CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠCH TOÁN DOANH THU CHI PHÍ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH DỊCH VỤ - Pdf 73

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠCH TOÁN DOANH THU CHI PHÍ VÀ XÁC
ĐỊNH KẾT QUẢ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH DỊCH
VỤ
1.1. Đặc điểm hoạt động kinh doanh dịch vụ:
1.1.1. Đặc điểm của hoạt động kinh doanh dịch vụ có ảnh hưởng đến kế toán:
Trong bối cảnh nền kinh tế đa phương hoá, toàn cầu hoá, hợp nhất kinh tế quốc tế,
ngành du lịch dịch vụ đã và đang phát triển mạnh mẽ với nhiều loại hình kinh doanh phục
vụ du khách trong và ngoài nước thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Dịch vụ du lịch là một trong những ngành kinh doanh chuyên cung cấp những lao vụ,
dịch vụ phục vụ nhu cầu sinh hoạt và thoả mãn nhu cầu đời sống văn hóa, tinh thần của
nhân dân. Hoạt động kinh doanh dịch vụ có những đặc điểm ảnh hưởng đến công tác kế
toán như sau:
- Hoạt động kinh doanh dịch vụ là ngành kinh tế tổng hợp, liên quan tới nhiều mặt
khác nhau của đời sống xã hội (hoạt động xã hội, kinh tế, văn hoá, chính trị, giao lưu quốc
tế…). Điều này xuất phát từ các nhu cầu phong phú, đa dạng của khách du lịch; đồng thời
cũng xuất phát từ tính an toàn và hiệu quả trong kinh doanh của các doanh nghiệp. Do vậy,
kinh doanh dịch vụ thường bao gồm nhiều ngành nghề khác nhau như kinh doanh lữ hành,
kinh doanh lưu trú, kinh doanh vận chuyển, kinh doanh hàng hoá…
- Mỗi loại sản phẩm của hoạt động kinh doanh dịch vụ tạo ra có tính khác nhau,
nhưng nhìn chung những sản phẩm này đều có đặc điểm là không có hình thái vật chất,
không có quá trình nhập xuất kho, chất lượng sản phẩm cũng nhiều khi không ổn định. Do
đó, kế toán trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ có nhiều điểm khác biệt so với kế
toán trong các doanh nghiệp sản xuất thông thường.
- Trong kinh doanh dịch vụ quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm dịch vụ được tiến
hành đồng thời, ngay cùng một địa điểm vì các dịch vụ được thực hiện trực tiếp với khách
hàng.
- Kinh doanh dịch vụ là ngành kinh tế có hiệu quả cao, tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đầu tư
lớn, thời gian thu hồi vốn nhanh, song đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu phải nhiều.
- Hoạt động kinh doanh dịch vụ mang tính thời vụ, phụ thuộc nhiều vào các điều kiện
tự nhiên, điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội, điều kiện di sản lịch sử văn hoá, phong cảnh
chùa chiền độc đáo, hấp dẫn. Đây cũng là một lợi thế cho các doanh nghiệp kinh doanh

lượng của việc cung cấp các dịch vụ sẽ tạo ra uy tín trên trường quốc tế. Chính vì những ý
nghĩa quan trọng đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng hoàn thiện công tác kế
toán, đặc biệt là kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh.
1.2. Kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp
kinh doanh dịch vụ:
1.2.1. Kế toán doanh thu trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ:
Doanh thu là một trong những yếu tố quan trọng để phân tích tình hình tài chính
của doanh nghiệp. Khi được phản ánh theo lĩnh vực và khu vực kinh doanh, doanh thu giúp
cho người nhận thông tin có thể hiểu được hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp theo từng loại hoạt động và từng khu vực, đánh giá rủi ro, mức sinh lời của doanh
doanh nghiệp và đưa ra được những nhận định đầy đủ hơn, từ đó có thể đưa ra những
quyết định kinh tế đúng đắn. Đối với doanh nghiệp, phân tích doanh thu thực hiện so với
doanh thu kế hoạch giúp doanh nghiệp kịp thời điều chỉnh kế hoạch tiêu thụ và tổ chức
công tác bán hàng cũng như các công tác có liên quan.
1.2.1.1. Đặc điểm và phân loại doanh thu:
- Khái niệm doanh thu:
+ Theo chuẩn mực số 14 “Doanh thu và thu nhập khác” (Ban hành theo Quyết định
số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ Tài chính), doanh thu được định nghĩa: Là
tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các
hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp góp phần làm tăng vốn chủ
sở hữu, không bao gồm các khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu.
+ Theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ban hành ngày 20/03/2006 thì doanh thu
được định nghĩa: Là tổng giá trị của các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ
thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của
doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu. Các khoản thu hộ bên thứ ba, không
phải là nguồn lợi ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không
được coi là doanh thu. Các khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu làm tăng vốn chủ
sở hữu nhưng không là doanh thu. Như vậy, Quyết định 15/2003 đã làm rõ hơn về khái
niệm doanh thu so với Quyết định số 149/2001.
+ Doanh thu về cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi kết quả của giao dịch đó được

• Chiết khấu thương mại: Là khoản chiết khấu thương mại mà doanh nghiệp đã giảm trừ,
hoặc đã thanh toán cho người mua hàng do việc người mua hàng đã mua hàng hoá, dịch vụ
với khối lượng lớn và theo thoả thuận bên bán sẽ dành cho bên mua một khoản chiết khấu
thương mại (đã ghi trên hợp đồng kinh tế mua bán hàng hoá, dịch vụ).
• Giảm giá hàng bán: Là số tiền giảm trừ cho khách hàng do các nguyên nhân thuộc về
người bán như hàng kém phẩm chất, không đúng quy cách, giao hàng không đúng thời
gian, địa điểm trong hợp đồng…
• Hàng bán bị trả lại: Là số hàng đã được coi là tiêu thụ (đã chuyển giao quyền sở hữu, đã
thu tiền hay được người mua chấp nhận) nhưng bị người mua trả lại và từ chối thanh toán.
+ Căn cứ vào nguồn hình thành, doanh thu của một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ
bao gồm:
• Doanh thu từ hoạt động kinh doanh: Là toàn bộ tiền bán sản phẩm hàng hoá, dịch vụ mà
doanh nghiệp được hưởng hoặc sẽ được hưởng sau khi trừ đi các khoản giảm trừ doanh
thu.
• Doanh thu từ hoạt động tài chính: Là những khoản thu do hoạt động đầu tư tài chính hoặc
kinh doanh về vốn đem lại.
• Doanh thu từ hoạt động bất thường: Là các khoản thu từ hoạt động xảy ra không thường
xuyên ngoài các khoản thu trên như thu nhập từ việc nhượng bán, thanh lý tài sản cố định;
thu được phạt, thu hồi nợ khó đòi, thu nợ vô chủ; thu nhập quà biếu, quà tặng; các khoản
thu nhập kinh doanh của những năm trước bỏ sót; các khoản tiền thưởng của khách hàng
liên quan đến tiêu thụ hàng hoá, sản phẩm dịch vụ không tính trong doanh thu.
+ Theo loại tiền, doanh thu bao gồm doanh thu ngoại tệ và doanh thu nội tệ.
+ Theo đối tượng tiêu dùng thì doanh thu bao gồm doanh thu bán hàng và cung cấp
dịch vụ bên ngoài và doanh thu tiêu thụ nội bộ.
+ Ngoài ra, tuỳ theo từng doanh nghiệp cụ thể mà doanh thu có thể được phân chia
theo loại hình dịch vụ, theo nơi tiêu thụ…
Dựa trên việc phân loại trên, doanh nghiệp và những người sử dụng thông tin kế toán
của doanh nghiệp có thể nắm bắt được tình hình tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ, hiệu quả mang
lại từ các khoản đầu tư và các hoạt động tài chính khác của doanh nghiệp.
1.2.1.2. Tài khoản sử dụng:

Tài khoản 511 không có số dư cuối kỳ.
- Tài khoản 511 gồm các tài khoản chi tiết:
+ TK 5111 “Doanh thu bán hàng hoá”: Phản ánh doanh thu và doanh thu thuần của
khối lượng hàng hoá được xác định là đã bán trong một kỳ kế toán của doanh nghiệp.
+ TK 5113 “Doanh thu cung cấp dịch vụ”: Phản ánh doanh thu và doanh thu thuần
của khối lượng dịch vụ đã hoàn thành, đã cung cấp cho khách hàng và được xác định là đã
bán trong một kỳ kế toán.
+ TK 5114 “Doanh thu trợ cấp, trợ giá”: Phản ánh các khoản thu từ trợ cấp, trợ giá
của Nhà nước cho doanh nghiệp khi doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ cung cấp hàng hoá,
dịch vụ theo yêu cầu của Nhà nước
+ TK 5117 “Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư”: Phản ánh doanh thu cho
thuê bất động sản đầu tư, doanh thu bán, thanh lý bất động sản đầu tư.
TK 512 “Doanh thu bán hàng nội bộ”: Tài khoản này phản ánh doanh thu và các
khoản ghi giảm doanh thu về số hàng hoá dịch vụ tiêu thụ nội bộ giữa các đơn vị chi nhánh
trực thuộc cùng một công ty. Ngoài ra, tài khoản này còn sử dụng để theo dõi các khoản
được coi là tiêu thụ nội bộ khác như sử dụng hàng hoá, dịch vụ vào trả lương, thưởng cho
người lao động.
- Kết cấu của TK 512 tương tự như TK 511.
- Tài khoản 512 bao gồm các tài khoản chi tiết:
+ TK 5121: Doanh thu bán hàng hoá;
+ TK 5122: Doanh thu bán thành phẩm;
+ TK 5123: Doanh thu cung cấp dịch vụ;
TK 515 “Doanh thu hoạt động tài chính”: Tài khoản này phản ánh toàn bộ các
khoản doanh thu và các khoản ghi giảm doanh thu thuộc hoạt động tài chính được coi là
thực hiện trong kỳ, không phân biệt các khoản doanh thu đó thực tế đã thu hay sẽ thu trong
kỳ sau.
- Kết cấu TK 515:
Bên Nợ:
+ Các khoản ghi giảm doanh thu hoạt động tài chính (giảm giá hàng bán, chiết khấu
thương mại, doanh thu hàng bán bị trả lại);

Bên Có: Kết chuyển toàn bộ số giảm giá hàng bán vào bên Nợ của tài khoản 511, tài
khoản 512.
Tài khoản 532 cuối kỳ không có số dư.
1.2.1.3. Trình tự hạch toán doanh thu:
Tuỳ theo phương pháp tiêu thụ sản phẩm dịch vụ, hàng hoá khác nhau và loại doanh
thu khác nhau mà có các phương pháp và trình tự hạch toán doanh thu nhất định.
 Hạch toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh thu nội bộ:
Sơ đồ 1.1. Hạch toán doanh thu với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương
pháp khấu trừ
TK 111, 112, 113
TK 521, 531, 532
TK 511, 512
TK 111, 112, 131, 1368
Chiết khấu thương mại, hàng bán bị trả lại, giảm giá hàng bán ngoài thuế
TK 911
Thuế GTGT đầu ra tương ứng
TK 3331
Doanh thu tiêu thụ theo giá bán không có thuế GTGT
Thuế GTGT đầu ra phải nộp
Kết chuyển doanh thu thuần
Kết chuyển các khoản giảm trừ
Sơ đồ 1.2. Hạch toán doanh thu với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương
pháp trực tiếp
TK 111, 112, 131, 3388
TK 521, 531, 532
TK 511, 512
TK 111, 112, 131, 1368
Doanh thu tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ
Kết chuyển các khoản giảm trừ doanh thu
Các khoản giảm trừ doanh thu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status