Thực trạng công tác quản lý vốn nhà nớc tại
các doanh nghiệp nhà nớc của Cục Tài
chính doanh nghiệp.
I. Giới thiệu Cục Tài chính doanh nghiệp
1. Lịch sử hình thành
Quản lý tài chính doanh nghiệp là một mảng quan trọng trong công tác của
Bộ Tài chính. Trớc yêu cầu thực tiến của việc quản lý tài chính các doanh nghiệp
nhà nớc, đặc biệt là vốn và tài sản của Nhà nớc tại doanh nghiệp, lịch sử hình
thành Cục Tài chính doanh nghiệp đã trải qua nhiều thời kỳ khác nhau:
-Trớc tháng 10/1995: là các vụ tài vụ thuộc Bộ Tài chính kết hợp với các vụ
tài vụ thuộc các Bộ chuyên ngành thực hiện chức năng quản lý tài chính doanh
nghiệp.
-Từ tháng 10/1995 đến 10/1999 là Tổng cục quản lý vốn và tài sản Nhà nớc
tại doanh nghiệp và trực thuộc Bộ Tài chính, đợc thành lập trên cơ sở các vụ tài vụ
của Bộ Tài chính có nhiệm vụ quản lý thống nhất vốn và tài sản Nhà nớc tại doanh
nghiệp.
-Từ tháng 10/1999 đến nay: Tổng cục quản lý vốn và tài sản Nhà nớc tại
doanh nghiệp đợc tổ chức lại thành Cục Tài chính doanh nghiệp theo Nghị định
84/1999/NĐ- CP. Cục Tài chính doanh nghiệp là đơn vị trực thuộc Bộ Tài chính.
Tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng, thành lập Chi cục Tài chính doanh
nghiệp hoặc Phòng Tài chính doanh nghiệp trực thuộc Sở Tài chính- Vật giá. Có
10 tỉnh đợc thành lập Chi cục trực thuộc Sở Tài chính- Vật giá là:
+ Thành phố Hà Nội
+ Thành phố Hồ Chí Minh
+ Thành phố Hải Phòng
+ Thành phố Đà Nẵng
+ Tỉnh Quảng Ninh
+ Tỉnh Đồng Nai
+ Tỉnh Bình Dơng
+ Tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu
+ Tỉnh Hải Dơng
nghiệp nhà nớc; giám sát việc phân phối lợi nhuận sau thuế, việc sử
dụng các quỹ tại doanh nghiệp.
Thẩm định nhu cầu hỗ trợ tài chính hàng năm và cấp phát các khoản
chi hỗ trợ cho doanh nghiệp. Kiến nghị các biện pháp xử lý vốn và tài
sản vợt quá thẩm quyền của doanh nghiệp.
Tham gia ý kiến về chiến lợc, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh
doanh của các doanh nghiệp trọng điểm, các Tổng công ty nhà nớc;
tham gia xây dựng và thông báo chỉ tiêu nộp ngân sách nhà nớc hàng
năm của các doanh nghiệp theo ủy quyền của Bộ trởng Bộ Tài chính.
Tham gia phơng án giá sản phẩm và dịch vụ do Nhà nớc quy định giá,
tham gia việc xây dựng đơn giá, quỹ tiền lơng và xếp hạng doanh
nghiệp theo quy định của Nhà nớc.
Kiểm tra việc thực hiện chính sách, chế độ quản lý tài chính, kế toán,
kiểm toán của doanh nghiệp.
Kiểm tra báo cáo tài chính, xác định khả năng hoàn trả nợ, mức độ bảo
toàn và phát triển vốn nhà nớc hàng năm của doanh nghiệp.
-Tổng hợp, phân tích tình hình quản lý, sử dụng vốn, việc bảo toàn và phát
triển vốn thuộc sở hữu nhà nớc tại các loại hình doanh nghiệp trong cả nớc và theo
ngành kinh tế.
-Quản lý các quỹ tài chính hỗ trợ doanh nghiệp do Bộ trởng Bộ Tài chính
ủy quyền.
-Hớng dẫn các Sở Tài chính- Vật giá thống nhất quản lý nhà nớc về tài
chính đối với các doanh nghiệp trên địa bàn; quản lý vốn nhà nớc tại các doanh
nghiệp do tỉnh, thành phố thành lập hoặc góp vốn, tổng hợp, phân tích tình hình
tài chính doanh nghiệp trên địa bàn.
-Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trởng Bộ Tài chính giao.
3. Tổ chức bộ máy của Cục Tài chính doanh nghiệp:
Cục Tài chính doanh nghiệp có Cục trởng phụ trách và một số Phó Cục tr-
ởng do Bộ Tài chính bổ nhiệm, miễn nhiệm.
Bộ máy của Cục Tài chính doanh nghiệp gồm có:
Tuy nhiên, bên cạnh đó doanh nghiệp nhà nớc vẫn còn nhiều khó khăn,
nhiều doanh nghiệp hoạt động cha hiệu quả, cha thực sự thể hiện đợc vai trò
chủ đạo trong nền kinh tế.
Tốc độ tăng trởng GDP của nền kinh tế trong những năm 1991- 1995 đạt
bình quân 8,2%/năm, năm 1996- 1997 đạt xấp xỉ 9%/năm. Năm 1998 mặc dù
có nhiều khó khăn nhng GDP vẫn tăng 5,8%. Năm 1999 tốc độ tăng chỉ còn
5,5%. Năm 2000 tốc độ tăng trởng đạt 7,5%, năm 2001 đạt 6,8%. Trong đó,
Các doanh nghiệp nhà nớc đã đóng góp một phần quan trọng cho sự phát triển
của nền kinh tế: tạo ra hơn 30% GDP, hơn 60% nguồn thu ngân sách nhà nớc,
giải quyết việc làm và thu nhập cho 1,7 triệu lao động, đảm bảo cung cấp các
sản phẩm hàng hoá, dịch vụ thiết yếu cho nền kinh tế nh dầu khí, điện, than, xi
măng, hàng không, bu chính viễn thông... góp phần cân đối cung cầu hàng hoá.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động, các doanh nghiệp nhà nớc
vẫn đạt tỷ lệ tăng trởng trung bình 9%/năm.
Tính đến 1/1/2000, số lợng doanh nghiệp nhà nớc hiện có là 5.500, trong
đó có 732 doanh nghiệp công ích, doanh nghiệp trung ơng là 1802, doanh nghiệp
địa phơng là 3.698. Số doanh nghiệp đã cổ phần hoá từ trớc đến nay là hơn 900
doanh nghiệp, riêng trong năm 2001 là 165 doanh nghiệp; trong đó: cổ phần hoá
131 doanh nghiệp; giao, bán, khoán, thuê 34 doanh nghiệp (thuộc khối địa phơng:
33 và Tổng công ty: 1). Số doanh nghiệp hoàn thành chuyển đổi sở hữu trong năm
2001 đạt khoảng 230 doanh nghiệp, gần bằng năm 2000.
Số lợng doanh nghiệp còn lại nh trên là quá nhiều và dàn trải ở nhiều
ngành lĩnh vực. Số doanh nghiệp nhà nớc thuộc các ngành dịch vụ tài chính nh
kiểm toán, kế toán, bảo hiểm còn quá ít, cha đáp ứng đợc nhu cầu đòi hỏi của
nền kinh tế và của các doanh nghiệp.
Mô hình hoạt động của các doanh nghiệp cũng đợc tổ chức lại trên cơ sở
các Tổng Công ty, Công ty, xí nghiệp liên hợp, liên hiệp các xí nghiệp, đợc tổ
chức lại thành hai loại là Tổng Công ty (gồm các doanh nghiệp thành viên hạch
toán độc lập và doanh nghiệp hạch toán phụ thuộc) và các doanh nghiệp độc
lập. Đến nay, cả nớc có 94 Tổng Công ty, trong đó có 17 Tổng Công ty 91 và 74
12.00
0
11,6
53
328.3
20
14.58
8
11,2
58
361.1
52
15.31
7
11,5
Số liệu trên đây là theo báo cáo của doanh nghiệp nên có thể cha phản
ánh đúng thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp (cha đợc kiểm tra xác
định lại của kiểm toán hoặc của các cơ quan chức năng). Nếu tính đúng cơ chế
tài chính hiện hành (nh tính đủ chênh lệch tỷ giá, dự phòng các khoản nợ khó
đòi, khấu hao tài sản cố định...) thì số doanh nghiệp lỗ và số lỗ có thể tăng hơn
nhiều.
Vốn nhà nớc tại doanh nghiệp tăng qua các năm nhng không nhiều. Năm
2000, số vốn nhà nớc tại doanh nghiệp là 130.253 tỷ đồng, so với năm 1999
tăng 2,7%. Năm 2001 số vốn là 132.858, tăng 2% so với năm 2000. Vốn dùng
cho đầu t tài sản theo cơ chế hiện hành chủ yếu là doanh nghiệp phải tự huy
động bằng nguồn vốn tín dụng của ngân hàng, Nhà nớc và các tổ chức khác. Từ
năm 1995, Nhà nớc để lại cho doanh nghiệp toàn bộ số khấu hao cơ bản tài sản
cố định thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nớc để doanh nghiệp đầu t. Tỷ lệ trích
quỹ đầu t đầu t phát triển từ lợi nhuận còn lại của doanh nghiệp đợc nâng từ
35% lên 50% cũng tạo thêm nguồn đầu t cho doanh nghiệp.
2
3
4
Tổng số nợ phải trả
Tỷ lệ so với vốn nhà
nớc
Tổng số phải thu
Trong đó: khó đòi
Tỷ đ
%
Tỷ đ
Tỷ đ
123.193
113
67.993
1.658
183.664
164
105.602
2.629
353.410
367
187.091
1.926
Số nợ trên đây không bao gồm số nợ của các ngân hàng thơng mại quốc
doanh.
Hiện nay, tổng nợ phải thu và nợ phải trả của khối doanh nghiệp nhà nớc
lên đến gần 300.000 tỷ đồng. Số nợ của doanh nghiệp nhà nớc thờng cao hơn số
vốn nhà nớc từ 13- 300%. Nhiều doanh nghiệp có số nợ lớn nh Tổng Công ty
điện lực (14.000 tỷ), Tổng Công ty Bu chính viễn thông (hơn 11.000 tỷ), Tổng
Tài chính doanh nghiệp trực thuộc Bộ Tài chính. Công tác quản lý vốn nhà nớc đ-
ợc thể hiện trên hai mặt: thực hiện vai trò chủ sở hữu và thực hiện chức năng quản
lý nhà nớc. Hai chức năng này đợc Cục Tài chính doanh nghiệp thực hiện thông
qua việc ban hành các cơ chế chính sách quản lý vốn nhà nớc và hớng dẫn, kiểm
tra giám sát việc tuân thủ các chính sách đó của doanh nghiệp.
1. Vai trò chủ sở hữu.
Từ năm 1979, một thời kỳ thử nghiệm liên tục các giải pháp đổi mới cơ chế
quản lý vốn nhà nớc tại các doanh nghiệp nhà nớc: Mở đầu là Nghị định 25/CP
ngày 21/1/1981 với ba phần kế hoạch. Tiếp theo là các Quyết định 146/HĐBT
ngày 25/8/1982, Quyết định 156/HĐBT ngày 30/11/1984 và Quyết định 16/HĐBT
ngày 26/6/1986 đã ra đời. Các Quyết định này ngày càng mở rộng quyền tự chủ
cho các doanh nghiệp nhà nớc trong sản xuất kinh doanh lẫn trong lĩnh vực tài
chính.
Sau đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện đờng lối đổi
mới của Đảng, nền kinh tế nớc ta chuyển từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp
sang cơ chế kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc, thừa nhận sự tồn tại của
nhiều thành phần kinh tế. Chính phủ đã triển khai một số chính sách và biện pháp
quan trọng nhằm củng cố, tăng cờng vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nớc
trong nền kinh tế.
Nghị định 59/CP của Chính phủ ban hành ngày 3/10/1996 đã đánh dấu một
bớc ngoặt trong t duy lý luận và chỉ đạo thực tiễn đổi mới quản lý tài chính doanh
nghiệp nhà nớc nói chung và quản lý vốn nhà nớc tại các doanh nghiệp nhà nớc
nói riêng. Nghị định 59/CP là sự cụ thể hoá những quy định trong Luật doanh
nghiệp nhà nớc đã đợc Quốc hội thông qua ngày 20/4/1995.
Những nội dung của Nghị định đã đáp ứng yêu cầu đổi mới quản lý tài
chính doanh nghiệp. Tuy nhiên, sau gần 3 năm thực hiện, một số điều quy định
trong Nghị định 59/CP không còn phù hợp, cần đợc sửa đổi, nếu không sẽ trở
thành vật cản trong quá trình đổi mới, phát triển kinh tế.
Ngày 20/4/1999, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 27/1999/NĐ-CP
nhằm sửa đổi, bổ sung Quy chế quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh đối với
nguyên nhân và trách nhiệm của những ngời liên quan đến các tồn tại để xử lý
theo chế độ hiện hành. Những tồn tại tài chính do thực hiện chủ trơng của Nhà n-
ớc thì doanh nghiệp phải kiến nghị với cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền để xử lý.
Những tồn tại cha thể xử lý đợc thì ghi rõ trong hồ sơ giao vốn. Doanh nghiệp
thành lập lại và doanh nghiệp tiếp nhận doanh nghiệp khác sáp nhập vào đợc kế
thừa các quyền lợi và thực hiện mọi nghĩa vụ của doanh nghiệp Nhà nớc trớc khi
sáp nhập, hợp nhất, chia tách.
Các khoản vốn tăng thêm do đợc miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp
khi thực hiện Luật khuyến khích đầu t trong nớc hoặc đợc cấp lại các khoản phải
nộp ngân sách theo Quyết định của cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền đợc coi là
vốn có nguồn gốc từ ngân sách:
Các khoản vốn tăng thêm nói trên và vốn đợc Nhà nớc cấp bổ sung sau khi
đã giao vốn đều đợc tính vào số vốn Nhà nớc giao cho doanh nghiệp.
Việc giao vốn tiến hành chậm nhất 60 ngày sau khi doanh nghiệp đợc cấp
giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Đối với các Tổng công ty Nhà nớc, sau khi
nhận vốn chậm nhất 30 ngày Tổng công ty phải tổ chức giao vốn cho các doanh
nghiệp thành viên. Tổng số vốn giao cho các doanh nghiệp thành viên (doanh
nghiệp độc lập và phụ thuộc) không đợc thấp hơn số vốn Nhà nớc giao cho Tổng
công ty. Trong thời gian 15 ngày sau khi giao vốn xong cho các doanh nghiệp
thành viên, Tổng công ty Nhà nớc gửi báo cáo tổng hợp và biên bản giao vốn cho
cơ quan quản lý tài chính và Thủ trởng cơ quan quyết định thành lập doanh
nghiệp.
Bộ trởng Bộ Tài chính hoặc ngời đợc uỷ quyền là ngời giao vốn cho các
doanh nghiệp Nhà nớc. Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc hoặc Giám
đốc (đối với doanh nghiệp có Hội đồng quản trị), Giám đốc (đối với doanh
nghiệp không có Hội đồng quản trị) là ngời ký nhận vốn. Đối với các doanh
nghiệp là thành viên của Tổng công ty Nhà nớc, ngời giao vốn là Tổng giám
đốc Tổng công ty, ngời nhận vốn là Giám đốc doanh nghiệp thành viên.
Đối với các Tổng công ty Nhà nớc đợc thành lập theo Quyết định số
90/TTg và Quyết định số 91/TTg ngày 7/3/1994 của Thủ tớng Chính phủ khi giao