Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Nghệ An - Pdf 73

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành
tựu quan trọng, tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm đạt từ 7- 8%; đời sống
nhân dân ngày càng được cải thiện, chính trị được giữ vững và ổn định. Lĩnh
vực XĐGN cũng đạt được nhiều thành tích nổi bật và được Liên hợp quốc
đánh giá cao. Tuy vậy, mặt trái của sự phát triển cũng ngày càng bức xúc, như
khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng; sự tụt hậu ngày càng lớn giữa khu
vực nông thôn và thành thị, giữa miền núi và đồng bằng; tình trạng thiếu việc
làm nghiêm trọng; tình trạng ô nhiễm môi trường và lãng phí tài nguyên đất
nước.v.v.. Hàng triệu hộ nghèo hiện nay ở Việt Nam, đặc biệt là hộ nghèo ở
vùng sâu, vùng xa không được hưởng những thành quả của sự phát triển. Họ
đang bơ vơ, lạc lõng trước sự hội nhập toàn cầu và ánh sáng của thế giới văn
minh. Những yếu kém trên là nguyên nhân mất ổn định về xã hội- chính trị, là
nỗi đau của một xã hội đang phấn đấu vì lý tưởng dân giàu, nước mạnh xã hội
công bằng- dân chủ- văn minh.
Trước thực trạng đó, Đảng và Nhà nước ta cũng đã quan tâm đến
nhiệm vụ XĐGN; Đại hội VIII của Đảng đã xác định rõ XĐGN là một trong
những chương trình phát triển kinh tế, xã hội vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ
bản lâu dài và nhấn mạnh “phải thực hiện tốt chương trình XĐGN, nhất là đối
với vùng căn cứ cách mạng, vùng đồng bào dân tộc. Xây dựng và phát triển
quỹ XĐGN bằng nhiều nguồn vốn trong và ngoài nước; quản lý chặt chẽ, đầu
tư đúng đối tượng và có hiệu quả”. Chính phủ đã phê duyệt và triển khai
chương trình, mục tiêu quốc gia XĐGN, giai đoạn 1998- 2000 và giai đoạn
2001-2010, như hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng xã nghèo; hỗ trợ đồng bào dân
tộc đặc biệt khó khăn; định canh, định cư, di dân, kinh tế mới; hướng dẫn
người nghèo cách làm ăn và khuyến nông- lâm- ngư; hỗ trợ tín dụng cho
người nghèo; hỗ trợ người nghèo về y tế; hỗ trợ người nghèo về giáo dục; hỗ
1
trợ sản xuất, phát triển ngành nghề; đào tạo cán bộ làm công tác XĐGN, cán
bộ các xã nghèo, chương trình phát triển kinh tế, xã hội các xã đặc biệt khó

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu cho vay hộ nghèo tại chi nhánh
NHCSXH tỉnh Nghệ An từ năm 2003 đến 2007.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp
quan sát khoa học, phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp tổng
hợp, thống kê, chứng minh, diễn giải, sơ đồ, biểu mẩu và đồ thị trong trình
bày luận văn.
5. Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,
gồm 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả tín dụng ngân hàng đối với hộ
nghèo.
Chương 2: Thực trạng hiệu quả cho vay hộ nghèo tại Ngân hàng Chính
sách xã hội tỉnh Nghệ An (2003-2007).
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại
Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Nghệ An.
3
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO
1.1. TỔNG QUAN VỀ ĐÓI NGHÈO
1.1.1. Khái niệm về đói nghèo
Tình trạng đói nghèo ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau về cấp độ và
số lượng, thay đổi theo thời gian. Người nghèo của quốc gia này có thể có
mức sống cao hơn mức sống trung bình của quốc gia khác. Bởi vậy, để nhìn
nhận và đánh giá được tình trạng đói nghèo của một quốc gia, một vùng và
nhận dạng được hộ đói nghèo, để từ đó có giải pháp phù hợp để XĐGN, đòi
hỏi chúng ta phải có sự thống nhất về khái niệm và các tiêu chí để đánh giá
đói nghèo tại từng thời điểm.
Ở nước ta trong những năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng

thường dùng cụm từ "Xoá đói giảm nghèo".
Cụ thể hơn các khái niệm đói nghèo ta có thể thấy: Dù ở dạng nào, thì
đói cũng đi liền với thiếu chất dinh dưỡng, suy dinh dưỡng. Có thể hình dung
các biểu hiện của tình trạng thiếu đói như sau:
- Thất thường về lượng: Bữa đói, bữa no, ăn không đủ bữa .
- Về mặt năng lượng: Nếu trong một ngày con người chỉ được thoả
mãn mức 1.500 calo/ngày, thì đó là thiếu đói (thiếu ăn); dưới mức đó là gay
gắt.
Nghèo đồng nghĩa với nghèo khổ, nghèo túng, túng thiếu. Trong hoàn
cảnh nào thì hộ nghèo, người nghèo cũng chỉ vật lộn với những mưu sinh
5
hàng ngày về kinh tế, biểu hiện trực tiếp nhất là bữa ăn. Họ không thể vươn
tới các nhu cầu về văn hoá, tinh thần, hoặc những nhu cầu này phải cắt giảm
tới mức tối thiểu nhất, gần như không có. Biểu hiện rõ nhất ở các hộ nghèo là
hiện tượng trẻ em bỏ học, thất học, không có điều kiện để chữa bệnh khi ốm
đau. Nhìn chung ở hộ nghèo, người nghèo thu nhập thực tế của họ hầu như
chỉ dành chi toàn bộ cho ăn; thậm chí không đủ chi ăn, phần tích luỹ hầu như
không có.
1.1.2. Tiêu chí về đói nghèo
Theo Ngân hàng Thế giới, biện pháp áp dụng thông dụng nhất để đo
lường đói nghèo là dựa trên mức thu nhập hoặc mức chi tiêu. Một người được
coi là nghèo, nếu mức độ chi tiêu hoặc thu nhập của anh ta xuống dưới mức
tối thiểu cần thiết để đáp ứng cho các nhu cầu căn bản. Mức tối thiếu này
được gọi là “ngưỡng đói nghèo”. Các yếu tố đáp ứng nhu cầu căn bản thay
đổi theo thời gian và xã hội. Do đó, ngưỡng đói nghèo khác nhau theo thời
gian và địa điểm và mỗi quốc gia sử dụng các ngưỡng thích hợp với mức độ
phát triển, chuẩn mực và giá trị xã hội của mình. Để tổng hợp và so sánh toàn
cầu, Ngân hàng thế giới sử dụng ngưỡng tham chiếu $1 và $2/ngày trong
thuật ngữ “sức mua tương đương” (PPP) 1993 (PPP đo lường sức mua tương
đối của đồng tiền các quốc gia).

Trước những thành tích của công cuộc XĐGN, cũng như tốc độ tăng
trưởng kinh tế và mức sống. Cuối năm 2000 mức sống của dân cư tăng lên 1,5
lần, thu nhập GDP đầu người tăng lên 1,47 lần so với năm 1996, chuẩn hộ
nghèo đã được điều chỉnh cho phù hợp với chuẩn quốc tế. Theo chuẩn mực
phân loại hộ nghèo do Bộ LĐ- TB&XH quy định tại văn bản số 1143 ngày
01/11/2000 đã công bố mức chuẩn nghèo mới áp dụng cho thời kỳ 2001-
2005, thì hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người hàng tháng như
sau:
7
- 80.000 đồng/người/tháng ở các vùng hải đảo và vùng miền núi nông
thôn.
- 100.000 đồng/người/tháng ở các vùng đồng bằng nông thôn.
- 150.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị.
- Xã nghèo là xã có tỷ lệ hộ đói nghèo chiếm từ 25% trở lên, thiếu 3
trong số các công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu (đường giao thông, điện thắp
sáng, trường học, trạm y tế, nước sạch sinh hoạt, chợ).
- Vùng nghèo có thể là một số xã liền kề (hoặc một vùng dân cư) nằm ở
vị trí khó khăn, hiểm trở, giao thông không thuận lợi. Các cơ sở hạ tầng còn
thiếu thốn, không có điều kiện phát triển sản xuất và đảm bảo đời sống, là
vùng có tỷ lệ hộ nghèo, xã nghèo cao.
Theo tiêu chí đánh giá này, thì thời điểm đầu năm 2001 cả nước có
khoảng 2,7 triệu hộ nghèo, tỷ lệ 17,3%. Theo quyết định số 170/2005/QĐ-
TTg, ngày 08 tháng 7 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành
chuẩn nghèo áp dụng trong giai đoạn 2006 - 2010:
- Đối với khu vực thành thị: Hộ nghèo là những hộ có mức thu nhập
bình quân đầu người 1 tháng dưới 260.000 đồng.
- Đối với khu vực nông thôn: Hộ nghèo là những hộ gia đình có mức
thu nhập bình quân đầu người 1 tháng dưới 200.000 đồng.
Theo tiêu chí cũ về hộ nghèo, thì đến năm 2005, tỷ lệ hộ nghèo của
Việt Nam còn 7%, còn theo tiêu chí mới tỷ lệ hộ nghèo tới 22%.

Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt đã tác động sâu sắc đến SXKD của các
hộ gia đình, đặc biệt là các hộ nghèo.
Đói nghèo tập trung khu vực nông thôn: Nghèo có đặc thù rõ rệt về mặt
địa lý. Ở Việt Nam, với 80% dân số và 90% số người nghèo sống ở nông
thôn “Những đặc trưng của người nghèo vẫn giống như trước đây - đói nghèo
vẫn là hiện tượng phổ biến ở nông thôn và đối với các dân tộc thiểu số, thì
9
mức độ đói nghèo cao và nghiêm trọng hơn so với đa số người Kinh. Các đặc
trưng khác của đói nghèo, là rủi ro cao về thu nhập, do thường xuyên bị thiên
tai và tình trạng thiếu việc làm nghiêm trọng ở nông thôn” [16, trang 1].
Năm 1999, tỷ lệ nghèo đói về lương thực và thực phẩm ở nông thôn là
15,9% đa số người nghèo là nông thôn (trên 80%), trình độ tay nghề thấp, ít
khả năng tiếp cận nguồn lực trong sản xuất (vốn, kỹ thuật, công nghệ…), thị
trường tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều khó khăn do điều kiện địa lý và chất
lượng sản phẩm kém, chủng loại sản phẩm nghèo nàn, những người nông dân
nghèo thường không có điều kiện tiếp cận với hệ thống thông tin, khó có khả
năng chuyển đổi việc làm sang các ngành phi nông nghiệp. Phụ nữ nông dân
ở vùng sâu, vùng xa, nhất là phụ nữ chủ hộ độc thân, phụ nữ cao tuổi là
những nhóm nghèo dễ bị tổn thương nhất, phụ nữ nghèo lao động nhiều thời
gian hơn, nhưng thu nhập thấp hơn, họ có ít quyền quyết định trong gia đình
và cộng đồng, do đó có ít cơ hội tiếp cận các nguồn lực và lợi ích do chính
sách mang lại.
Điều kiện vị trí không thuận lợi đã hạn chế nhiều đến sản xuất, tiêu thụ
sản phẩm và sinh hoạt của các hộ gia đình. Người nghèo tập trung ở các vùng
có điều kiện sống khó khăn; đa số người nghèo sinh sống ở vùng miền núi,
vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn hoặc ở các vùng đồng bằng sông Cửu
Long, miền trung; do sự biến động của thời tiết (bão, lụt, hạn hán…) khiến
cho các điều kiện sinh sống và sản xuất của người dân càng thêm khó khăn,
đặc biệt sự kém phát triển về hạ tầng cơ sở đã làm cho các vùng này càng bị
tách biệt với các vùng khác. “Năm 2000, khoảng 20- 30% trong tổng số 1.870

quả điều tra mức sống cho thấy, trong số người nghèo, tỷ lệ số người chưa
bao giờ đi học chiếm 12%, tốt nghiệp tiểu học chiếm 39%; Trung học cơ sở
chiếm 37%. Chi phí cho giáo dục đối với người nghèo còn rất lớn, chất lượng
giáo dục mà người nghèo tiếp cận được còn hạn chế, gây khó khăn cho họ
11
trong việc vươn lên thoát nghèo. Tỷ lệ nghèo giảm xuống khi trình độ giáo
dục tăng lên; 80% số người nghèo làm các công việc trong nông nghiệp có
mức thu nhập rất thấp. Trình độ học vấn thấp, hạn chế khả năng kiếm việc
làm trong các khu vực khác, trong các ngành phi nông nghiệp và những công
việc mang lại thu nhập cao và ổn định hơn. Do trình độ dân trí thấp, nên việc
bất bình đẳng giới thường xảy ra. Bất bình đẳng giới còn sâu sắc hơn tình
trạng nghèo đói trên tất cả các mặt. Ngoài những bất công mà cá nhân người
phụ nữ và trẻ em gái phải chịu đựng do bất bình đẳng giới, thì còn có những
tác động bất lợi khác đối với gia đình. Phụ nữ chiếm gần 50% trong tổng số
lao động nông nghiệp và chiếm tỷ lệ cao trong số lao động tăng thêm hàng
năm trong ngành nông nghiệp. Mặc dù vậy, nhưng phụ nữ chỉ chiếm 25%
thành viên các khóa khuyến nông về chăn nuôi và 10% các khóa khuyến nông
về trồng trọt. Phụ nữ ít có cơ hội tiếp cận với công nghệ, tín dụng và đào tạo;
họ thường xuyên gặp khó khăn do gánh nặng công việc gia đình, thiếu quyền
quyết định trong hộ gia đình và thường được trả công lao động thấp hơn nam
giới ở cùng một loại công việc. Phụ nữ có học vấn thấp, dẫn tới tỷ lệ tử vong
trẻ sơ sinh và bà mẹ cao hơn, sức khỏe của gia đình bị ảnh hưởng và trẻ em đi
học ít hơn. Bất bình đẳng giới còn là yếu tố làm gia tăng tỷ lệ sinh và tăng tỷ
lệ lây truyền HIV do phụ nữ thiếu tiếng nói và khả năng tự bảo vệ trong quan
hệ tình dục. “Nghèo cũng liên quan chặt chẽ tới nhóm dân tộc, ngay cả khi tất
cả các đặc điểm khác nhau là giống nhau, chi tiêu của một người thuộc dân
tộc thiểu số cũng thấp hơn chi tiêu của một người thuộc hộ người Kinh hoặc
người Hoa 13%. Trình độ giáo dục cũng tạo sự khác biệt đáng kể; một hộ gia
đình chủ hộ có trình độ trung cấp có mức chi tiêu cao hơn mức trung bình gần
19% và nếu chủ hộ có trình độ đại học thì mức cao hơn là 31%. Con số này là

giai đoạn đầu tiến hành cải cách doanh nghiệp. Nhiều công nhân bị mất việc
13
đã gặp rất nhiều khó khăn trong tìm việc làm mới và bị rơi vào nghèo đói.
Phần lớn số người này là phụ nữ, người có trình độ học vấn thấp và người lớn
tuổi.
Chính sách cải cách nền kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh,
tự do hoá thương mại tạo ra được những động lực tốt cho nền kinh tế, khuyến
khích các doanh nghiệp phát triển. Tuy nhiên, một số ngành công nghiệp thu
hút nhiều lao động chưa được chú trọng, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả
năng tạo việc làm chưa đựợc quan tâm và tạo cơ hội phát triển. Tình trạng
thiếu thông tin, trang thiết bị sản xuất lạc hậu, khả năng cạnh tranh của sản
phẩm thấp và năng lực sản xuất hạn chế đã làm không ít các doanh nghiệp
nhỏ và vừa bị phá sản và đẩy công nhân vào cảnh thất nghiệp, buộc họ phải
gia nhập vào đội ngũ người nghèo.
Tăng trưởng kinh tế giúp XĐGN trên diện rộng, song việc cải thiện tình
trạnh của người nghèo về thu nhập, khả năng tiếp cận, phát triển các nguồn
lực lại phụ thuộc vào loại hình tăng trưởng kinh tế. Việc phân phối lợi ích
tăng trưởng trong các nhóm dân cư bao gồm cả các nhóm thu nhập phụ thuộc
vào đặc tính của tăng trưởng. Phân tích tình hình biển đổi về thu nhập của
nhóm dân cư cho thấy, người giàu hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế nhiều hơn
và kết quả đã làm tăng thêm khoảng cách giàu nghèo.
Kết cấu hạ tầng giao thông đến các vùng sâu, vùng xa, vùng đói nghèo
còn thiếu và yếu kém. Việc tiếp cận đến các vùng này còn hết sức khó khăn,
đầu tư của Nhà nước chưa đáp ứng được yêu cầu, đóng góp nguồn lực của
nhân dân còn hạn chế, chủ yếu bằng lao động. Hệ thống pháp luật kinh tế vẫn
chưa đầy đủ và đồng bộ, thiếu một số đạo luật quan trọng. Nhiều văn bản
pháp quy dưới luật chưa được ban hành kịp thời và thiếu nhất quán đã gây
không ít cản trở trong quá trình thực hiện. Chất lượng một số luật về kinh tế,
một số văn bản pháp quy dưới luật còn yếu.
14

Hộ nghèo thường gặp khó khăn và thiếu tự tin trong việc giải quyết các
vấn đề của chính bản thân mình. Về giao tiếp xã hội, người nghèo thường
quan hệ với những người nghèo như mình, hoặc nghèo hơn mình. Không
muốn quan hệ với những người khá giả hơn mình. Từ đó, càng làm hạn chế
về khả năng tiếp cận tư duy mới, cũng như kinh nghiệm làm kinh tế giỏi. Đây
là một cản trở lớn trong công cuộc XĐGN.
Đại đa số hộ nghèo kiến thức và kỹ năng về sản xuất yếu, phương pháp
canh tác cổ truyền đã ăn sâu vào tiềm thức. Sản xuất tự cung, tự cấp là chính,
chưa có khái niệm về sản xuất hàng hoá. Kiến thức về marketting không có;
bán các sản phẩm làm ra, nhưng chưa qua chế biến, nên giá trị thấp; sản phẩm
làm ra chưa xuất phát từ nhu cầu của thị trường (bán sản phẩm của mình có,
chứ không bán cái mà thị trường cần). Người nghèo thường sống ở những
vùng xa xôi hẻo lánh, giao thông đi lại khó khăn, thiếu phương tiện thông tin
liên lạc, con cái thất học…Thiếu việc làm, không năng động tìm kiếm việc
làm, lười biếng lao động. Do sinh con nhiều, đông con vừa là nguyên nhân,
vừa là hệ quả của đói nghèo. Trong gia đình các hộ nghèo mặc dù nhân khẩu
nhiều, nhưng số người có sức lao động lại ít. Các hộ gia đình nghèo rất dễ bị
tổn thương bởi những khó khăn hàng ngày và những biến động bất thường
xảy ra đối với cá nhân, gia đình hay cộng đồng. Do nguồn thu nhập của họ rất
thấp, bấp bênh, khả năng tích luỹ kém, nên họ khó có khả năng chống chọi
với những biến cố xảy ra trong cuộc sống (mất mùa, mất việc làm, thiên tai,
mất nguồn lao động, mất sức khoẻ…). Với khả năng kinh tế mong manh của
các hộ gia đình nghèo trong khu vực nông thôn, những đột biến này sẽ tạo ra
nhưng bất ổn lớn trong cuộc sống của họ. “Các rủi ro trong SXKD đối với
người nghèo cũng rất cao, do họ không có trình độ tay nghề và thiếu kinh
nghiệm làm ăn. Khả năng đối phó và khắc phục các rủi ro của người nghèo
16
cũng rất kém, do nguồn thu nhập hạn hẹp làm cho hộ gia đình mất khả năng
khắc phục rủi ro và có thể còn gặp rủi ro hơn nữa.” [4, trang 24].
Bệnh tật và sức khỏe kém cũng là yếu tố đẩy con người vào tình trạng

buôn bán hàng cấm, gái mại dâm…) và sự xuống cấp của môi trường xung
quanh tăng ở mức ngoài tầm kiểm soát…Nhiều hộ cả vợ chồng bỏ ra thành
phố làm ăn, một năm về nhà vài lần, ở nhà các con tự nuôi nhau hoặc ở nhà
với ông bà già, các con thiếu sự quản lý, thiếu tình thương bố mẹ, nhiều
trường hợp học hành giảm sút bị bỏ dở, tham gia trộm cắp…Tại thành phố sự
chênh lệch giàu nghèo rõ nét, thiếu việc làm, không có đất để sản xuất dẫn
đến một số người làm ăn phi pháp, tệ nghiện hút ở thanh niên ngày càng gia
tăng…
18
1.1.4.2. Đói nghèo làm ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước
Mục tiêu tổng quát của Việt Nam trong giai đoạn 10 năm 2001- 2010
là: “ Đưa Việt Nam ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống
vật chất, văn hoá, tinh thần cho nhân dân; tạo nền tảng để đến năm 2020 Việt
Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực
con người, năng lực khoa học công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế,
quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của Việt Nam trên trường
quốc tế được nâng cao” [4, trang 36].
Để đạt được những mục tiêu này, cần phải tiếp tục chuyển đổi cơ cấu
kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh
tranh của nền kinh tế. Mở rộng và phát triển quan hệ kinh tế quốc tế, tăng
cường cở sở hạ tầng kinh tế - xã hội, cải thiện hệ thống giáo dục đào tạo để
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tăng cường các lợi thế cạnh tranh trong
các cam kết thương mại song phương và đa phương nhằm chủ động hội nhập
kinh tế thế giới.
Tăng trưởng phải đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi
trường, nhằm tạo thêm việc làm, cải thiện sức khoẻ cộng đồng, XĐGN và
ngăn chặn kịp thời và có hiệu quả các tệ nạn xã hội. Muốn thực hiện các mục
tiêu nêu trên, thì yếu tố con người là yếu tố đầu tiên và có tính chất quyết

ra một mặt bằng tương đối đồng đều cho phát triển, tạo thêm một lực lượng
sản xuất dồi dào và bảo đảm sự ổn định cho giai đoạn “cất cánh”.
Do vậy, các chính sách ban hành để thực thi chương trình XĐGN giữ
vai trò quan trọng, góp phần tích cực hoàn thành mục tiêu tăng trưởng nhanh
và bền vững của nền kinh tế trên diện rộng với chất lượng cao, tạo cơ hội
thuận lợi để người nghèo và cộng đồng nghèo tiếp cận được các cơ hội SXKD
và hưởng thụ được từ thành quả tăng trưởng, tạo điều kiện thu hẹp dần
20
khoảng cách chênh lệch giữa các vùng trong cả nước.
1.2. TÍN DỤNG VÀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO
1.2.1. Những vấn đề cơ bản về tín dụng đối với hộ nghèo
1.2.1.1. Khái niệm
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín
dụng khác với các tổ chức và cá nhân trong xã hội. Trong mối quan hệ này
ngân hàng vừa là người cho vay, vừa là người đi vay. Tuy trong kinh tế thị
trường có nhiều hình thức tín dụng, nhưng tín dụng ngân hàng là hình thức
chủ yếu và phổ biến nhất. Các ngân hàng thực tế là một trung gian tài chính
quan trọng hàng đầu trong bất kỳ một quốc gia nào.
Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá)
giữa bên cho vay là ngân hàng và bên đi vay là cá nhân doanh nghiệp và các
chủ thể khác; trong đó, bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử
dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm
hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
1.2.1.2. Đặc điểm
- Hoạt động tín dụng ngân hàng đều được thực hiện dưới hình thức tiền tệ.
Khi nói các hình thức tín dụng khác, chẳng hạn tín dụng thương mại,
việc vay mượn dưới hình thức hiện vật (hàng hoá); ngược lại, các nghiệp vụ
tín dụng ngân hàng đều được thực hiện bằng tiền tệ. Trên cơ sở huy động mọi
nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi hoặc lâu dài trong nền kinh tế, để hình
thành quỹ cho vay; đồng thời các Ngân hàng thương mại cũng tiến hành cho

hoặc dưới dạng mua bán sản phẩm non như lúa non, lạc non, mía non…ở thời
kỳ giáp hạt.
Do nhu cầu cấp bách (thường là do đói kém, ốm đau bệnh tật, chi phí
con đi học hoặc nhu cầu đột xuất), nên họ phải vay nặng lãi. Tín dụng nặng
22
lãi gây nhiều tác hại cho người dân, đặc biệt là hộ nghèo, làm cho hộ nghèo
càng nghèo thêm. Chính hoạt động tín dụng ngân hàng, nhất là NHCSXH đã
trực tiếp làm giảm tệ nạn cho vay nặng lãi.
- Giúp người nghèo có việc làm, nâng cao kiến thức tiếp cận thị trường,
có điều kiện hoạt động SXKD trong nền kinh tế thị trường:
Cung ứng vốn cho người nghèo theo chương trình, với mục tiêu đầu tư
cho SXKD để XĐGN; sau một thời gian thu hồi cả gốc và lãi đã buộc người
vay phải tính toán trồng cây gì, nuôi con gì, làm nghề gì và làm như thế nào
để có hiệu quả kinh tế cao, tăng thu nhập cho gia đình; đồng thời trả nợ cho
ngân hàng. Để làm được điều đó, họ phải học hỏi kỹ thuật sản xuất, suy nghĩ
biện pháp quản lý. Từ đó, tạo cho họ tính năng động, sáng tạo trong lao động
sản xuất, tích luỹ được kinh nghiệm trong công tác quản lý kinh tế. Mặt khác,
khi số đông người nghèo sản xuất tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá thông qua
việc trao đổi trên thị trường, làm cho họ tiếp cận được kinh tế thị trường một
cách trực tiếp. Đồng thời giải quyết tình trạng không có việc làm cho hàng
vạn lao động nghèo, phát huy tiềm năng sẵn có của các hộ gia đình. Như
chúng ta đã biết diện tích đất nông nghiệp trên đầu người hiện nay ở các vùng
nông thôn của đất nước quá thấp (do quá trình đô thị hoá nhanh làm cho diện
tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp). Trong khi đó, số lao động nông
thôn ngày càng tăng (một phần do sinh đẻ không có kế hoạch), sản xuất thuần
nông (không có ngành nghề phụ) nên thời gian nông nhàn của người nghèo
lớn (thời gian làm việc của một lao động trong một năm chỉ khoảng 100 ngày,
còn 265 ngày không có việc làm). Tình trạng không có việc làm diễn ra phổ
biến ở các vùng nông thôn. Thông qua vốn tín dụng cho người nghèo đã hỗ
trợ phát triển ngành nghề ở nông thôn, như: Chế biến nông sản, tiểu thủ công

1.2.2.1. Khái niệm
Hiệu quả tín dụng hộ nghèo xét trên các khía cạnh:
24
- Thực hiện bình xét dân chủ, công khai, vốn đến đầy đủ, đúng địa chỉ
hộ nghèo cần vay vốn (hộ nghèo có sức lao động, có khả năng SXKD nhưng
thiếu vốn) và được sử dụng đúng mục đích.
- Quy mô tín dụng: Quy mô tín dụng đối với hộ nghèo được thể hiện ở
số tuyệt đối dư nợ tín dụng đối với hộ nghèo trong tổng dư nợ ngân hàng,
doanh số cho vay, thu nợ hộ nghèo; số tiền vay đối với một hộ. Số tuyệt đối
dư nợ lớn và tỷ trọng dư nợ cao, doanh số cho vay, thu nợ lớn thể hiện hoạt
động tín dụng ngân hàng đã đáp ứng tốt nhu cầu vốn của các hộ nghèo.
- Chất lượng tín dụng: Chất lượng tín dụng đối với hộ nghèo thể hiện ở
mức độ an toàn tín dụng, khả năng hoàn trả và hiệu quả sử dụng vốn tín dụng
của người vay). Nếu tỷ lệ nợ quá hạn trong tổng dư nợ hộ nghèo thấp, cho
thấy các khoản tín dụng đối với hộ nghèo an toàn, lành mạnh. Tỷ lệ nợ quá
hạn cao, phản ảnh sự rủi ro các khoản tín dụng.
- Khả năng bảo toàn vốn: Khi ngân hàng cho hộ nghèo vay vốn để phát
triển SXKD. Ngân hàng tính toán được khả năng thu hồi vốn (cả gốc và lãi),
sau khi trừ các chi phí thì vẫn có lãi. Từ đó ngân hàng có thể duy trì và mở
rộng hoạt động phục vụ của mình.
- Mức độ đáp ứng nhu cầu vốn hợp lý cho hộ nghèo, hỗ trợ hộ nghèo
phát triển kinh tế, tăng thu nhập vươn lên thoát khỏi đói nghèo, hoà nhập cộng
đồng.
- Số hộ nghèo thoát khỏi đói nghèo nhờ vay vốn, số việc làm được giải
quyết thông qua vay vốn NHCSXH.
1.2.2.2. Tiêu chí đánh giá hiệu quả tín dụng hộ nghèo
Tín dụng là hoạt động nghiệp vụ quan trọng nhất của một ngân hàng
nói chung, dư nợ tín dụng là khoản mục chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài
sản có của ngân hàng. Tín dụng cũng là hoạt động mang lại nguồn thu nhập
chủ yếu cho các ngân hàng, thông qua việc đáp ứng nhu cầu vốn hợp lý cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status