng 3. Tỷ trọng các phương thức thanh toán quốc tế trong SGDI
4. Bảng 4. Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức L/C tại SGDI
5. Bảng 5. Dư nợ bảo lãnh L/C trả chậm tại Sở giao dịch I - Ngân hàng đầu
tư và phát triển Việt Nam
DANH SÁCH CÁC KÝ TỰ VIẾT TẮT
1. ATM : Máy rút tiền tự động
2. HĐBT : Hội đồng bộ trưởng
3. L/C : Thư tín dụng
4. BIDV : Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
5. SGDI : Sở giao dịch I
6. UCP 500 : Quy tắc thống nhất và thực hành về tín dụng
chứng từ số 500
7. USD : Đô la Mỹ
8. VND : Việt Nam đồng
9. XNK : Xuất nhập khẩu
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, trong xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá của nhân loại, hoạt
động kinh tế quốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ và chiếm một vị trí quan
trọng đặc biệt trong giai đoạn công nghiệp hoá - hiện đại hoá của nước ta. Với
tư cách là chất xúc tác cho sự phát triển của thương mại quốc tế, công tác thanh
toán quốc tế cũng không ngừng được mở rộng và phát triển. Song, khi thương
mại quốc tế càng phát triển thì mối quan hệ giữa người mua và người bán càng
trở nên đa dạng và phức tạp. Điều này đồng nghĩa với nguy cơ rủi ro ngày càng
cao trong buôn bán quốc tế nói chung và thanh toán quốc tế nói riêng. Bằng
chứng là nếu nhìn lại công tác thanh toán quốc tế của các ngân hàng thương
mại Việt Nam trong thời gian qua, điều làm chúng ta không khỏi lo ngại là

trình bày các cơ sở lý luận theo thông lệ quốc tế liên quan đến hoạt động thanh
toán tín dụng chứng từ, thực tiễn về hoạt động này tại Sở giao dịch I - Ngân
hàng đầu tư và phát triển Việt Nam trong những năm gần đây (từ năm 1999
đến 2002).
4. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu và cho ra đời sản phẩm có hiệu quả, tôi đã sử dụng tập
hợp các phương pháp như duy vật biện chứng, phân tích, tổng hợp, thống kê,
so sánh... cùng với việc tham khảo các sách, tài liệu trong và nước ngoài có
liên quan.
5. Kết cấu của khoá luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận này có bố cục như sau:
Chương I: Rủi ro và các rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng
chứng từ.
Chương II: Thực trạng rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ tại Sở
giao dịch I - Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam.
Chương III: Một số giải pháp kiến nghị nhằm hạn chế rủi ro trong
phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Sở giao dịch I - Ngân hàng
đầu tư và phát triển Việt Nam.
CHƯƠNG I
RỦI RO VÀ CÁC RỦI RO TRONG PHƯƠNG THỨC
THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ.
I. Khái niệm về rủi ro và phân loại
Kể từ đại hội Đảng VI - năm 1986, với chủ trương phát triển nền kinh tế
mở cửa nhằm nhanh chóng đưa nền kinh tế nước ta hội nhập với các nước
trong khu vực và trên thế giới, quan hệ thương mại giữa nước ta với các nước
đang không ngừng tăng lên. Hằng năm, kim ngạch xuất nhập khẩu ở nước ta
đạt bình quân khoảng từ 15 đến 18 tỷ USD (năm 1997 đạt khoảng 20 tỷ USD)
trong đó ước tính đến 90% sử dụng phương thức thanh toán bằng thư tín dụng.
Qua đó có thể thấy được rằng nhờ vào tính ưu việt của mình, phương thức tín
dụng chứng từ đã được sử dụng rộng rãi và đã góp phần đáng kể trong việc tạo

pháp không thực hiện những việc làm quá mạo hiểm, chú ý đến những quy tắc
về an toàn lao động, các chuẩn mực trong kinh tế... thậm chí lập ra những quỹ
dự phòng để dự trữ một khoản tiền nào đó nhằm bù đắp những rủi ro có thể gặp
phải. Tất cả những hành động đó nhằm một mục đích duy nhất là cố gắng hạn
chế đến mức tối đa và phòng tránh các loại rủi ro để mọi quá trình sản xuất,
kinh doanh được diễn ra tốt đẹp.
Trong thanh toán quốc tế cũng vậy, tuy là hoạt động mang đến cho ngân
hàng thương mại nhiều lợi ích, nhưng có thể nói lợi ích đó đồng hành với rủi
ro. Người ta định nghĩa rủi ro trong thanh toán quốc tế là:
Rủi ro trong thanh toán quốc tế là những hiện tượng khách quan có liên
quan và làm ảnh hưởng đến quá trình thực hiện hoạt động thanh toán quốc tế.
Nó do các nguyên nhân phát sinh từ quan hệ giữa các bên tham gia quan hệ
thanh toán quốc tế (nhà nhập khẩu, nhà xuất khẩu, ngân hàng, các tổ chức, cá
nhân và các tác nhân trung gian...) hoặc do các nhân tố khách quan khác gây
nên. Con người có thể nhận biết được các hiện tượng khách quan đó, song
không thể lượng hóa các hiện tượng đó xảy ra vào lúc nào? ở đâu? và mức độ
thiệt hại thực sự đến thanh toán quốc tế.
2. Phân loại
Các rủi ro trong thanh toán quốc tế có thể được phân loại như sau:
- Rủi ro kỹ thuật (rủi ro tác nghiệp)
- Rủi ro tín dụng
- Rủi ro pháp lý
- Rủi ro ngoại hối
- Rủi ro đạo đức
- Rủi ro hàng hoá
- Rủi ro chính trị
II. Các rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.
1. Các rủi ro thường gặp trong phương thức thanh toán tín dụng chứng
từ.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong thanh toán theo phương

+ Số tiền trên chứng từ vượt quá giá trị L/C.
+ Các chứng từ không ghi số L/C.
+ Hối phiếu ghi nhầm người bị ký phát.
+ Chứng từ không đánh dấu bản gốc.
+ Các chứng từ không khớp nhau hoặc không khớp với L/C về số
lượng, trọng lương hàng hoá...
+ Các chứng từ không tuân theo quy định của L/C về cảng bốc dỡ,
về hãng vận tải, phương thức vận chuyển...
Tất cả những sai sót trên đều có thể là nguyên nhân gây nên rủi ro trong
thanh toán, gây thiệt hại cho nhà xuất khẩu.
Khi nộp chứng từ cho ngân hàng chiết khấu, nếu ngân hàng phát hiện ra
các sai sót mà có thể sửa chữa được thì việc sửa chữa sẽ làm chậm quá trình
thanh toán. Nếu sai sót không thể sửa chữa thì bộ chứng từ không được chiết
khấu hoặc chấp nhận mà phải đợi ý kiến của ngân hàng mở và người mua để
giải quyết. Như vậy, quá trình thanh toán sẽ bị kéo dài làm cho người bán
không thể thu hồi vốn nhanh được. Hơn nữa, người mua và ngân hàng mở có
thể dựa vào những sai biệt rất nhỏ của chứng từ để từ chối thanh toán trong khi
đó hàng hoá đã được gửi đi. Nhà xuất khẩu sẽ chịu thiệt hại khi phải bán giảm
giá hàng hoá hoặc tìm khách hàng khác để tiêu thụ và cùng với nó là một các
chi phí như phí đền bù, cước lưu kho và các phí tổn phát sinh khác.
Một rủi ro kỹ thuật nữa là việc người bán phạm phải các sai lầm khi tiến
hành giao hàng như việc vi phạm thời hạn thanh toán thư tín dụng, giao hàng
muộn, xuất trình chứng từ muộn... Nếu việc xuất trình chứng từ thể hiện sự vi
phạm một trong các thời hạn nói trên cũng sẽ bị từ chối thanh toán.
Rủi ro đối với người nhập khẩu
Rủi ro lớn nhất đối với người nhập khẩu là việc nhận hành hoá không
đúng với hợp đồng mua bán. Sở dĩ xảy ra tình trạng trên là do bị lợi dụng tính
độc lập giữa L/C và hợp đồng thương mại. Việc thanh toán giữa ngân hàng hai
bên mua bán chỉ thực hiện trên cơ sở bộ chứng từ đã giao hàng xuất trình phù
hợp với quy định của L/C tức là ngân hàng chỉ chịu trách nhiệm về sự khớp

Một rủi ro nữa mà ngân hàng có thể gặp phải khi mở L/C là dùng sai
hoặc sót trong từng chữ, dấu chấm, dấu phẩy... so với đơn xin mở L/C của
doanh nghiệp. Tất nhiên phí tu chỉnh cho những sai sót đó ngân hàng phải chịu.
Vì vậy, để khắc phục rủi ro này, cần phải tiến hành kiểm tra lại kỹ càng sau khi
đã mở L/C trên máy. Một điều cũng cần quan tâm là ngân hàng mở tuyệt đối
không được tự thêm bớt nội dung vào L/C so với đơn xin mở, ngoại trừ sự
thêm bớt đó làm tăng thêm lợi thế cho khách hàng của mình và phù hợp với
hợp đồng ngoại thương, và các văn bản pháp luật điều chỉnh đã được dẫn chiếu
trong L/C như UCP 500 và Incoterms 2000.
- Rủi ro khi kiểm tra bộ chứng từ đến và khi thanh toán.
Có thể nói đây là nghiệp vụ "vạch lá tìm sâu" của ngân hàng mở nhằm
phát hiện những sai sót, những điểm không phù hợp của bộ chứng từ so với nội
dung và bề mặt của L/C đã mở. Rủi ro cho ngân hàng sẽ xảy ra khôn lường nếu
ngân hàng không kiểm tra kỹ bộ chứng từ mà vẫn thực hiện thanh toán hoặc
chấp nhận thanh toán. Bởi lẽ từ trước đến nay đã có những bộ chứng từ giả,
đặc biệt là B/L giả nhằm mục đích lừa đảo hoặc rửa tiền, cũng có trường hợp
ghi "theo lệnh" (to order...) không đúng tên người nhận, làm cho việc nhận
hàng bị chậm trễ, tăng chi phí lưu kho bãi, gây thiệt hại không chỉ cho khách
hàng mà cả cho ngân hàng mở nếu lô hàng đó ngân hàng cho vay thanh toán.
Nhằm hạn chế phần nào các trường hợp trên, các doanh nghiệp cũng như các
ngân hàng thương mại khi mở L/C nhập khẩu nên quy định thêm điều khoản:
Gửi lên tàu ngay sau khi giao hàng một bản sao bộ chứng từ cho người mở
L/C, nhằm mục đích để cho người mở kiểm tra trước, nếu có sai sót thì kịp thời
tu chỉnh sửa đổi, đồng thời có tác dụng tăng thêm độ tin cậy rằng hàng đã được
bốc xếp lên tàu.
Sau khi kiểm tra chứng từ, ngân hàng cũng có thể vấp phải một số rủi ro
kỹ thuật như không tuân thủ UCP, ví dụ: chuyển giao bộ chứng từ không
phù hợp cho người mở đi nhận hàng, hoặc làm mất không trả lại chứng
từ cho phía xuất trình nguyên vẹn như khi nó nhận được, hoặc không
giao chứng từ đó cho bên thứ ba do phía xuất trình chỉ định.

báo quyết định của mình cho ngân hàng mở biết một cách chậm trễ.
Theo quy định của UCP 500, khi trên thư tín dụng chuyển bằng điện có
ghi "các chi tiết đầy đủ gửi sau" hay những từ có nội dung tương tự hoặc ghi
rằng thư xác nhận sẽ là văn bản có hiệu lực của thư tín dụng... thì điện chuyển
sẽ không được xem như là văn bản có hiệu lực. Vì vậy, nếu ngân hàng thông
báo về thư tín dụng cho khách hàng thì phải ghi rõ trên thông báo: "thông báo
sơ bộ chưa có hiệu lực thi hành". Khi ngân hàng thông báo không làm đúng
điều đó để khách hàng hiểu lầm rằng đó là L/C có hiệu lực và thực hiện giao
hàng thì mọi rủi ro ngân hàng sẽ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm.
 Ngân hàng xác nhận (nếu có)
Rủi ro xảy ra đối với ngân hàng xác nhận là do không nắm chắc năng lực
tài chính của ngân hàng mở lại vội đi xác nhận theo yêu cầu của họ để rồi cuối
cùng phải nhận lãnh trách nhiệm thanh toán thay cho ngân hàng mở trong
trường hợp ngân hàng mở thiếu thiện chí hoặc mất khả năng thanh toán thậm
chí bị phá sản.
 Ngân hàng chiết khấu (nếu có)
Đối với ngân hàng chiết khấu rủi ro xảy ra phần nhiều tuỳ thuộc vào
thiện chí của ngân hàng mở và nhà nhập khẩu. Ngân hàng chiết khấu sẽ không
thu hồi được tiền hoặc thu chậm là do nhà nhập khẩu trì hoãn thanh toán, thậm
chí từ chối thanh toán thông qua việc "bới bèo ra bọ" trong việc kiểm tra chứng
từ của ngân hàng mở. Lý do để người nhập khẩu trì hoãn chủ yếu là do gặp khó
khăn trong thanh toán hoặc cũng có thể do bên mua không tin tưởng bên bán vì
hay giao hàng trễ, giao hàng kém chất lượng. Mục đích của người mua là muốn
hàng thật sự về cảng, nhìn thấy hàng rồi mới trả tiền. Để trì hoãn thanh toán, họ
sẽ yêu cầu ngân hàng mở thông báo những sai biệt của chứng từ trong vòng 7
ngày làm việc để dành quyền được từ chối thanh toán sau này. Đối với ngân
hàng chiết khấu, thời gian trì hoãn thanh toán càng dài, ngân hàng bị chiếm
dụng vốn càng lâu.

1.2. Rủi ro đạo đức

cam kết của ngân hàng mở, nhưng sự tin tưởng và thiện chí giữa người
bán và người mua vẫn được coi là yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự an
toàn và hiệu quả của thanh toán quốc tế. Khi người mua có thiện chí thì
việc thanh toán sẽ diễn ra thuận lợi hơn rất nhiều cho dù bộ chứng từ có
sai sót cũng dễ được chấp nhận. Ngược lại, khi họ có ý không muốn tiếp
tục thực hiện hợp đồng có thể do cơ hội kinh doanh đã mất hay do các
mối hàng khác... họ có thể dựa vào những sai sót dù là rất nhỏ của chứng
từ để đòi giảm giá, kéo dài thời gian để chiếm dụng vốn của người bán,
thậm chí từ chối thanh toán. Với người mua, sự trung thực của người bán
cũng rất quan trọng, bởi vì ngân hàng chỉ làm việc với những chứng từ
mà không cần biết việc giao hàng có đúng hợp đồng hay không. Do đó,
người mua có thể vẫn phải thanh toán L/C với ngân hàng mà không nhận
được hàng hoá theo đúng hợp đồng. Các vi phạm về hợp đồng có thể
được giải quyết sau đó nhưng phải mất nhiều thời gian và phí tổn, trước
hết là người mua mất cơ hội kinh doanh và bị chiếm dụng vốn. Song,
không chỉ người mua và người bán mà cả ngân hàng cũng đang đứng
trước mối đe dọa to lớn đó. Con số thiệt hại hàng năm trong thanh toán
xuất nhập khẩu của các ngân hàng thương mại không phải nhỏ, gây khó
khăn cho hoạt động của ngân hàng. Trước hết, ngân hàng chịu ảnh
hưởng gián tiếp từ những rủi ro của khách hàng. Khi người mua không
nhận được hàng theo đúng yêu cầu và kế hoạch kinh doanh của họ bị phá
vỡ thì họ không thể trả ngân hàng số tiền đã vay của ngân hàng để thanh
toán L/C. Khi người bán không nhận được tiền hàng thị họ không thể
thanh toán cho ngân hàng khoản vay để sản xuất, thu gom hàng xuất
khẩu. Song ảnh hưởng gián tiếp chỉ là rất nhỏ so với những rủi ro trực
tiếp mà nó có thể gây ra. Nguyên nhân chủ yếu của rủi ro đạo đức là vấn
đề thông tin không đầy đủ, thiếu chính xác về tình hình tài chính, hoạt
động kinh doanh cũng như về uy tín và tính trung thực của đối tác.
Chính vì vậy mà đưa ra những phán quyết sai lầm gây nên rủi ro trong
thanh toán.

thức thanh toán tín dụng chứng từ thường liên quan đến nhiều quốc gia khác
nhau với đồng tiền khác nhau nên rủi ro do thay đổi tỷ giá cũng là một rủi ro
rất lớn tuy không xuất phát từ quá trình thanh toán. Một ngân hàng có thể bị
thiệt hại khi cho khách hàng vay để mở L/C hoặc chiết khấu chứng từ khi tỷ
giá thay đổi. Trong các giao dịch, người ta thường dùng các ngoại tệ mạnh hơn
để làm đơn vị tiền tệ, mà chủ yếu là USD. Thông thường, ngân hàng cho khách
hàng vay ngoại tệ để thanh toán L/C, và có thể phải mua ngoại tệ này ở nơi
khác. Khi người mua trả tiền cho ngân hàng, nếu tỷ giá tăng thì ngân hàng thu
được một khoản chênh lệch tỷ giá bổ sung. Ngược lại, nếu tỷ giá giảm thì
khoản phí thu được chưa chắc đã bù đắp được khoản lỗ do chênh lệch tỷ giá
gây ra. Ngoài việc ngân hàng buộc khách hàng phải ký quỹ mở L/C bằng ngoại
tệ mạnh sẽ không chỉ gây thiệt hại cho khách hàng trong giai đoạn tỷ giá không
ổn định mà nhiều khi còn tiềm ẩn những rủi ro đối với ngân hàng. Vì ngân
hàng nhà nhập khẩu không thể lường trước được mức độ trượt giá đồng nội tệ
so với ngoại tệ mạnh nên khi hàng nhập về, tỷ giá trượt mạnh, đối với những
mặt hàng bán giá cạnh tranh không thể tăng giá được, nhà nhập khẩu không
muốn nhập hàng vì sợ bị lỗ. Trong trường hợp đó, nếu tỷ lệ ký quỹ không bù
đắp tỷ lệ trượt giá nội tệ thì rủi ro có thể xảy ra đối với ngân hàng phát hành.
Các biến động kinh tế, chính trị, xã hội dù trực tiếp hay gián tiếp, tức thì
hay lâu dài đều gây những ảnh hưởng tới hoạt động của các ngân hàng và
khách hàng. Vì vậy, rủi ro chính trị luôn là mối đe dọa đến hoạt động thanh
toán quốc tế của ngân hàng.
Bên cạnh những rủi ro trên, hoạt động thanh toán quốc tế theo phương
thức tín dụng chứng từ cũng như các hoạt động khác của ngân hàng còn gặp
phải nhiều rủi ro bất khả kháng như thiên tai, hoả hoạn... gây thiệt hại cho các
bên nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Ngoài ra, các loại L/C cũng tiềm ẩn trong nó những rủi ro riêng. Hiện
nay, L/C là phương thức thanh toán có nhiều loại hình đa dạng và thuận tiện
nhất cho các hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng mở rộng và phát triển. Do
đó, việc nghiên cứu các loại L/C hiện có và rủi ro của nó cũng rất cần thiết.

tín dụng đã được mở thì nội dung của nó là một bộ phận vô cùng quan trọng và
trở thành cốt lõi để các bên thực hiện nghĩa vụ, đảm bảo quyền lợi cho đối tác
cũng như bản thân mình. Vì vậy, nội dung của thư tín dụng phải đầy đủ, rõ
ràng và chính xác. Mỗi thư tín dụng mang một nội dung riêng biệt tuỳ theo nội
dung của từng thương vụ, nhưng nhìn chung chúng có những nội dung cơ bản
giống nhau và thường không thể thiếu được trong một L/C, bao gồm: địa điểm
mở thư tín dụng, ngày mở thư tín dụng, số hiệu của thư tín dụng, loại thư tín
dụng, số tiền, thời hạn hiệu lực, thời hạn giao hàng, thời hạn thanh toán, nội
dung về hàng hoá, các nội dung về vận tải và giao nhận và đặc biệt là bộ chứng
từ mà người xuất khẩu phải xuất trình...
Các bên liên quan khi sử dụng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
cần chú ý tới tất cả các nội dung nêu trên, đặc biệt là điều khoản yêu cầu
về bộ chứng từ mà người bán phải xuất trình cho ngân hàng mở bởi đây
chính là điều kiện để cam kết thanh toán được thực hiện. Đối với người
mua, thông thường họ muốn bộ chứng từ phải thật đầy đủ. Ngược lại,
người bán lại muốn bộ chứng từ càng đơn giản càng tốt, tránh mất nhiều
thời gian và chi phí. Bởi ngoài giấy tờ mà họ thể chủ động lập ra còn có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status