GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGUỒN VỐN TẠI SỞ GIAO DỊCH I NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - Pdf 73

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG
VỐN VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGUỒN VỐN TẠI
SỞ GIAO DỊCH I NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT
TRIỂN VIỆT NAM

A. PHÂN TÍCH MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN HUY ĐỘNG
VỐN VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGUỒN VỐN
1. XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU
1.1 Mục tiêu của toàn hệ thống NHĐT&PTVN:
Trong năm 2002, cùng với tiến trình cải tổ lại toàn bộ hệ thống Ngân Hàng
Việt Nam. NHĐT&PT đã đề ra mục tiêu tổng quát như sau:
Cơ cấu lại gắn liền với phát triển toàn diện vững chắc, giữ vững nhịp độ tăng
trưởng cao, hiệu quả, an toàn phục vụ đầu tư phát triển. Đổi mới đa dạng sản phẩm
và dịch vụ với cơ cấu hợp lí, chất lượng tốt, không ngừng nâng cao sức cạnh tranh
của toàn hệ thống theo đòi hỏi của cơ chế thị trường và lộ trình hội nhập quốc tế,
phát triển bền vững Ngân Hàng đầu tư &phát triển Việt Nam làm nòng cốt cho
việc xây dựng và phát triển tập đoàn tài chính-tín dụng đa năng vững mạnh, hội
nhập quốc tế, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đát
nước.
Biểu 12:
MỘT SỐ CHỈ TIÊU PHẤN ĐẤU CỦA TOÀN NGHÀNH NHĐT&PTVN
(Đơn vị: Tỉ VND)
Năm
Chỉ tiêu
2002 2003 2005
Tài sản 78 000 100 000 150 000
Huy động vốn 50 000 65 000 100 000
Tín dụng
(TD trung+dài)
53 000
45%

Khó khăn:
- Cơ cấu sản xuất trong từng nghành, từng lĩnh vực chưa chuyển dịch kịp
thời theo sự biến động nhanh của nhu cầu thị trường trong và ngoài nước.
- Kinh tế thế giới diễn biến phức tạp và không thuận lợi, những khó khăn có
thể còn kéo dài và ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng tăng trưởng kinh tế của nước
ta, thu nhập của nền kinh tế nước ta còn thấp và tăng chậm.
- Diễn biến lãi suất phức tạp rất khó lường trước, theo chiều hướng không
thuận lợi cho hoạt động Ngân Hàng.
Nhận định được những thuận và khó khăn trong những năm kế tiếp cùng với
sự phát triển chung của toàn hệ thống NHĐT&PTVN, SGD I cần thiết phải cụ thể
hóa mục tiêu và kế hoạch .
1.2.2 Mục tiêu về quản lí và huy động vốn của SGD I:
Xác định cơ cấu đầu tư của toàn hệ thống, duy trì mức tăng trưởng cao hơn
mức tăng trưởng của toàn nghành, được sự hỗ trợ đầu tư của TW, với nguồn lực
hiện có, đơn vị đã xác định một số chỉ tiêu trong kế hoạch kinh doanh năm, 2003
như sau:
Tổng tài sản: 1 150 tỉ VND
Nguồn vốn huy động: 9 480 tỉ VND
Lợi nhuận: 90 tỉ VND
Phấn đấu đến năm 2010 xây dựng đơn vị thành một tập đoàn tài chính tín dụng
có các chỉ số hoạt động chuẩn mực với các chỉ tiêu hoạt động như sau:
Biểu 13:
CHỈ TIÊU TỔNG QUÁT CỦA SGD I NHĐT&PTVN
(Đơn vị: Tỉ VND)
Năm
Chỉ tiêu
2005 2010
Tốc độ tăng trưởng
tổng tài sản bình
quân từ năm 2000

Thái Lan vào giữa năm 1997, đã gián tiếp ảnh hưởng đến kinh tế nước ta: xuất
khẩu sang các nước láng giềng giảm, nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào trong
nước sụt giảm. Bởi vậy nền kinh tế nước ta bị chững lại vào năm 1998, năm 1999
tỉ lệ tăng trưởng GDP giảm xuống còn 4-5% so với cùng kì những năm trước là 8-
9%. Trong hai năm 2000, 2001 nền kinh tế nước ta từ từ phục hồi và tăng trưởng,
NHNN tiếp tục nới lỏng chính sách tiền tệ nhằm kích cầu GDP năm 2001 đã được
là 6.8%.
Cũng trong năm 2002, chính sách tiền tệ mở rộng đã trở nên phổ biến trên toàn
cầu. Hiện nay, cục dữ trữ Liên Bang Mĩ Fed đã cắt giảm lãi suất cơ bản xuống ở
mức 1.75% một năm, sau 11 lần hạ từ mức 6.5%. Đây là mức thấp nhất kể từ 40
năm qua. Động thái này sẽ có lợi đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt
Nam ở chỗ: Làm giảm nhẹ gánh nặng nợ nước ngoài, đồng vốn nước ngoài trở nên
rẻ hơn, giảm sức ép về tỉ giá, cho phép các nước nới lỏng chính sách tiền tệ chống
suy thoái hay duy trì tăng tăng trưởng ổn định, gia tăng xuất khẩu. Tuy nhiên điều
này sẽ có được nếu như Việt Nam xây dựng một hệ thống tài chính vững mạnh
2.1.2 Chính sách lãi suất, tỉ giá:
Các chỉ số chứng khoán, lãi suất, tiền gửi, tỉ giá là những điểm, là vấn đề đầy
nhạy cảm trong các nền kinh tế thị trường. Các chỉ số này đều là những biến số vĩ
mô quan trọng trong việc hoạch định chiến lược của Ngân Hàng. Trong phạm vi đề
tài này em xin phép được bỏ qua biến chỉ số chứng khoán vì qui mô chứng khoán
hóa của nền kinh tế nước ta còn rất nhỏ so với tổng GDP.
* Công cụ lãi suất:
Thời gian qua, chính sách lãi suất được đổi mới từng bước theo hướng tự do
hóa, cơ chế điều hành lãi suất ngày càng trở nên linh hoạt hơn, phù hợp với cung
cầu vốn trên thị trường. Diễn biến lãi suất được kiểm soát (từ 3 con số nay xuống
dưới 10%). Quyền ấn định lãi suất kinh doanh của các tổ chức tín dụng được mở
rộng cho nên cạnh tranh trên thị trường tiền tệ tăng lên, nhưng Nhà nước vẫn kiểm
soát được các mức lãi suất, biểu hiện ở tỉ lệ tăng trưởng vốn huy động và tín dụng
của hệ thống các tổ chức tín dụng đối với nền kinh tế ở mức cao, 15-22%/năm
(riêng NHĐT&PT là trên 22%).

càng hẹp, gây khó khăn cho việc huy động nguồn vốn của Ngân Hàng.
- Cơ chế điều hành lãi suất ngoại tệ: LSCV ngoại tệ ngắn hạn không vượt quá
mức bằng lãi suất tiền tệ liên Ngân Hàng Singapo thời hạn 3 tháng + tối đa
một năm.
Lãi suất cho vay ngoại tệ trung, dài hạn không vượt quá mức = lãi suất thị
trường tiền tệ liên Ngân Hàng Singapo kì hạn 6 tháng + tối đa 2.5%/năm.
- Từ 1/6/2001, NHNN bỏ cơ chế khống chế biên độ, cho phép các Ngân Hàng
thương mại và tổ chức tín dụng dựa trên lãi suất thị trường quốc tế và cơ cấu
nguồn vốn ngoại tệ trong nước mà thỏa thuận với khách hàng của mình mức
lãi suất cho vay phù hợp. Qui định này vừa tạo ra thuận lợi lẫn bất lợi cho
Ngân Hàng. Thuận lợi ở chỗ: Sở có thể bằng khả năng của mình chủ động
hơn trong việc tìm kiếm các nguồn ngoại tệ rẻ trên thị trường trong nước, mua
vào bán ra thông qua các hợp đồng Spot hay kì hạn để thu chênh lệch tỉ giá
nếu dự đoán đúng với xu hướng của thị trường. Bất lợi ở điểm vì chưa được
trung ương cho phép kinh doanh trực tiếp trên thị trường tiền tệ quốc tế nên
Ngân Hàng không được vượt rào mà phải vận dụng được khả năng kinh
doanh nhanh nhạy của mình. Hơn nữa, nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ chỉ vừa
mới được sở tiến hành trong thời gian ngắn nên chưa có kinh nhgiệm và đủ
mạnh bằng các Ngân Hàng khác.
Như vậy, phản ứng của thị trường, của các tổ chức tín dụng, và người gửi,
người vay tiền cho thấy cơ chế lãi suất cơ bản và cơ chế lãi suất ngoại tệ nói trên là
phù hợp với lộ trình tự do hóa tài chính khu vực, là bước đi thích hợp. Tuy nhiên,
xét theo quan điểm tự do hóa, trong điều kiện cải cách các Ngân Hàng thương mại
mới ở giai đoạn đầu, thì cơ chế lãi suất vẫn chứa đựng một số bất cập và có tác
động ngược chiều tới hoạt động huy động vốn của Ngân Hàng.
* Công cụ tỉ giá:
Hiện nay, mục tiêu cuối cùng của NHNN trong việc cải cách cơ chế điều hành
tỉ giá là tiến tới thả nổi tỉ giá, qua đó ổn định thị trường ngoại hối, thị trường tiền
tệ. NHNN đã thực hiện cải cách thận trọng cơ chế điều hành tỉ giá. Chính sự thận
trong này đã mang lại những thành công lớn trong thời gian qua là góp phần vào sự

Ngân Hàng Việt Nam, trong đó có SGD trước nhiều thách thức. Mối lo ngại lớn
nhất của Ngân Hàng có lẽ là có thêm nhiều đối thủ cạnh tranh với nguồn tài chính
dồi dào và dày dạn kinh nhgiệm hơn.Hiệp định thương mại qui định rõ, sau 9 năm
kể từ ngày có hiệu lực, các Ngân Hàng Mĩ được phép thành lập Ngân Hàng con
100% vốn nước ngoài tại Việt Nam. Trong thời gian 9 năm “ân hạn” cho các Ngân
Hàng Việt Nam, các Ngân Hàng Mĩ có thể thành lập Ngân Hàng liên doanh với đối
tác trong nước. Hơn nữa, đối tác trong đã cắm rễ vào thị trường, nay có thêm
nguồn lực tài chính, cộng thêm các công nghệ, dịch vụ mới được chuyển giao từ
đối tác bên ngoài, một Ngân Hàng liên doanh với Mĩ cũng là một đối thủ đáng
gờm đối với các Ngân Hàng trong nước nói chung và SGD I nói riêng.
Trên đây là một số đánh giá chủ quan của bản thân em về tác động của các
nhân tố vĩ mô tới huy động vốn và giải pháp chiến lược phát triển nguồn vốn tại
SGD I NHĐT&PTVN . Sau đây em xin được tiếp tục phân tích đánh giá các nhân
tố thuộc môi trường vi mô.
1.2 Các nhân tố thuộc môi trường vi mô:
2.2.1 Phân tích các đối thủ cạnh tranh:
 Tổng quan về thị trường tài chính Việt Nam:
Hiện nay, hệ thống tài chính của Việt Nam bao gồm 6 NHTMQD (chiếm 82%
tổng tài sản của hệ thống Ngân Hàng), khoảng 50 Ngân Hàng Thương mại cổ phần
mà cổ phần của nó bao gồm cả DNNN lẫn tư nhân (chiếm 10% tổng tài sản của hệ
thống Ngân Hàng), 27 chi nhánh Ngân Hàng nước ngoài và 4 Ngân Hàng liên
doanh cùng nhau chiếm 8% tổng tài sản của cả hệ thống tài chính. Tổng tài sản của
hệ thống Ngân Hàng Việt Nam mới tương đương 38%GDP, tổng dư nợ tín dụng là
22%GDP và tổng tiền gửi là 20% GDP. Điều này nói lên mức độ tiền tệ hóa của hệ
thống tài chính ở nước ta còn thấp, chưa theo kịp các nước trong khu vực. Thái
Lan, Indonexa, Philippin...(tổng tài sản của hệ thống Ngân Hàng các nước này đạt
từ 100-150%GDP).
Thực tế cho thấy, chỉ số độc quyền HHI trên thị trường Ngân Hàng đã giảm đi
nhanh chóng từ khoảng 80% năm 1993 xuống còn 35% vào năm 1999. Trong
những năm tiếp theo, cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn trong toàn hệ thống

định về hoạt động Ngân Hàng sẽ được nới lỏng hơn ...Chẳng hạn, NHNN sẽ nới
lỏng phạm vi hoạt động của các Ngân Hàng nước ngoài, cho phép huy động tiết
kiệm VND, USD từ dân cư.
Tự do hóa lãi suất, nới lỏng qui định hoạt động cho các tổ chức tín dụng sẽ
làm giảm ưu thế của SGD. Nếu lãi suất tiền gửi của pháp nhân được tự do hóa, cho
phép các tổ chức tín dụng nước ngoài được huy động tiết kiệm sẽ là thách thức lớn
đối với các NHTMQD nói chung và SGD nói riêng trong việc duy trì thị phần vốn
huy động, bởi các NHTM được phép sử dụng các công cụ cạnh tranh nhằm thu hút
vốn, mở rộng thị phần. Như vậy, Ngân Hàng phải có chiến lược dài hạn để đối phó
với môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn.
Ngân Hàng nước ngoài huy động ở Việt Nam từ đầu những năm 90, ban đầu
chủ yếu phục vụ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhưng nay đã mở
rộng đối tượng khách hàng sang cả doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên, họ chỉ tập
trung vào các doanh nghiệp hoạt động có lãi lớn, luồng chu chuyển lớn và có
nguồn ngoại tệ thu được từ xuất khẩu ổn định, số lượng tương đối. Đây cũng là
những khách hàng ưu tiên truyền thống của sở. Do vậy thách thức đang phải đối
mặt của Ngân Hàng là làm sao phải duy trì được khách hàng truyền thống, khách
hàng có chất lượng tốt, không bị chia sẻ với các đối thủ cạnh tranh khác.
- Các Ngân Hàng thương mại cổ phần (NHTMCP):
Các Ngân Hàng thương mại cổ phần đã tập trung có qui mô nhỏ nên chỉ tập
trung vào các khách hàng nhỏ hay phát triển hoạt động Ngân Hàng bán lẻ (đây là
thị trường mà NHĐT&PT hiện còn bỏ ngỏ). Khi có tiềm lực tài chính, qui mô vốn
và uy tín được nâng cao, các NHTMCP cũng sẽ xâm nhập vào các khách hàng lớn.
Chiến thuật “nhỏ là đẹp” của một số NHTMCP đã đạt được hiệu quả cao. Điều này
được thấy rõ nhất ở NHTMCP Á Châu. Cho đến nay, NHTMCP Á Châu là một
trong những đối thủ cạnh tranh mạnh nhất về thị trường thẻ tín dụng ở nước ta.
Ngoài ra, Ngân Hàng này cũng đã thâm nhập vào thị trường tín dụng của một số
khách hàng lớn thông qua hình thức đồng tài trợ.
Tóm lại, để duy trì được thị phần ổn định trước mức độ cạnh tranh gay gắt như
hiện nay, đòi hỏi Ngân Hàng phải có giải pháp tổng thể kế hoạch huy động vốn

cung cấp các sản phẩm dịch vụ như bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm an sinh xã hội,
bảo hiểm học đường ... Thị phần huy động vốn của các công ti bảo hiểm gia tăng
hàng năm đây là mối lo ngại cho các NHTM.
Giải pháp cho tình huống này là sở cần kết hợp với công ti bảo hiểm. Hiện tại,
sở đang phối hợp với Chìnon, Prudential làm dịch vụ chi trả lương cho nhân viên
các hãng này, qua đó thu hút được một lượng lớn và có khả năng cung ứng các sản
phẩm dịch vụ khác như: phát triển dịch vụ cho vay đời sống, tổ chức thu nợ hàng
tháng từ tài khoản tiền lương, thanh toán hộ một số khoản chi phí điện, nước, bảo
hiểm ... theo định kì, thực hiện nghiệp vụ môi giới, tiền gửi thanh toán, hỗ trợ vốn
trong giao dịch mua bán bất động sản và các tài sản khác có giá trị lớn qua tài
khoản Ngân Hàng.
1.2.2 Các quan hệ với khách hàng
*Khách hàng truyền thống hiện nay của Ngân Hàng là các đơn vị thuộc tổng
công ti 90-91 thuộc các nghànhd kinh tế trọng điểm như dầu khí, sản xuất vật liệu
xây dựng ...
Cho đến nay, cả nước có 17 tổng công ti 91 và 77 tổng công ti 90 trong đó có
những lĩnh vực chỉ có một tổng công ti 91 như bưu chính viễn thông, dầu khí và
hàng không. Các tổng công ti Nhà nước có 1392 doanh nghiệp thành viên bằng
24% tổng số doanh nghiệp Nhà nước, nắm giữ 66% về vốn, 55% về lao động trong
đó riêng 17 tổng công ti 91 có 532 doanh nghiệp thành viên bằng hơn 10% số
doanh nghiệp Nhà nước, nắm giữ 56% tổng số vốn kinh doanh và 35% lao động.
Do đặc tính qui mô lớn nên các tổng công ti 90-91 đã tạo nên được hình thức
độc quyền tự nhiên và đạt được một số kết quả nhất định, từng bước tạo lập được
vị thế trong kinh doanh, đầu tư có trọng điểm, mở rộng thị trường, tăng cường xuất
nhập khẩu, nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh.
Nhu cầu đầu tư và công nghệ mới, để thích ứng với sự cạnh tranh trong điều
kiện hiện nay đòi hỏi phải có một lượng vốn lớn để nhập máy móc thiết bị và công
nghệ cũng như mở rộng các hoạt động sản xuất kinh doanh hiện tại. Trong khi thị
trường vốn nước ta mới phát triển thì Ngân Hàng được coi là nơi duy nhất để các
công ti này tìm kiếm nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là tìm đến NHĐT&PT thông qua


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status