CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG CỦA CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT - Pdf 74

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG CỦA CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN
VẬT LIỆU TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT.
Quản lý và hạch toán vật liệu là một bộ phận cấu thành quan trọng trong hệ
thống quản lý tài chính. Nó có vai trò tích cực trong điều hành và kiểm soát các
hoạt động kinh tế sản xuất của doanh nghiệp. Vật liệu là đầu vào của sản xuất, sự
tiêu hao vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất quyết định đến chất lượng và giá
thành của sản phẩm, nó là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến thành quả của doanh
nghiệp trước yêu cầu của nền kinh tế thị trường.
I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI TỔ CHỨC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU Ở
DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT.
1.1. Vị trí của nguyên vật liệu đối với quá trình sản xuất.
Trong doanh nghiệp khi tiến hành sản xuất đều phải có ba yếu tố cơ bản là: tư
liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Nguyên vật liệu nào cũng là đối
tượng lao động nhưng không phải bất cứ đối tượng lao động nào cũng là nguyên
vật liệu, chỉ khi đối tượng lao động đó thay đổi do lao động thì nó mới là nguyên
vật liệu. Ví dụ như gỗ ở trên rừng không phải là nguyên vật liệu, nhưng nếu chúng
được dùng để cung cấp cho công nghiệp chế biến thì lại là nguyên vật liệu bởi gỗ
đó được lao động của con người tác động vào.
Do đó, nguyên vật liệu là đối tượng lao động đã được thay đổi do lao động có
ích của con người tác động vào.
Nguyên vật liệu là đối tượng lao động, một trong ba yếu tố cơ bản của quá
trình sản xuất và là cơ sở chủ yếu hình thành nên sản phẩm mới, nên chất lượng
của sản phẩm mới cao hay thấp bởi nguyên vật liệu dùng để sản xuất sản phẩm đó.
Xét về mặt hiện vật, nguyên vật liệu chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất
nhất định và khi tham gia vào quá trình sản xuất nguyên vật liệu bị tiêu hao toàn bộ
không giữ nguyên được hình thái ban đầu.
Xét về mặt giá trị, nguyên vật liệu được chuyển dịch toàn bộ một lần giá trị
vào giá trị sản phẩm mới tạo ra.
Xét về mặt chi phí, nguyên vật liệu chiếm một tỷ trọng lớn trong toàn bộ chị
phí sản xuất. Giảm mức tiêu hao vật chất trong sản xuất cho một đơn vị sản phẩm
là một trong những nhân tố quyết định đến thành công của công tác tổ chức sản

phóng để hồi vốn nhanh chóng, hạn chế các thiệt hại.
Thực hiện việc kiểm kê vật liệu theo yêu cầu quản lý lập các báo cáo về vật liệu
tham gia công tác phân tích việc thực hiện kế hoạch thu mua dự trữ, sử dụng vật liệu.
1.3. Phân loại và đánh giá nguyên vật liệu.
1.3.1 Phân loại nguyên vật liệu.
Trong qúa trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp sử dụng một lượng
nguyên vật liệu lớn, bao gồm nhiều chủng loại với công dụng khác nhau, được sử
dụng ở nhiều địa bàn khác nhau. Do đó để thống nhất công tác quản lý vật liệu
giữa các bộ phận có liên quan đòi hỏi phải phân loại nguyên vật liệu thì mới tổ
chức tốt việc hạch toán và quản lý vật liệu.
Căc cứ vào nội dung kinh tế và chức năng công dụng của nguyên vật liệu
trong qúa trình sản xuất nguyên vật liệu được chia thành các loại sau.
Nguyên vật liệu chính (bao gồm cả nửa thành phần mua ngoài) là đối tượng
lao động chủ yếu cấu thành nên thực thể của sản phẩm sắt, thép trong các doanh
nghiệp chế tạo máy, cơ khí, xây dựng cơ bản, bông trong các doanh nghiệp dệt kéo
sợi, vải trong các doanh nghiệp may. Nguyên vật liệu cũng bao gồm cả nửa thành
phẩm mua ngoài với mục đích tiếp tục quá trình sản xuất chế tạo ra sản phẩm hàng
hoá.
Vật liệu phụ: là các loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất không cấu
thành nên thực thể chính của sản phẩm mà nó có thể kếp hợp với vật liệu chính làm
thay đổi màu sắc, hình dáng bề ngoài của sản phẩm, hoặc tạo điều kiện cho quá
trình chế tạo sản phẩm được thực hiện bình thường, hoặc phục vụ cho nhu cầu
công nghệ, kỹ thuật, phục vụ cho quá trình lao động phục vụ sản xuất cho việc bảo
quản bao gói sản phẩm như các loại thuốc nhuộm, thuốc tẩy, sơn, dầu, xà
phòng..vv.
Nhiên liệu: về thực chất là một loại vật liệu phụ, nó có tác dụng cung cấp
nhiệt lượng trong qúa trình sản xuất, kinh doanh. Bao gồm các loại ở thể lỏng, khí,
rắn dùng để phục vụ cho công nghệ sản xuất sản phẩm, cho các phương tiện vật tải,
máy móc thiết bị phục vụ cho qúa trình hoạt động sản xuất kinh doanh như xăng,
dầu, than, hơi đốt..

quyết định.
Đối với vật liệu xuất kho: khi xuất dùng nguyên vật liệu kế toán sử dụng giá
thực tế để theo dõi tình hình luân chuyển vật liệu nên phải căn cứ vào đặc điểm của
doanh nghiệp chuyển vật liệu nên phải căn cứ vào đặc điểm của doanh nghiệp mà
lựa chọn phương pháp tính giá vật liệu xuất kho thích hợp, chính xác. Việc tính giá
vật liệu xuất kho có lựa chọn từ một trong các phương pháp sau:
+ Tính theo đơn giá bình quân tồn kho đầu kỳ: theo phương pháp này giá thực
tế vật liệu xuất kho được tính trên cơ sở số lượng vật liệu xuất dùng và đơn giá
bình quân vật liệu tồn kho đầu kỳ.
+ Tính theo đơn giá bình quân tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ(bình quân giá
nguyên) về cơ bản phương pháp này giống như phương pháp trên nhưng đơn giá
vật liệu được tính bình quân cho cả số tồn kho đầy kỳ và nhập trong kỳ.
+ Tính theo giá thực tế đích danh: phương pháp này thường áp dụng đối với
loại vật liệu có giá trị cao, các loại vật liệu đặc trưng.
Giá thực tế VLGiá thực tế VLHệ số giátồn đầu kỳ+trong kỳVật liệu =Giá hạch toán Giá hạch toán VLVL tồn đầu kỳ+nhập trong kỳ
+ Tính theo giá thực tế nhập trước xuất trước (FiFo). Theo phương pháp này
trước hết ta phải xác định đơn giá thực tế nhập kho của từng lần nhập. Sau đó căn
cứ vào số lượng xuất kho tính giá thực tế xuất kho theo đơn giá nhập trước, số còn
lại (tổng số xuất kho – số xuất thực lần nhập trước) được tính theo đơn giá của lần
nhập sau.
Như vậy giá thực tế của vật liệu tồn cuối kỳ chính là giá thực tế của vật liệu
nhập kho thuộc các lần mua vào sau cùng
+ Tính theo giá nhập sau xuất trước: theo phương pháp này trước hết ta xác
định đơn giá thực tế cảu từng lần nhập. Sau đó căn cứ vào số liệu xuất kho, tính giá
thực tế xuất kho và đơn giá thực tế nhập kho lần cuối rồi mới lần lượt để các lần
nhập trước để thực tế xuất kho. Như vậy giá thực tế của vật liệu tồn kho cuối kỳ lại
là giá thực tế vật liệu tính theo đơn giá của lần nhập đầu kỳ.
1.3.4. Đánh giá nguyên vật liệu theo giá hạch toán:
Trong trường hợp doanh nghiệp sử dụng giá hạch toán (loại giá ổn định được
sử dụng thống nhất trong phạm vi toàn doanh nghiệp) để theo dõi chi tiết tình hình

1.4.2. Các phương pháp kế toán chi tiết vật liệu.
Kế toán chi tiết vật liệu tuỳ thuộc vào phương pháp hạch toán chi tiết áp dụng
trong doanh nghiệp mà sử dụng các sổ (thẻ) kế toán chi tiết sau.
- Sổ (thẻ) kho
- Sổ (thẻ) kế toán chi tiết vật liệu
- Sổ đối chiếu luân chuyển.
- Sổ số dư.
- Sổ (thẻ) kho (mẫu 06-VT) được sử dụng để theo dõi số lượng nhập xuất tồn
kho của từng thứ vật liệu theo từng thẻ kho. Thẻ kho do phòng kế toán lập và ghi
các chỉ tiêu tên, nhãn hiệu, quy cách, đơn vị tính, mã số vật liệu.. Sau đó giao cho
thủ kho ghi chép tình hình nhập xuất tồn hàng ngày về mặt số lượng.
Sổ (thẻ) kế toán chi tiết, sổ đối chiếu luân chuyển, sổ số dư vật liệu được sử
dụng để hạch toán tình hình nhập xuất kho vật liệu. Về mặt giá trị hoặc cả về mặt lượng
và giá trị tuỳ thuộc vào phương pháp kế toán chi tiết áp dụng trong doanh nghiệp.
Ngoài các sổ kế toán chi tiết nêu trên có có thể sử dụng cụ thể bảng kê nhập
xuất, các bảng kê này kê tổng hợp nhập xuất, tồn kho vật liệu phục vụ việc ghi
chép đơn giản, nhanh chóng kịp thời.
Tổ chức kế toán chi tiết vật liệu ở kho và ở phòng kế toán có mối liên hệ
chặt chẽ với nhau. Sự kết hợp giữa thủ kho và kế toán nếu nhịp nhàng và hài hoà sẽ
trách được sự trùng lặp và phức tạp trong quá trình hạch toán, chính sự kết hợp này
đã hình thành nên các phương pháp hạch toán chi tiết phù hợp với yêu cầu và trình
độ của đội ngũ cán bộ trong doanh nghiệp. Kế toán chi tiết vật liệu có thể tiến hành
theo các phương pháp sau:
1.4.2.1 Phương pháp thẻ song song.
Ở kho: thủ kho sử dụng thẻ kho để ghi chép hàng ngày căn cứ vào chứng từ
nhập, xuất để ghi số lượng vật liệu vào thẻ kho và cuối ngày tính ra số tồn kho của
từng loại vật liệu trên thẻ kho.
Ở phòng kế toán: sử dụng sổ chi tiết vật liệu để ghi chép tình hình nhập xuất,
tồn của từng loại vật liệu cả về mặt số lượng, lẫn giá trị.
: Ghi hàng ngày : Ghi cuối tháng : Đối chiếu,kiểm tra

............
Cộng:
...........
Tổng cộng
1.4.2.2. Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển.
Ở kho: Thủ kho vẫn sử dụng các thẻ kho để ghi chép tình hình nhập, xuất,
tồn, của từng loại vật liệu về mặt số lượng.
Ở phòng kế toán: Để theo dõi từng loại vật liệu nhập, xuất về số lượng và giá
trị kế toán sử dụng sổ đối chiếu luân chuyển, chỉ ghi chép 1 lần vào cuối tháng trên
cơ sở tổng hợp các chứng từ nhập xuất trong tháng và mỗi danh điểm vật liệu được
ghi 1 dòng trên sổ đối chiếu luân chuyển.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status