CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÃI SUẤT VÀ TỰ DO HOÁ LÃI SUẤT - Pdf 75

CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÃI SUẤT VÀ TỰ DO HOÁ LÃI SUẤT
I. Tìm hiểu chung về lãi suất
1. Lãi suất và vai trò của lãi suất trong nền kinh tế.
1.1 Thế nào là lãi suất?
Lãi suất là một phạm trù kinh tế khách quan, mang tính chất tổng hợp và đa
dạng. Nó được hiểu theo nghĩa chung nhất là giá cả của tin dụng – giá cả của quan
hệ vay mượn hoặc cho thuê những dịch vụ về vốn dưới hình thức tiền tệ hoặc các
dạng thức tài sản khác nhau. Khi đến hạn, người ta sẽ phải trả cho người cho vay
một khoản tiền dôi ra ngoài số tiền vốn gọi là tiền lãi. Và tỷ lệ phần trăm giữa só
tiền lãi trên số tiền vốn đi vay gọi là lãi suất lãi suất được biểu hiện dưới dạng số
tuyệt đối, đó chính là lợi tức tín dụng. Như vậy lợi tức tín dụng là khoản tiền chi trả
cho việc vay mượn quyền sở hữư và quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất
định.
1.2 Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường lãi suất giữ vị trí khá quan trọng, nó đươc thể hiện
như sau:
1.2.1 Lãi suất là một công cụ kích thích lợi ích vật chất để thu hút các khoản tiền
tiết kiệm của các chủ thể kinh tế.
Tiết kiệm là phần thu nhập còn lại sau khi tiêu dùng ở hiên tại của các chủ thể
kinh tế. Với việc tạo thu nhập cho người tiết kiệm, lãi suất trở thành một nhân tố cơ
bản điều tiết tiêu dùng và tiết kiệm. Lãi suất cao khuyến khích ngưòi ta hy sinh tiêu
dùng hiện tại, tiết kiệm nhiều hơn để có khoản tiêu dùng nhiều hơn trong tương lai
và ngược lại. Trong một nền kinh tế thị trường tài chính phát triển, các khoản tiết
kiệm được thu hút triệt để qua các kênh tài chính trực tiếp và kênh tài chính gián
tiếp để tạo nên quỹ vay đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế.
1.2.2 Lãi suất là công cụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô.
Với tư cách là giá phải trả cho những số tiền vay để đầu tư hay mua các vật
dụng tiêu dùng, lãi suất tạo nên khoản chi phí của người đi vay. Việc so sánh giữa
lãi suất phải trả với hiệu quả biên của đồng vốn là căn cứ quan trọng để người kinh
doanh đưa ra quyết định đầu tư. Một sự gia tăng trong lãi suất sẽ làm giảm khả
năng có được những thu nhập khá lớn để bù đắp được số lãi phải trả và do đó số

là một phần lợi nhuận mà người đi vay trả cho ngươi cho vay.
1.2.4 Lãi suất là công cụ đo lường tình trạng sức khoẻ của nền kinh tế.
Trong giai đoạn đang phát triển của nền kinh tế lãi suất thường có xu hưóng
tăng do cung – cầu quỹ cho vay đều tăng lên, trong đó tốc độ tăng của cầu quỷ cho
vay lớn hơn tốc độ tăng của cung quỹ cho vay. Ngược lại, trong giai đoạn suy thoái
của nền kinh tế, lãi suất thường có xu hướng giảm xuống.
Lãi suất là biến số thường xuyên biến động trong nền kinh tế, căn cứ vào sự
biến động đó của lãi suất, người ta có thể dự báo các yếu tố khác của nền kinh tế
như : tính sinh lời của các cơ hội đầu tư, mức lạm phát dự tính, mức thiếu hụt ngân
sách. Người ta cũng có thể dựa vào lãi suất trong một thời kỳ để dự báo tình hình
kinh tế trong tương lai. Các dự báo sẽ là cơ sở quan trọng để chủ thể kinh tế đưa ra
các quyết định đầu tư, tiêu dùng, các quyết định kinh doanh phù hợp.
1.2.5 Lãi suất là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
Khả năng điều tiết nền kinh tế vĩ mô của lãi suất đã làm cho nó trở thành
công cụ quan trọng để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia:
 Trong điều kiện nền kinh tế thị trường cũng như thị trường tài chính chưa phát
triển, lãi suất được sử dụng làm một công cụ trực tiếp để tác động vào mục tiêu
trung gian và qua đó tới mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ. Ngân hàng TW
sử dụng loại công cụ này dưới hình thức ấn định trực tiếp lãi suất kinh doanh cho
các ngân hàng hoạc qui định khung lãi suất tiền gửi – lãi suất tiền vay hoặc trần
suất tiền vay qua đó khống chế lãi suất cho vay của các ngân hàng theo hướng chặt
hoặc nới lỏng tiền tệ.
 Trong điều kiện thị trường tài chính phát triển, Ngân hàng TW sử dụng công cụ
lãi suất gián tiếp chẳng hạn như lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay cầm cố để
tác động gián tiếp tói lãi suất thị trường. Lãi suất thị trường thay đổi sẽ tác động tới
các biến số kinh tế vĩ mô. Ngàynay theo xu hướng tự do hoá tài chính, cơ chế điều
tiết nền kinh tế bằng công cụ lãi suất ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới.
Như vậy trong nền kinh tế lãi suất là công cụ kinh tế khá quan trọng làm sao
để lãi suất phải phù hợp với lãi suất của các nước trên thế giới trong điều kiện hội
nhập kinh tế quốc tế là vấn đề được đặt ra và cần được giải quyết.

suất sẽ có xu hướng tăng. Điều này có thể giải thích bằng cả hai hướng tiếp cận:
thứ nhất ,xuất phát từ mối quan hệ giữa lãi suất thực va lãi suất danh nghĩa cho
thấy, để duy trì lãi suất thực không đổi, tỷ lệ lạm phát tăng ,sẽ danh phần tiết kiệm
của mình cho việc dự trữ hàng hoá hoặc những dạng thức tài sản phi tài chính khác
(non –financial assets ) như vàng, ngoại tệ mạnh, hoặc đầu tư vốn ra nước ngoài
nếu có thể. Tất cả các điều này làm giảm cung quỹ cho vay và gây áp lực tăng lãi
suất của các nhà băng cũng như trên thị trường. Từ mối quan hệ này cho thấy ý
nghĩa và tầm quan trọng của việc khắc phục tâm lý lạm phát đối với việc ổn định
lãi suet, sự ổn định và tăng trưởng nền kinh tế
2.1.3 Ảnh hưởng của bội chi ngân sách
Một cách đơn giản nhất, bội chi ngân hàng TW và địa phương trực tiếp làm
cho cầu của quỹ cho vay tăng lãi suất. Sau nữa bội chi ngân hàng sẽ tác động đến
tâm lý công chúng về gia tăng mức lạm phát và do vậy sẽ gây áp lực tăng lãi suất.
Trên một gốc độ khác thông thường khi bội chi ngân sách tăng chính phủ thường
gia tăng việc phát hành trái phiếu. Lượng cung trái phiếu trên thị trường tăng lên
làm cho giá trái phiếu có xu hướng giảm, lãi suất thị trường vì vậy mà tăng lên.
Hơn nữa ,tài sản có của các ngân hàng thương mại cũng gia tăng ở khoản mục trái
phiếu chính phủ, dự trữ vượt quá giảm, lãi suất ngân hàng cũng sẽ tăng.
2.1.4 Những thay đổi về Thuế
Thuế thu nhập cá nhân và thuế lợi tức công ty luôn tác động đến lãi suất
giống như khi thuế tác động đến giá cả hàng hoá. Nếu các hình thức này tăng lên
cũng có nghĩa điều tiết đi một phần thu nhập của những cá nhân, tổ chức cá nhân
và tổ choc cung cấp dịch vụ tín dụng hay những người tham gia kinh doanh chứng
khoán. Thông thường ai cũng có quan tâm đến thu nhập thực tế hay lợi nhuận sau
thuế hơn là thu nhập danh nghĩa. Do vậy, để duy trì một mức thuận lợi thực tế nhất
định họ phải cộng thêm vào lãi suất cho vay những thay đổi của thiếu. Điều quan
trọng được rút ra từ mối quan hệ này là việc xác lập và điều chỉnh đối với chính
sách thuế, nhằm hạn chế những tác động ngoài ý muốn của mổi thay đổi nói trên
của thuế.
2.1.5 Những thay đổi trong đời sống xã hội

sản xuất kinh doanh có lợi cho nền kinh tế và xã hội. Mức lãi suất nhỏ hơn mức
hợp lí sẽ khiến người vay đánh giá thấp giá trị sử dụng của đồng vốn dẫn đến đầu
tư không hiệu quả, lãng phí nguồn vốn, gây thiệt hại cho bản thân người đi vay lẫn
người cho vay và hơn nữa, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế. Ngược lại, mức
lãi suất cao hơn mức hợp lí tức là đánh giá quá cao giá trị sử dụng của đồng vốn thì
chỉ có tác dụng khuyến khích người cho vay, làm cho vốn trở nên dư thừa, ứ đọng,
không được đầu tư vào sản xuất kinh doanh, không sinh lãi, lúc đó đồng vốn trở
thành “ vốn chết ” không còn tác dụng gì nữa. Vì vậy, trước khi xác định mức lãi
suất phải tính đến nguyên tắc này đầu tiên.
Nguyên tắc 2: Bảo tồn giá trị của vốn, bù đắp được rủi ro, có tích luỹ cho người sở
hữu vốn và người sử dụng vốn.
Khi đem vốn vào sử dụng, sau một thời gian nhất định, người sử dụng vốn
cũng như người cho vay vốn đều hi vọng vốn ban đầu sẽ tạo ra một lượng tiền lớn
hơn tức là có sinh lãi đủ để trang trải các chi phí và để lại một phần lợi nhuận. Đây
là lẽ đương nhiên. Song trên thực tế không phải đầu tư nào cũng đem lại kết quả tốt
đẹp, sẽ có những lúc bị lỗ, thậm chí mất cả vốn ban đầu. Do đó, lãi suất phải đảm
bảo nguyên tắc 2 để người cho vay và người đi vay không bị thiệt thòi dù cho việc
sử dụng vốn có lúc lãi có lúc lỗ.
Nguyên tắc 3: Lãi suất phải được phân định theo thị trường tiền tệ cấp 2.
Sở dĩ lãi suất phải phân định ra vì trên mỗi thị trường, các yếu tố quyết định đến
mức lãi suất là khác nhau như: chủ thể sở hữu và sử dụng vốn, chi phí huy động
vốn, mức độ rủi ro, uy tín của người vay.v.v...Tuy nhiên, lãi suất trên thị trường cấp
2 có thể dựa vào lãi suất trên thị trường cấp một để định ra mức lãi suất phù hợp và
lãi suất trên thị trường cấp 1 có thể tăng hay giảm để tác động vào lãi suất của thị
trường cấp 2. Tóm lại, lãi suất trên 2 thị trường tiền tệ phải khác nhau nhưng có
quan hệ hữu cơ và ràng buộc lẫn nhau. Thông thường, lãi suất trên thị trường cấp
một nhỏ hơn lãi suất trên thị trường cấp 2 để đảm bảo cho các tổ chức tín dụng sau
khi đi vay trên thị trường cấp 1 và cho vay trên thị trường cấp 2 sẽ thu được một
phần lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất trên hai thị trường đó.
Nguyên tắc 4: Nguyên tắc này được hình thành trên cơ sở nguyên tắc 1 và 2, trong

này, chúng ta xem xét các cơ sở mà hầu hết các nước đang sử dụng cho việc hình
thành lãi suất.
Tỉ lệ lợi nhuận bình quân và tỉ lệ trượt giá là hai yếu tố quan trọng cấu thành
nên lãi suất đồng thời cũng là 2 cơ sở hình thành nên mức lãi suất. Lãi suất tín
dụng trong cơ chế thị trường bị giới hạn bởi tỉ suất lợi nhuận bình quân của nền
kinh tế (giới hạn trên) và tỉ lệ lạm phát (giới hạn dưới). Lãi suất chỉ có thể vận
động trong giới hạn đó và phải căn cứ vào 2 yếu tố này cùng với quy luật cung -
cầu vốn để tăng, giảm một cách hợp lí. Mặt khác, do nền kinh tế phụ thuộc rất
nhiều vào 2 cơ sở trên nên lãi suất được đặt ra, ngoài mục đích thu lợi cho một cá
nhân, một tổ chức, phải đảm bảo kích thích nền kinh tế tăng trưởng. Do đó, khi xác
định lãi suất, người ta phải dựa trên 2 cơ sở cơ bản này.
Cơ sở thứ 3 là ước định một tỉ lệ kích thích. Lãi suất cũng giống như các loại
giá cả khác, chỉ cần thấp hoặc cao hơn một chút so với các tổ chức tín dụng khác
đã có thể thu được nhiều khách hàng hơn, cho vay nhiều hơn hoặc ngược lại. Như
vậy, trên cơ sở một tỉ lệ kích thích, lợi nhuận của TCTD có thể bị giảm đi nếu tính
trên giá trị từng giao dịch song với số lượng giao dịch tăng lên thì lợi nhuận vẫn
tăng mà TCTD lại tạo ra được lợi thế cạnh tranh lâu dài cho mình.
Cơ sở tiếp theo là chỉ tiêu hợp lí về tổng chi phí tín dụng bình quân. Dựa
trên chỉ tiêu này, người ta có thể xác định được nhiều chỉ tiêu khác như doanh thu,
lợi nhuận, mức lương, mức lãi suất.v.v...Nếu tính toán tổng chi phí tín dụng bình
quân cao hơn nhu cầu thực tế của thị trường sẽ dẫn đến thừa vốn, TCTD muốn cho
vay được phải giảm lãi suất cho vay. Điều này có thể dẫn đến hai hậu quả là giảm
lãi suất tiền gửi khiến khách hàng chuyển sang gửi tiền ở các TCTD khác hoặc là
giảm lợi nhuận đồng thời giảm tiền lương của cán bộ công nhân viên. Nếu chỉ tiêu
trên thấp hơn nhu cầu thực tế thì tác động ngược lại , TCTD phải nâng cả lãi suất
đi vay và lãi suất cho vay lên. Khi lãi suất cho vay tăng, các doanh nghiệp sẽ vay ít
hơn cho đầu tư vào sản xuất kinh doanh khiến cho nền kinh tế tăng trưởng chậm
lại. Vì vậy, xác định chỉ tiêu tổng chi phí tín dụng bình quân hợp lí là rất cần thiết
khi hình thành lãi suất giúp cho TCTD giữ được uy tín với các doanh nghiệp vay
vốn và thu hút được nhiều khách hàng gửi tiền.

vốn, mục đích vay vốn, tính khả thi của dự án đầu tư...

II. CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỰ DO HOÁ LÃI SUẤT
1. Thế nào là tự do hoá lãi suất ?
Tự do hoá lãi suất là một bộ phận quan trọng của tự do hoá tài chính. Thực
chất của tự do hoá lãi suất chính là cơ chế điều hành lãi suất hoàn toàn để cho cung
cầu vốn trên thị trường xác định lãi suất cân bằng, tức là lãi suất được tự do biến
động để phản ứng theo các lực lượng cung-cầu vốn trên thị trường, loại bỏ những
áp đặt mang tính hành chính lên sự hình thành của lãi suất. Nhà nước không ấn
định các mức lãi suất, đồng thời cũng không khống chế mức lãi suất. Các ngân
hàng thương mại được quyền xác định và công bố lãi suất kinh doanh của mình để
áp dụng trong việc huy động vốn và cho vay còn Ngân hàng trung ương chỉ can
thiệp bằng các công cụ để điều chỉnh cho phù hợp chiến lược và mục tiêu đặt ra
trong từng thời kỳ phát triển.
Trong cơ chế tự do hoá lãi suất, nếu nhà nước hoàn toàn không can thiệp đến
hệ thống lãi suất thị trường thì đó là cơ chế tự do hoá lãi suất hoàn toàn (thả nổi lãi
suất hoàn toàn). Nếu nhà nước có tham gia can thiệp gián tiếp theo một định hướg
xác định thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ thì đó là cơ chế tự do hoá lãi
suất có quản lý. Và khi đó NHTƯ tác động tới lãi suất chủ yếu dựa trên các công
cụ kiểm soát tiền tệ gián tiếp như nghiệp vụ thị trường mở, tái chiết khấu, hợp
đồng mua lại, và một phần dựa vào áp đặt tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
Tự do hoá lãi suất là để cho lãi suất hình thành trên cơ sở cung cầu về vốn,
mức tiết kiệm, thu nhập và chi tiêu của cá nhân và những nhân tố khác. Tự do hoá
lãi suất được coi là hạt nhân của tự do hoá tài chính, nó làm cho các luồng tài chính
lưu thông thông suốt và là một xu thế để góp phần thúc đẩy kinh tế –tài chính Việt
Nam hội nhập quốc tế.
Tự do hoá lãi suất nói riêng và tự do hoá tài chính nói chung có ý nghĩa quan trọng
đối với các quốc gia trong giai đoạn phát triển và chuẩn bị hội nhập vao nền kinh tế
thế giới trên phương diện vĩ mô lẫn vi mô điều này được thể hiện như sau:
2. Vai trò của tự do hoá lãi suất trong nền kinh Tế

trưởng kinh tế.
Chương II
TIẾN TRÌNH TỰ DO HOÁ LÃI SUẤT Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN
VỪA QUA.
Quá trình tự do hoá lãi suất chính là quá trình điều hành cơ chế lãi suất qua các
thời kỳ phát triển của nền kinh tế. Từ đầu thập kỷ 90 chính sách lãi suất đã dần
thay đổi từng bước thích ứng với cơ chế lãi suất thị truờng đồng thời tăng cường
hiệu lực của cơ chế giá trong việc thực hiện chính sách tiền tệ. Diễn biến của chính
sách lãi suất trong thời gian qua có thể chia thành các giai đoạn như sau:
1. Tiến trình tự do hoá lãi suất ở Việt Nam trong giai đoạn vừa qua.
1.1 Giai đoạn trước tháng 3/1988 –Lãi suất ở thời kỳ thực thi cơ chế quản lý nền
kinh tế theo phương thức quản lý kế hoạch hoá tập trung
Đặc trưng cơ bản của lãi suất ở thời kỳ nàyđó là áp dụng chính sách lãi suất bao
cấp khá nặng nề, lãi suất được xây dựng thoát ly lãi suất nền kinh tế thế giới:
+ Lãi suất tiền gửi thấp hơn mức lạm phát.
+ Lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất huy động và thấp hơn mức lạm phát.
Dẫn đến lãi suất trong thời kỳ nay với tình trạng “lãi giả và lỗ thật’ làm cho ngân
hàng không thể bảo toàn vốn của mình do lạm phát tăng cao và lãi suất thực là số
âm. Vì vậy tỷ lệ lạm phát đã lớn hơn lãi suất danh nghĩa. Do vậy đã gây ra những
hậu quả:
+ Khả năng huy động vốn đi với yêu cầu rút bớt tiền lưu thông, giải toả áp lực của
tiền đối với giá cả hàng hoá bị hạn chế nhiều.
+ Nhu cầu vay vốn tăng lên không thực chất, tạo lợi nhuận giả tạo cho doanh
nghiệp.
+ Ngân hàng bao cấp qua lãi suất cho khách hàng, tạo lỗ không đáng có cho ngân
hàng. Ngân hàng không thể kinh doanh tiền tệ bình thường theo cơ chế thị trường.
1.2 Giai đoạn 1988 - 6/1992-Thời kỳ lãi suất âm
Bước ngoặc trong tiến trình đổi mới, cải cách nền kinh tế Việt Nam trong lĩnh
vực tài chính - ngân hàng bắt đầu bằng Nghị định 53/HĐBT ngày 26/03/1988 do
Hội đồng Bộ trưởng ban hành (nay là Thủ Tướng Chính Phủ). Nội dung cơ bản của

suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 3 tháng là 12%/tháng tức là 144%/năm. Đây là lần
đầu tiên lãi suất cho vay các loại đã được điều chỉnh cùng hướng với lãi suất tiền
gửi. Chính những thay đổi về lãi suất này đã góp phần rất quan trọng vào việc chặn
đứng lạm phát phi mã vào cuối quý II/1989 và đồng bộ cùng với những cải cách và
điều chỉnh khác tạo ra những động thái mới đưa nền kinh tế từng bước đi vào ổn
định và phát triển. Tuy nhiên trong giai đoạn này lạm phát đang ở mức cao nên
chính sách lãi suất chưa thực hiện được lãi suất dương mà vẫn theo lãi suất âm. Cơ
chế lói suất õm và mang nặng tớnh chất bao cấp được duy trỡ suốt thời kỳ này với:
- LSCV đối với doanh nghiệp nhà ước < LSCV đối với doanh nghiệp ngoài
quốc doanh; - Lói suất danh nghĩa < tỷ lệ lạm phỏt; - LSCV ngắn hạn
> LSCV dài hạn;
- LSCV < lãi suất huy động; - LSTG tiết kiệm > LSTG của cỏc tổ chức
kinh tế;
Năm 1988 với quyết định của hội đồng bộ trưởng ban hành ngay 09/03/1988
cho phép tất cả các tổ chức bao gồm các đơn vị ngoài quốc doanh được vay tiền và
huy động từ công chúng. Điều này cũng có nghĩa là tát cả các tổ chức kinh tế dều
có thể kinh doanh tiền tệ , ngoài ra các tổ chức huy động vốn từ công chúng dưới
dạng tiền gửi tiết kiệm để cho vay không phải tuân thủ các quy định truyền thống
của ngân hàng, như dự trữ bắt buộc hay tỷ lệ vốn/dư nợ cho vay. Trong thời gian
này các quỹ tín dụng và hợp tác xã mọc lên rất nhiều với tổng con số hơn 7.180
đơn vị. Hàng loạt tổ chức tín dụng ở thành thị đua nhau tăng lãi suất để huy động
vốn. Cả hệ thống rơi vào vòng xoáy tăng lãi suất để huy động vốn nhưng không để
ý đến việc cho vay ra thế nào để vừa bảo toàn vốn vừa có lãi cao. Bên ngoài xã hôi
có hiện tượng đầu tư rủi ro cao, không có sự kiểm soát nghiêm ngặt nên kết quả
nhiều đơn vị sản xuất không trả được nợ cho các tổ chức tín dụng. Đồng thời việc
theo đuổi lợi nhuận của các quỹ tín dụng bằng cách huy động vốn với lãi suất cao
trong bối cảnh không có giám sát và quản lý đã nhanh chóng dẩn tới hành vi lừa
đảo, điển hình vào năm 1990. Hậu quả sau đó là sự đổ vỡ của nhiều tổ chức tín
dụng. Đến cuói năm 1990 tổng số quỹ tín dụng giảm mạnh chỉ còn 160 đơn vị.
Người dân mất lòng tin vào hệ thống ngân hàng, họ quyết định rút tiền tiết kiệm

cao hơn mức trần 2,1%/ tháng);Nếu vốn huy động tiền tiết kiệm và tiền gửi theo
các lãi suất quy định mà không đủ để cho vay thì các tổ chức tín dụng được phép
phát hành kỳ phiếu với lãi suất cao hơn lói suất tiết kiệm cựng kỳ hạn 0,2%/thỏng
và cho vay với mức lãi suất cao hơn mức 2,1%/ tháng trên cơ sỡ thoả rhuận với
khách hàng heo phương châm : ngân hàng kinh doanh được và khách hàng chấp
nhận được. Cơ chế lãi suất cho vay thoả thuận có người gọi đó là “Tự do hoá lãi
suất một lần nữa”.
Trên thực tế, khoảng 30-60 % tổng dư nợ lúc bấy giờ là từ các khoản cho vay bằng
lãi suất thoả thuận mà phần lớn là cho vay doanh nghiệp ngoài quốc doanh và hộ
nông dân, với lãi suất phổ biến là 2,3% - 3,5 % tháng. Các ngân hàng đạt mức
chênh lệch giỡa lãi suất cho vay và lãi suất huy động rất cao, phổ biến từ 0,7% -
1% tháng. Với cơ chế lãi suất thoả thuận, có thể hiểu là đã tự do hoá một phần lãi
suất, hoặc đó là cơ chế cho vay với lãi suất “cứng” đi đôi với một biên độ dao động
nhất định.
Trong lãi suất thoả thuận , mức chênh lệch giữa sàn (tiền gửi ) và trần (cho
vay) rất lớn khoảng 0,7% - 1,0%/tháng, làm cho các ngân hàng thương mại có nức
lợi nhuận quá cao trong khi doanh nghiệp và hộ nông dân (chiếm khoảng 30-60%
tổng dư nợ) gặp nhiều khó khăn.Từ thực tế này, tại kỳ họp lần thứ 8, quốc hội khoá
IX(08/1995)đã đi đến thống nhất cùng cới việc bỏ thuế doanh thu trong hoạt động
tín dụng ngân hàng, đã yêu cầu ngân hàng tiết kiệm chi phí hoạt động và khống
chế mức chênh lệch giữa lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay bình quân là
0,35%/tháng.
Đối với lãi suất ngoại tệ, NHNN quy định trần lãi suất cho vay, còn lãi suất huy
động vốn do các ngân hàng thương mại tự quyết định trên cơ sở lãi suất thị trường
quốc tế và cung cầu vốn ngoại tệ trên thị trường tiền tệ trong nước quyết định.
Những ưu điểm của chính sách lãi suất trong thời gian này:
Trong thời gian này lãi suất đó bắt đầu được sử dụng như một công cụ của CSTT.
Những thay đổi trên thể hiện chính sách lói suất đó được cải cách theo hướng linh
hoạt hơn và phù hợp hơn với cơ chế thị trường. Sự thay đổi từ việc ấn định các
mức lói suất cụ thể sang quy định trần và sàn lói suất, cho phộp cỏc TCTD chủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status