CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
“Tổ chức thương mại thế giới WTO và
tác động của nó đối với các nước đang
phát triển .” 1
MỤC LỤC
Mục lục....................................................................................................1
Lời mở đầu...............................................................................................3
Chương 1: Tổng quan về Tổ chức thương mại thế giới WTO
1.1Sự ra đời của Tổ chức thương mại thế giới WTO..............................5
1.1.1Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT- tổ chức tiền thân
của WTO.....................................................................…..5
1.1.2Vòng đàm phán Uruguay và sự ra đời của WTO........................12
1.2 Mục tiêu,chức năng và các nguyên tắc của WTO...................……. 18
Chương 2:Tác động của WTO đối với các nước đang phát triển
2.1 Những ảnh hưởng của WTO đến các nước đang phát triển..........
2.1.1 Những ảnh hưởng tích cực......................................................
2.1.2 Những ảnh hưởng tiêu cực.....................................................
2.2 Những cơ hội và thách thức đặt ra với các nước đang phát
triển trong quá trình thực hiện một số Hiêp định của WTO.
2.2.1 Hiệp đinh về tự do hàng nông sản..........................................
2.2.2 Hiệp định hàng dệt may.......................................................
2.2.3 Hiệp định chung về thương mại và dịch vụ GATS.............
2.2.4 Hiệp định về đàu tư liên quan đến thương mại TRIMs...................
2.2.5 Hiệp định về quyền sở hữu trú tuệ liên quan đến thương
mại TRIPS.....................................................................................................
2.3 Các giải pháp nhằm đem lại lợi ích cao hơn cho các nước đang
phát triển...................................................................................................
2.3.1 Nguyên nhân dẫn đến sự thiệt thòi của các nước đang phát
triển..........................................................................................................
2.3.2 Các giải pháp.........................................................................
quan đến thương mại .
TRIPS : trade - related intellectual propecty rights - Khía cạnh về quyền
sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại .
UNCTAD :United Nations Conference on Trade and Development -
WTO :World Trade Organization - Tổ chức thương mại quốc tế .
4
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với xu thế toàn cầu hoá hiện nay, Tổ chức thương mại thế giới (WTO) kế
thừa Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) bắt đầu hoạt động từ
1/1/1995 nhằm tạo điều kiện hơn nữa cho sự phát triển của hệ thông thương mại
đa biên, đảm bảo cạnh tranh công bằng, lành mạnh, xoá bỏ dần các rào cản trong
thương mại quốc tế. Từ đó cho đến nay, WTO đã không ngừng mở rộng cả vế quy
mô lẫn phạm vi hoạt động của mình, đã thực sự khẳng định được vai trò quan
trọng của mình trong quá trình tự do hoá thương mại quốc tế.
Cùng với hệ thống các quy tắc, nguyên tắc, các Hiệp định của mình,WTO đã
tạo ra một hành lang pháp lý để từ đó các nước có thể đẩy nhanh tiến hành tiến
trình toàn cầu hoá, tự do thương mại, đồng thời tiếp nhận những cơ hội thuận lợi
để phát triển nền kinh tế của mình. Tuy nhiên, hoạt động của WTO cùng với hệ
thông các nguyên tắc và hiệp định của mình không phải lúc nào cũng có lợi và
đảm bảo được sự công bằng cho các nước thành viên, đặc biệt là đối với các nước
đang phát triển.
Để có thể tìm hiểu rõ hơn về những ảnh hưởng của WTO đến sự phát triển nền
kinh tế của các nước đang phát triển, em đã lựa chọn đề tài:
Tổ chức thương mại thế giới WTO và tác động của nó
đối với các nước đang phát triển.
làm khoá luận tốt nghiệp. Ngoài phần mở đầu, kết luận, và phụ lục, nội dung của
khoá luận được chia làm ba chương:
Chương 1 : Tổng quan về Tổ chức thương mại thế giới WTO.
Chưong 2 : Tác động của WTO đến các nước đang phát triển.
vực như lao động, hiệp định hàng hoá, thực tiễn hạn chế kinh doanh, đầu tư quốc
tế và dịch vụ.
Trước khi hiến chương ITO được phê chuẩn, 23 trong số 50 nước đã cùng
nhau tiến hành các cuộc đàm phám vế thuế quan xử lý các biện pháp bảo hộ mậu
dịch đang được áp dụng và duy trì trong thương mại quốc tế từ đầu những năm 30.
Các nước này mong muốn nhanh chóng thúc đẩy tự do hoá mậu dịch, khôi phục
lại nền kinh tế bị phá huỷ nặng nề sau chiến tranh thế giới thứ II.
6
Hiến chương thành lập Tổ chức thương mại thế giới đã được thoả thuận tại
Hội nghị Liên hợp Quốc tế về thương mại và việc làm tại Havana từ 11/1947 đến
24/3/1948, nhưng do một số nước không tán thành nên việc hình thành tổ chức
thương mại thế giới (ITO) đã không thực hiện được. Tuy nhiên kết quả của cuộc
đàm phán cũng đem lại sự thành công nhất định; đã có 45000 nhượng bộ về thuế
quan, ảnh hưởng đến khối lượng thương mại trị giá 10 tỉ $, tức là gần 1/5 tổng
thương mại trên thế giới. 23 nước này đều cùng nhất trí chấp nhận ủng hộ một số
quy định trong hiến chương của ITO. Các quy định này sẽ được thực hiện hết sức
nhanh chóng một cách tạm thời để có thể bảo vệ được thành quả của những cam
kết thuế quan đã được đàm phán. Kết hợp của những qui định thương mại và cam
kết thuế quan được biết đến dưới tên gọi Hiệp định chung về thuế quan và thương
mại (GATT). Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 11/1/1948. 23 nước
tham gia trở thành những thành viên sáng lập GATT, hay còn gọi là "các bên tham
gia hiệp định". Mặc dù GATT chỉ mang tính tạm thời nhưng đây vẫn là công cụ
duy nhất mang tính đa biên điều tiết thương mại thế giới kể từ năm 1948 cho đến
khi WTO được thành lập vào năm 1995 và trong suốt thời gian đó các văn bản
pháp lý của GATT vẫn được duy trì gần giống năm 1948. Có thêm một số hiệp
định mới được đưa vào dưới dạng hiệp định "nhiều bên" và các nỗ lực cắt giảm
thế quan vẫn được tiếp tục. Tất cả những bước tiến lớn của thương mại quốc tế đã
diễn ra thông qua các cuộc đàm phán thương mại đa biên được biết đến dưới cái
tên "vòng đàm phán thương mại".
mức 47%. Việc cắt giảm thuế quan sẽ được thực hiện trong vòng 8 năm bao gồm
cả vấn đề điều hoà thuế - thuế càng cao thì cắt giảm càng lớn theo tỷ lệ.
Tuy nhiên, bên cạnh các vấn đề có kết quả như trên thì đối với các vấn đề khác
kết quả của vòng đàm phán Tokyo là không mấy hoàn hảo. Vòng đàm phán này đã
thất bại trong việc giải quyết một số vấn đề liên quan đến thương mại hàng nông
sản, không đưa ra được hiệp định mới về các biện pháp tự vệ (biện pháp khẩn cấp
8
đối với hàng nhập khẩu). Mặc dù vậy, đã có nhiều hiệp định về hàng rào phi quan
thuế đã xuất hiện tại vòng đàm phán này (một vài hiệp định mới hoàn toàn, một
vài hiệp định tiếp tục bổ sung thêm từ các qui dịnh của GATT). Trong phần lớn
các trường hợp thì chỉ có một số nước rất nhỏ, chủ yếu là các nước công nghiệp
phát triển chấp nhận tham gia vào các hiêp định mới này vì họ là những người
được lợi ích nhiều nhất. Do đó, các hiệp định này chỉ được gọi là "hệ thống qui
tắc". Những qui tắc này không mang tính chất đa biên, nhưng đây là một bước
khởi đầu mới.
Các "hệ thống qui tắc" của vòng Tokyo:
+ Trợ cấp và các biện pháp đổi kháng - diễn giải điều 6.16 và 23 hiệp định
GATT.
+ Các hàng rào kỹ thuật đổi với thương mại - còn được gọi là: Hiệp định về
tiêu chuẩn.
+ Các thủ tục cấp phép nhập khẩu.
+ Mua sắm chính phủ.
+ Định giá hải quan - diễn giải điều 7.
+ Chống phá giá - diễn giải điều 6, thay cho qui định vòng Kenedy.
+ Thoả thuận về sữa quốc tế.
+ Thương mại máy bay dân dụng.
Một số hệ thống qui tắc sau vòng đàm phán Uuguay đã được điều chỉnh lại và
được cam kết mang tính chất đa biên buộc các nước thành viên phải cùng nhau
thực hiện. Chỉ có 4 hiệp định: mua sắm chính phủ, máy bay dân dụng cho đến hiện
suy giảm.
Thứ hai, đến thập niên 80 thì Hiệp định chung không còn đáp ứng được những
yêu cầu thực tiễn của thương mại quốc tế như ở thập niên 40 nữa. Ít nhất thì hệ
thống thương mại thế giới đã trở nên phức tạp, đa dạng và quan trọng hơn rất
nhiều so với 40 năm trước. Phần lớn GATT chỉ điều tiết thương mại hàng hoá hữu
hình nhưng ngày nay nền kinh tế thế giới đang trong quá trình toàn cầu hoá mạnh
mẽ, thương mại quốc tế đã phát triển nhanh chóng, thương mại dịch vụ - lĩnh vực
không được hiệp định GATT điều chỉnh đã trở thành lợi ích cơ bản của ngày càng
nhiều nước. Từ ngân hàng, bảo hiểm, vận tải biển, tư vấn ... đã phát triển không
10
ngừng; đầu tư quốc tế cũng được mở rộng. Thương mại dịch vụ phát triển cũng
kéo theo sự gia tăng hơn nữa của thương mại hàng hoá.
Thứ ba, trong một số lĩnh vực của thương mại hàng hoá GATT cũng còn
nhiều bất cập, ví dụ đối với lĩnh vực nông nghiệp, những lỗ hổng của hệ thống
thương mại đa biên đã bị lợi dụng triệt để và mọi nỗ lực nhằm tự do hoá hàng
nông sản đã không đạt được thành công. Trong lĩnh vực hàng dệt may cũng vậy,
các nước đã cùng nhau miễn trừ các nguyên tắc của GATT và đưa ra một hiệp
định mới là Hiệp định đa sợi.
Thứ tư, cơ cấu tổ chức và cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT cũng gây ra
nhiều lo ngại. GATT chỉ là một hiệp định, việc tham gia không mang tính chất bắt
buộc do vậy các nước có thể tuân theo và cũng có thể không. Bên cạnh đó, thương
mại quốc tế trong những năm 80 trở đi đòi hỏi phải có một tổ chức cố định, có nền
tảng pháp lý vững chắc để có thể đảm bảo thực thi các quy định, các nguyên tắc
chung của thương mại quốc tế. Về hệ thống các quy chế giải quyết tranh chấp,
GATT cũng chưa có cơ chế chặt chẽ, chưa có thời gian biểu nhất định do vậy các
cuộc tranh chấp thường bị kéo dài, dễ đi vào ách tắc.
Đây là những nhân tố khiến cho các thành viên của GATT tin rằng phải có
những nỗ lực mới nhằm củng cố và mở rộng hệ thống thương mại đa biên. Những
nỗ lực đó đã dẫn đến kết quả có vòng đàm phán Uruguay, tuyên bố Marrakesh và
làm rõ các vấn đề và xây dựng sự nhất trí thì các bộ trưởng mới đi đến thống nhất
trong việc đưa ra 1 vòng đàm phán mới. Cuộc đàm phán được bắt đầu tại Punta
del Este Uruguay (1986). Chương trình đàm phán bao gồm hầu hết các vấn đề
chính sách thương mại còn chưa được điều chỉnh, nhằm mở rộng hệ thống thương
mại đa biên sang một số lĩnh vực mới. Trong đó, quan trọng nhất là: dịch vụ, sở
hữu trí tuệ và cải tổ hệ thống thương mại trong một số lĩnh vực có tính nhạy cảm
cao như hàng nông sản và hàng dệt may, mọi nguyên tắc về điều khoản ban đầu
của GATT đều được rà soát lại.
Hai năm sau đó, vào tháng 12 năm 1988, các Bộ trưởng gặp nhau tại Montreal,
Canada nhằm mục đích kiểm điểm lại những tiến triển tại thời điểm giữa vòng
đàm phán, bên cạnh đó tiếp tục đề ra mục tiêu cho các cuộc đàm phán tiếp theo.
Tuy nhiên, đàm phán đã đi đến bế tắc. Mọi vấn đề chỉ được giải quyết tại hội nghị
ở Geneva 4 năm sau đó. Mặc dù gặp phải nhiều khó khăn, tại hội nghị Montreal
12
các vị bộ trưởng đều thống nhất thông qua hầu hết các kết quả ban đầu gồm : các
nhượng bộ mở cửa thị trường cho hàng nhiệt đới nhằm mục đích giúp đỡ các nước
đang phát triển; cơ chế giải quyết tranh chấp được đơn giản hóa và một cơ chế rà
soát chính sách thương mại. Từ trước đến nay, đây là lần đầu tiên đưa ra được một
cơ chế thường xuyên, mang tính hệ thống và toàn diện để rà soát chính sách và
thực hành thương mại đối với các nước thành viên của GATT. Vòng đàm phán
này đã dự định kết thúc tại Brussels vào tháng 12 năm 1990, nhưng do bất đồng
quan điểm giữa các bên về cách thức tiến hành cải cách hệ thống thương mại hàng
nông sản nên đã phải kéo dài. Đây là thời kỳ vòng Uruguay đang đi vào giai đoạn
khó khăn nhất. Cho dù viễn cảnh chính trị đen tối, một khối lượng công việc kỹ
thuật đáng kể đã được thực hiện và dẫn đến kết quả là có một dự thảo hiệp định
pháp lý cuối cùng, dự thảo này được gọi là “Dự thảo luật cuối cùng”. Dự thảo này
được đệ trình tại Geneva vào năm 1991. Dự thảo đã hoàn tất được tất cả các mục
tiêu đề ra tại Punta del Este, ngoại trừ danh mục cam kết cắt giảm thuế quan và mở
cửa thị trường dịch vụ của các nước. Dự thảo này đã trở thành cơ sở để có được sự
được thực hiện ngay lập tức. Các nước cũng yêu cầu cần có báo cáo thường xuyên
về hệ thống chính sách thương mại của các nước thành viên, đây là một bước tiến
hết sức quan trọng nhằm làm minh bạch hóa hệ thống chính sách của các nước
trên thế giới.
Với kết quả của vòng đàm phán Uruguay người ta ước tính thuế quan nói
chung sẽ giảm đi trung bình khoảng 40%. Dự kiến Mĩ sẽ giảm 35%, Canada 45%,
ấn Độ 55%, Nam Triều Tiên (Hàn Quốc) 41%, Đài Loan giảm khoảng 30 - 50%
cho hàng công nghiệp và nông sản. Với mức thuế hàng nông sản nói riêng, trong
vòng 6 năm tới tính từ năm 1995 sẽ giảm 36% và mức trợ cấp gây phương hại cho
thương mại bình đẳng cũng sẽ giảm 20%. Do đó, người ta dự đoán rằng từ năm
1995 đến năm 2002, buôn bán quốc tế sẽ tăng thêm từ 213 - 272 tỷ đô la mỗi năm,
xuất khẩu thế giới mỗi năm tăng 5% nhập khẩu tăng 3,5%.
* Chương trình nghị sự : 15 chủ đề tại vòng đàm phán Uruguay
+ Thuế quan
+ Hàng rào phi thuế quan
+ Sản phẩm tài nguyên thiên nhiên
14
+ Hàng dệt may
+ Nông nghiệp
+ Sản phẩm nhiệt đới
+ Các điều khoản của GATT
+ Các hệ thống qui định của vòng đàm phán Tokyo
+ Chống phá giá
+ Trợ cấp
+ Tài sản trí tuệ
+ Các biện pháp đầu tư
+ Giải quyết tranh chấp
+ Hệ thống GATT
+ Dịch vụ.
+ Cơ chế giải quyết tranh chấp của mỗi hiệp định đa phương.
Tuy nhiên, cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT còn bị những hạn chế :
+ Các nghị quyết đạt được không giải quyết được những tranh chấp phát
sinh, thường dẫn đến việc các bên thương lượng hoà giải là chính.
+ Hệ thống giải quyết tranh chấp không mang tính tự động do vậy bên bị
kiện có thể dễ dàng gây khó khăn để ngăn cản một nhóm chuyên trách (Ban hội
thẩm) tiến hành hoạt động của mình.
+ Thời hạn tiến hành qui trình giải quyết tranh chấp quá dài.
+ Hệ thống không có cơ chế bảo đảm cho các nghị quyết được thực hiện.
Những khiếm khuyết trên làm giảm bớt những giá trị của tự do hoá thương
mại mà hệ thống thương maị đa phương đem lại các nước đã vấp phải nhiều khó
khăn trong việc giải quyết tranh chấp với các đối tác mạnh hơn mình.
Đối với WTO, tổ chức thương mại thế giới đã đưa ra được một cơ chế giải
quyết tranh chấp hoàn chỉnh hơn, cho phép các mối quan hệ trong thương mại
quốc tế được giải quyết một cách công bằng hơn, hạn chế được những hành động
đơn phương, độc đoán của các cường quốc thương mại, cho phép nhanh chóng
tháo gỡ những ách tắc thường xảy ra và khó giải quyết trước đây. Các thủ tục của
WTO dựa trên qui định luật pháp và giúp cho hệ thống thương mại an toàn và dễ
dự báo hơn. Hệ thống này dựa trên các qui tắc được xác định rõ ràng với cả biểu
thời gian để hoàn thành một vụ tranh chấp. Một nhóm chuyên gia sẽ được thành
16
lập cho mỗi tranh chấp. Nhóm này sẽ đưa ra các qui định đầu tiên và các thành
viên WTO có thể ủng hộ hay phản đối, các kháng cáo dựa trên luật là có thể chấp
nhận được. Các thành viên WTO đều nhất trí rằng khi mà một nước thành viên
khác đang vi phạm qui tắc thương mại, họ sẽ sử dụng hệ thống thương mại đa biên
để giải quyết tranh chấp thay cho việc thực hiện các hành động đơn phương.
Trước đây GATT có thủ tục để giải quyết tranh chấp nhưng nó chưa đưa ra
được thời gian biểu cụ thể, các qui định dễ bị cản trở và nhiều vụ vẫn không giải
quyết được sau một thời gian dài. WTO đã đưa ra một quy trình giải quyết tranh
gây ra các ảnh hưởng xấu không muốn có.
Ngoài ra, WTO còn có những mục tiêu sau:
+ Nâng cao mức sống của con người.
+ Bảo đảm tạo đầy đủ công ăn việc làm, tăng trưởng vững chắc thu nhập và nhu
cầu thực tế của người lao động.
+ Phát triển việc sử dụng hợp lý của người lao động.
+ Phát triển việc sử dụng hợp lý các nguồn lực của thế giới .
+ Mở rộng việc sản xuất và trao đổi hàng hóa dịch vụ trên phạm vi toàn thế giới.
1.2.2 Chức năng của WTO.
WTO có những chức năng sau đây:
Chức năng thứ nhất của WTO: Là tổ chức các cuộc đàm phán mậu dịch đa biên
mà nội dung của nó rất đa dạng đề cập lớn tới nhiều lĩnh vực khác nhau. Thông
qua các cuộc đàm phán như vậy, việc tự do hoá mậu dịch của các nước trên thế
giới được phát triển, đồng thời những qui tắc quốc tế mới cũng được xây dựng và
sửa đổi theo yêu cầu của thời đại.
Chức năng thứ hai của WTO: Là một luật lệ quốc tế chung được các nước thành
viên cùng nhau ký kết. WTO đề ra những qui tắc quốc tế về thương mại và đảm
bảo các nước thành viên của WTO phải thực hiện các nguyên tắc đó. Đặc trưng
của các quyết định và qui tắc của WTO là nó có hiệu lực bắt buộc tất cả các thành
viên và có khả năng làm cho mọi thành viên có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện.
Bất cứ một nước thành viên nào một khi đã thừa nhận "hiệp định WTO" và những
hiệp định phụ khác của WTO thì nước đó cần phải điều chỉnh hay chuyển các quy
định pháp luật và các thủ tục hành chính của mình theo các quy định của WTO.
18
Chức năng thứ ba của WTO: Là khả năng giải quyết các mâu thuẫn và tranh chấp
mậu dịch quốc tế. WTO có chức năng như là một toà án giải quyết các tranh chấp
nảy sinh giữa các thành viên trong các lĩnh vực liên quan. Bất cứ một thành viên
nào của WTO khi thấy lợi ích của nước mình đang bị xâm hại trong hoạt động
kinh tế ở một thị trường nào đó vì có thành viên khác đang thực hiện chính sách
nhiều hơn thì đối xử "tốt nhất" đó phải được giành cho tất cả các nước thành viên
WTO khác để các nước khác vẫn tiếp tục có được đối xử tối huệ quốc. Nguyên tắc
MFN đảm bảo rằng mỗi thành viên WTO đối xử trên 140 thành viên khác tương
tự nhau.
Nguyên tắc này rất quan trọng vì vậy nó được ghi nhận tại điều đầu tiên của
hiệp định chung về quan thuế và thương mại GATT về thương mại hàng hoá.
Nguyên tắc MFN cũng được đề cao trong hiệp định chung về dịch vụ GATS, hiệp
định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại TRIMs tuy có khác nhau
một ít ở từng hiệp định.
Đối xử quốc gia (NT): đối xử người nước ngoài và người trong nước như
nhau. Hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước phải được đối xử như nhau, ít
nhất là sau khi hàng hoá nhập khẩu đã đi vào đến thì trường nội địa. Theo nguyên
tắc này, khi áp dụng những qui chế trong nước và thuế nội địa đối với hàng nhập
khẩu thì phải cung cấp các điều kiện tương tự như đối với sản phẩm trong nước.
Vì thế các thành viên của WTO không được áp dụng thuế nội địa để bảo vệ sản
xuất trong nước và không được phân biệt đối xử đối với hàng nhập khẩu từ các
nước thành viên WTO khác.
Nguyên tắc này cũng áp dụng cho dịch vụ nhãn hiệu thương mại, bản quyền
và quyền phát minh sáng chế trong nước và của nước ngoài. Đối xử quốc gia chỉ
áp dụng được khi hàng háo dịch vụ và đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ đã vào
đến thị trường. Vì vậy, việc đánh thuế nhập khẩu hàng hoá không vi phạm nguyên
tắc này mặc dù hàng nội địa không chịu thuế tương tự.
Nguyên tắc thứ hai: Thương mại phải ngày càng được tự do thông qua đàm
phán.WTO đảm bảo thương mại giữa các nước ngày càng tự do hơn thông qua quá
trình đàm phán hạ thấp hàng rào thuế quan để thúc đẩy buôn bán. Hàng rào thương
mại bao gồm thuế quan, và các biện pháp khác như cấm nhập khẩu, quota có tác
20
dụng hạn chế nhập khẩu có chọn lọc, đôi khi vấn đề khác như tệ quan liêu, chính
sách ngoại hối cũng được đưa ra đàm phán.
theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt, nhằm bảo đảm các thoả thuận này tạo thuận
lợi cho thương mại các nước liên quan song không làm tăng hàng rào cản trở
thương mại với các nước ngoài liên kết.
Nguyên tắc thứ sáu: Các điều kiện đặc biệt dành cho các nước đang phát triển.
WTO là một tổ chức quốc tế với hơn 2/3 tổng số nước thành viên là các nước đang
phát triển và các nền kinh tế đang chuyển đổi, vì thế một trong những nguyên tắc
cơ bản của WTO là khuyến khích phát triển, dành những điều kiện đối xử đặc biệt
và khác biệt cho các nước này, với mục tiêu đảm bảo sự tham gia sâu rộng hơn của
họ vào hệ thống thương mại đa biên. Để thực hiện được nguyên tắc này, WTO
dành cho các nước đang phát triển và các nền kinh tế đang chuyển đổi những linh
hoạt và các ưu đãi nhất định trong việc thực thi các hiệp định, đồng thời chú ý đến
việc trợ giúp kỹ thuật cho các nước này. 22
CHƯƠNG 2. TÁC ĐỘNG CỦA WTO ĐẾN CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT
TRIỂN
2.1. Những ảnh hưởng của WTO đối với các nước đang phát triển.
2.1.1. Những ảnh hưởng tích cực.
Tổ chức thương mại thế giới WTO là một tổ chức quốc tế, điều tiết hệ thống
thương mại đa biên, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của nền kinh tế thế giới
nói chung và đến nền kinh tế của mỗi quốc gia thành viên nói riêng. Đối với các
nước đang phát triển, gia nhập WTO đã mang lại được rất nhiều lợi ích thiết thực
đối với công cuộc phát triển kinh tế của họ. Cùng với quá trình toàn cầu hoá kinh
tế và đặc biệt là sự ra đời của WTO từ năm 1995, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế bình
quân của các nước đang phát triển luôn đạt khoảng từ 4% đến 5%. Tỷ trọng kinh
tế của các nước này trong nền kinh tế toàn cầu đã tăng lên nhanh chóng, từ 13%
năm 1995 lên 29% năm 1998 (chỉ 3 năm, sau khi WTO ra đời). Tỷ trọng trong
thương mại thế giới của các nước đang phát triển cũng tăng lên từ 11% đến 32%
trong cùng thời kỳ. Đến năm 2010, theo dự báo, tỷ lệ này có thể lên tới 45%. Đặc
mình trên thị trường quốc tế, giành được nhiều ưu đãi thương mại tạo được cho
mình lợi thế kinh tế chính trị, thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư của nước
ngoài.
Thứ năm, các quan hệ kinh tế, văn hoá, chính trị với các nước thành viên được
mở rộng, tiếp thu được nhiều kinh nghiệm tốt trong quản kí kinh tế, xã hội, khoa
học kĩ thuật, tiếp cận được các thành tựu KHKT tiên tiến trên thế giới, cũng như
tiếp thu được các lối sống văn hoá của các nền văn minh khác nhau trên thế giới.
Thứ sáu, hoạt động của WTO khiến cho cạnh tranh quốc tế ngày càng trở nên
gay gắt, do đó các doanh nghiệp của các nước đang phát triển buộc phải tìm tòi,
khắc phục những hạn chế của mình, đồng thời áp dụng công nghệ mới phát triển
bền vững hoạt động sản xuất kinh doanh, tích tụ được nhiều nguồn lực để có thể
nâng cao khả năng cạnh tranh tích cực trong nước thúc đẩy nền kinh tế phát triển
và có đủ năng lực canh tranh được với nước ngoài, thích ứng với xu hướng toàn
cầu hoá hiện nay. Cạnh tranh với bất cứ bản chất nào thì cũng khiến cho các nước
đang phát triển có tầm nhìn tốt hơn, tiếp cận được kỹ thuật công nghệ tiên tiến của
các nước phát triển, đồng thời thúc đẩy các doanh nghiệp nội địa cải tiến và chấp
24
nhận các tiêu chuẩn giám sát quốc tế tốt nhất, kiểm soát được rủi ro và thúc đẩy
sản xuất kinh doanh phát triển.
Thứ bẩy, vấn đề di chuyển lao động giữa các nước thành viên đã trở nên dễ
dàng hơn. Di chuyển lao động tự do đã mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho các
nước đang phát triển. Cái lợi của các nước đang phát triển thường xuyên xuất khẩu
lao động là nhận được một khoản thu nhập ngoại tệ không nhỏ từ tiền lương mà
nước sở tại trả cho người lao động. Theo báo cáo của Economic Aspects thì trong
những năm 1990 - 1995 khoản tiền đó lên đến 70 tỷ USD. Xuất khẩu lao động có
vị trí đặc biệt đối với các nước đang phát triển, vừa thay đổi cán cân kinh tế vừa
tăng sức mua của xã hội thúc đẩy thương mại và sản xuất nội địa. Thêm vào đó,
các nước phát triển thường nhập khẩu lao động từ các nước đang phát triển và sau
thời gian làm việc cho các hãng, công ty kinh nghiệm, tay nghề và trình độ của