Một số khái niệm cơ bản liên quan đến quá trình tiêu thụ và xác định
kết quả tiêu thụ
1. Doanh thu bán hàng
Khi doanh nghiệp bán hàng hoá, sản phẩm, cung cấp lao vụ, dịch vụ cho
khách hàng, giá trị thực hiện được gọi là doanh thu bán hàng. Nói cách khác, là
toàn bộ số tiền bán hàng hoá, sản phẩm, cung cấp lao vụ, dịch vụ (kể cả phụ thu và
phí thu thêm ngoài giá bán – nếu có) mà doanh nghiệp được hưởng. Tuy nhiên, phụ
thuộc vào cách tính thuế hàng tiêu thụ mà chỉ tiêu doanh thu bán hàng có sự khác
biệt nhất định.
Đối với các doanh nghiệp tính thuế VAT theo phương pháp khấu trừ, chỉ tiêu
doanh thu không bao gồm thuế VAT phải nộp về lượng hàng tiêu thụ.
Ngược lại, các doanh nghiệp tính thuế VAT theo phương pháp trực tiếp cũng
như đối với các đối tượng không chịu thuế VAT (đối tượng thuế xuất khẩu thuế tiêu
thụ đặc biệt), trong chỉ tiêu doanh thu bán hàng còn bao gồm cả thuế phải nộp về
hàng tiêu thụ (tổng giá thanh toán).
2. Các khoản điều chỉnh giảm doanh thu
Để thúc đẩy nhanh quá trình thanh toán tiền hàng, các doanh nghiệp thường
xác định một tỷ lệ thưởng cho người mua và gọi là chiết khấu bán hàng (chiết khấu
thanh toán). Chiết khấu thanh toán là số tiền thưởng tính trên tổng số doanh thu đã
thu chấp nhận cho khách hàng do đã thanh toán trước thời hạn quy định.
Ngoài ra, trong quá trình mua hàng, người mua còn được hưởng khoản giảm
giá hàng bán. Giảm giá hàng bán là số tiền giảm trừ cho khách hàngtính trên giá
hoá đơn hay hợp đồng cung cấp dịch vụ do các nguyên nhân đặc biệt như hàng
kém phẩm chất, không đúng quy cách, giao hàng không đúng thời gian, địa điểm
trong hợp đồng v,v… (do chủ quan của doanh nghiệp). Giảm giá hàng bán còn bao
gồm cả khoản hồi khấu và bớt giá. Hồi khấu là số tiền thưởng cho khách hàng do
trong một khoảng thời gian nhất định đã mua một khối lượng lớn hàng hoá (tính
theo tổng số hàng đã mua trong thời gian đó). Bớt giá là khoản thưởng (giảm trừ)
trên giá bán thông thường vì mua khối lượng lớn hàng hoá trong một đợt
Trong quá trình tiêu thụ, còn phát sinh khoản hàng bán bị trả lại. Hàng bán
bị trả lại là số hàng đã được coi là tiêu thụ (đã chuyển giao quyền sở hữu, đã thu
như chi phí quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và chi phí chung khác.
8. Lãi thuần
Lãi thuần về tiêu thụ là phần chênh lệch (phần còn lại) giữa lãi gộp và chi
phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
9. Lãi sau thuế
Lãi sau thuế được xác định bằng lãi thuần trừ đi thuế thu nhập doanh nghiệp
phải nộp
10. Mối quan hệ giữa doanh thu, chi phí và xác định kết quả HĐKD
Tổng doanh thu bán hàng sau khi trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu, phần
còn lại được gọi là doanh thu bán hàng thuần.
Trong nền kinh tế thị trường, kết quả tiêu thụ là mối quan tâm hàng đầu của
các nhà quản trị, người đầu tư, chủ nợ… kết quả tiêu thụ sản phẩm hàng hoá dịch
vụ được biểu hiện dưới các chỉ tiêu “Lãi gộp” và “Lãi thuần”.
Lãi gộp về tiêu thụ sản phẩm = Doanh thu thuần - giá vốn hàng bán.
Lãi thuần về tiêu thụ là phần chênh lệch (phần còn lại) giữa lãi gộp và chi
phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
Kết quả tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp được xác định bằng số
chênh lệch giữa một bên là doanh thu thuần và một bên là giá vốn hàng bán, chi
phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
III/ Các phương thức tiêu thụ hàng hoá
Quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá là quá trình xuất giao(chuyển giao
quyền sở hữu) sản phẩm, hàng hoá dịch vụ cho khách hàngvà thu tiền. Hiện nay
tiêu thụ hàng hoá sản phẩm gồm có các phương thức sau:
1. Phương thức tiêu thụ trực tiếp
Là phương thức bán giao hàng cho bên mua trực tiếp thu mua tại kho. Số
hàng giao cho bên mua được coi chính thức là tiêu thụ. Người bán mất quền sở hữu
số sản phẩm này, nhưng lại có quyền thu tiền số sản phảm hàng hoá này.
Doanh thu Tổng Doanh thu Thuế tiêu thụđặc
thuần = doanh thu - Chiết khấu - Giảm giá - hàng bán bị - biệt, thuế xuất
về tiêu thụ bán hàng thương mại hàng bán trả lại khẩu phả nộp
Bên bán xuất giao hàng cho bên mua đông thời nhận hàng của bên mua,
như vậy quá trình mua và bán diễn ra trên quá trình giá phí của kế toán. Khi giao
sản phẩm, hàng hoá cho bên mua phải phản ánh thuế GTGT phải nộp theo giá bán.
6. Phương thức vận chuyển thẳng, không qua kho
Hàng thu mua không nhập kho mà vận chuyển thẳng đến giao cho người
mua. Công ty thương mại phải tiến hành thanh toán với cả bên bán và bên mua (có
tham gia thanh toán) hoặc chỉ làm trung gian, môi giới để hưởng hoa hồng (không
tham gia thanh toán).
7. Tiêu thụ nội bộ
Trong cac doanh nghiệp còn phát sinh các nghiệp vụ cung ứng sản phẩm
hàng hoá, lao vụ dịch vụ giữa các doanh nghiệp thành viên trong cùng một doanh
nghiệp lẫn nhau giữa đơn vị chính với đơn vị trực thuộc. Ngoài ra tiêu thụ nội bộ
còn những nội dung sau:
+ Doanh nghiệp sử dụng sản phẩm hàng hoá để trả lương cho công nhân
viên.
+ Sử dụng sản phẩm hàng hoá… để biếu tặng, phục vụ hội nghị của doanh
nghiệp.
+ Sử dụng hàng hoá của doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh
doanh quảng cáo.
IV/ Các phương pháp tính giá vốn của hàng tiêu thụ
Để xác định được kết quả tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, bên cạnh
các yếu tố như doanh thu thuần, chi phí quản lý, chi phí bán hàng, kế toán cần phải
xác định được trị giá vốn của hàng tiêu thụ. Trị giá vốn của hàng tiêu thụ được tính
theo giá thực tế, nhập kho giá nào thì xuất bán theo giá đó. Tuy nhiên, tuỳ thuộc
vào đặc điểm kinh doanh trong từng lĩnh vực (sản xuất, thương mại) mà trị giá vốn
của hàng tiêu thụ được xác định khác nhau. Với doanh nghiệp sản suất, trị giá vốn
của hàng bán được tính theo giá thành sản xuất thực tế (giá thành công xưởng thực
tế): còn với doanh nghiệp thương mại, trị giá vốn của hàng xuất bán bao gồm hai
bộ phận:
- Trị giá mua của hàng tiêu thụ.
quân gia quyền Số lượng thực tế hàng tồn và nhập trong kỳ
Giá thực tế Số lượng hàng hoá Giá đơn vị bình
= x
hàng hoá xuất kho xuất kho trong kỳ quân cuối kỳ trước
Giá đơn vị bình Giá thực tế hàng hoá cuối kỳ trước (tồn đầu kỳ)
=
quân cuối kỳ trước Số lượng thực tế hàng cuối kỳ trước (tồn đầu kỳ)
Gia thực tế Số lượng hàng hoá Giá đơn vị bình quân
= x
hàng hoá xuất kho xuất kho trong kỳ sau mỗi lần nhập
Giá đơn vị bình quân Giá thực tế hàng hoá tồn kho sau mỗi lần nhập
=
sau mỗi lần nhập Số lượng hàng tôn kho sau mỗi lần nhập
Phương pháp này dựa trên giả thiết rằng những hàng hoá mua sau cùng sẽ
được xuất trước tiên (ngược với phương pháp FIFO ở trên). Giả thiết nhâp sau -
xuất trước là tính đến thời điểm xuất kho hàng hoá chứ không phải đến cuối kỳ
mới xác định. Phơng pháp này thích hợp trong trường hợp lạm phát.
4. Phương pháp trực tiếp (hay thực tế đích danh)
Theo phương pháp này, hàng hoá được xác định theo đơn chiếc hay từng lô
và giữ nguyên từ lúc nhập vào cho đến khi xuất bán. Khi xuất của hàng nào thì tính
theo giá thực tế của hàng đó. Do vậy phương pháp này còn được gọi là phương
pháp đặc điểm riêng hay phương pháp thực tế đích danh. Phương pháp này thường
được dùng với các loại hàng hoá có giá trị cao và có tính tách biệt.
5. Phương pháp giá hạch toán
Do sự biến động thường xuyên và do cả việc xác định giá thực tế của hàng
hoá chỉ theo định kỳ, vì để ghi chép kịp thời trị giá hàng hoá nhập - xuất doanh
nghiệp cần dùng một loại giá ổn định trong một thời kỳ dài nên đã dùng giá hạch
toán (giá kế hoạch).
Giá hạch toán là giá tự doanh nghiệp quy định, có tính chất ổn định và chỉ
được ghi vào sổ hàng hoá hàng ngày, không có ý nghĩa trong việc thanh toán. Giá
Hệ số giá =
Trị giá hạch toán hàng tồn kho đầu kỳ và nhập trong kỳ
Chi phí thu mua của Chi phí thương mạicủa Tiêu thức
Chi phí thu mua hàng tồn đầu kỳ + hàng nhập kho trong kỳ phân bổ
phân bổ cho hàng = X cho hàng
bán ra trong kỳ Tổng tiêu thức phân bổ cho hàng bán ra bán ra
trong kỳ và hàng tồn kho cuối kỳ trong kỳ
thu. Việc tiêu thụ được coi là kết thúc khi đồng thời đã hoàn thành việc giao hàng
cho khách hàng và được khách hàng trả tiền (hoặc chấp nhận thanh toán). Chỉ được
hạch toán doanh thu khi quá trình tiêu thụ đã hoàn thành. Bán hàng ở các doanh
nghiệp thương mại thông thường bao gồm hai khâu bán buôn và bán lẻ với các
phương thức bán hàng khác nhau. Tuỳ thuộc vào từng phương thức bán hàng khác
nhau, từng phương thức bán hàng mà thời điểm xác định kết thúc tiêu thụ và hạch
toán doanh thu cũng khác nhau.
Nhiệm vụ của kế toán quá trình bán hàng là ghi chép, phản ánh đầy đủ, kịp
thời khối lượng hàng hoá bán ra, tính toán đúng đắn trị giá vốn của hàng bán ra
nhằm xác dịnh đúng kết quả kinh doanh thương mại, cung cấp thông tin kịp thời về
tình hình bán hàng phục vụ cho lãnh đạo điều hành hoạt động kinh doanh thương
mại, kiểm tra tiến độ thực hiện kế hoạch bán hàng, kế hoạch lợi nhuận bán hàng,
kỷ luật thanh toán và quản lý chặt chẽ tiền bán hàng, kỷ luật thu nộp ngân sách về
thuế.
Khi phát sinh các nghiệp vụ bán hàng kế toán phải lập, thu thập đầy đủ theo
đúng nội quy quy định của nhà nước nhằm đảm bảo cơ sở pháp lý để ghi sổ kế toán
(việc lập, thu thập, luân chuyển chứng từ kế toán phải tuân thủ theo đúng chế độ và
chuẩn mực kế toán).
Căn cứ vào chế độ chứng từ kế toán, doanh nghiệp xác định chế độ chứng từ
phù hợp sử dụng với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp đảm bảo đáp ứng nhu cầu
quản lý về quá trình bán hàng, xác định kết quả bán hàng. Đồng thời doanh nghiệp
phải xây dựng và quy định trình tự lập, thu nhận, luân chuyển, xử lý chứng từ và
lưu trữ chứng từ một cách khoa học và hợp lý.
trong kỳ.
Bên Có: + Kết chuyển giá vốn hàng tiêu thụ trong kỳ (giá thực tế )
+ Trị giá mua của hàng đã mua bị trả lại trong kỳ.
- TK 611(2) “Mua hàng hoá”: Tài khoản này được phản ánh trị giá hàng
mua vào theo giá thực tế và được mở theo từng thứ, từng kho, từng
quầy(PPKKĐK)
Bên Nợ: + Trị giá hàng tồn đầu kỳ và tăng trong kỳ.
Bên Có: + Giảm giá hàng mua và hàng mua bị trả lại.
+ Trị giá vốn hàng tiêu thụ trong kỳ và tồn đầu kỳ.
TK này cuối kỳ không có số dư.
- TK 511: “Doanh thu bán hàng” được dùng để phản ánh tổng số doanh
thu bán hàng thực tế của doanh nghiệp và các khoản giảm doanh thu. Từ đó, tính ra
doanh thu thuần về tiêu thụ trong kỳ. Tổng số doanh thu bán hàng ghi nhận ở đây
có thể là tổng giá thanh toán (với các doanh nghiệp tính thuế VAT theo phương
pháp trực tiếp cũng như đối với các đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ
đặc biệt) hoặc giá không có thuế VAT (với các doanh nghiệp tính thuế VAT theo
phương pháp khấu trừ).
Bên Nợ: + Phản ánh số thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu.
+ Phản ánh doanh thu các khoản giảm trừ doanh thu.
+ Kết chuyển doanh thu bán hàng vào tài khoản 911.
+ Cuối tháng kết chuyển doanh thu thuần để xác định kết quả.
Bên Có: + Phản ánh doanh thu theo hoá đơn.
TK 511 cuối kỳ không có số dư . Được chi tiết thành 4 tiểu khoản:
TK 5111 Doanh thu bán hàng hoá: Là doanh thu (số tiền) đã nhận
được hoặc người mua chấp nhận cam kết sẽ trả về khối lượng hàng hoá đã giao.
TK5111 được sử dụng chủ yếu cho các doanh nghiệp kinh doanh vật tư, hàng hoá
TK 5112 Doanh thu bán các thành phẩm: TK này được sử dụng chủ
yếu cho các doanh nghiệp sản xuất vật chất như công nghiệp, nông nghiệp, xây lắp,
lâm nghiệp, ngư nghiệp,… Nội dung của TK này phản ánh tổng doanh thu của
khối lượng sản phẩm đã được coi là tiêu thụ của doanh nghiệp sản xuất trong một