Đồ án Tốt Nghiệp
Một số biện pháp tiết kiệm chi phí và hạ giá
thành sản phẩm xây dựng tại Công ty TNHH
Xây Dựng và Thương Mại Hoàng An
1
Mục LụC
Trang
Lời nói đầu 1
Chương 1: Lý luận chung về chi phí kinh doanh và giá thành sản phẩm trong
doanh nghiệp
4
1.1. Chi phí kinh doanh và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp 4
1.1.1. Chi phí kinh doanh của doanh nghiệp 4
1.1.1.1. Khái niệm và đặc điểm chi phí kinh doanh của doanh nghiệp 4
a. Khái niệm 4
b. Đặc điểm chi phí kinh doanh của doanh nghiệp 6
1.1.1.2. Phân loại chi phí kinh doanh của doanh nghiệp 7
1.1.2. Giá thành sản phẩm của doanh nghiệp 10
1.1.2.1. Khái niệm và ý nghĩa của giá thành sản phẩm 10
1.1.2.2. Các loại giá thành sản phẩm 11
1.1.2.3. Phương pháp tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp 12
1.2. Chi phí quản lý kinh doanh và giá thành sản phẩm 17
1.2.1. Sự cần thiết phải quản lý chi phí kinh doanh và giá thành sản phẩm của doanh
nghiệp
17
1.2.2. Nội dung công tác quản lý chi phí kinh doanh và giá thành sản phẩm 18
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá tình hình chi phí kinh doanh và giá thành sản phẩm 19
1.3. Tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm 19
+ Những ưu điểm 47
+ Những hạn chế cần khắc phục 48
Chương 3: Phương hướng và biện pháp nhằm tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản
phẩm xây dựng tại Công ty TNHH xây dựng và thương mại Hoàng An
51
3.1. Phương hướng kinh doanh của công ty trong thời gian tới 51
3.1.1. Định hướng phát triển của công ty 52
3.1.2. Mục tiêu phát triển của công ty 52
3.2. Những thuận lợi và khó khăn của Công ty 52
3.2.1. Những thuận lợi của Công ty 52
3.2.2. Những khó khăn của công ty 53
3.3. Một số biện pháp tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm ở Công ty TNHH
xây dựng và thương mại Hoàng An
54
3.3.1. Tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu, nhiên liệu 54
3.3.2. Hoàn thiện công tác quản lý và phát triển nguồn nhân lực giảm chi phí nhân công 55
3.3.3. Tăng cường công tác quản lý vật liệu để giảm chi phí nguyên vật liệu trong giá
thành
57
3.3.4. Tăng cường công tác quản lý và khai thác TSCĐ 57
3.3.5. Khắc phục khó khăn về vốn dài hạn tạo điều kiện đầu tư 58
3.3.6. Kiểm soát chặt chẽ chi phí quản lý doanh nghiệp 59
Kết luận 60
Danh mục tài liệu tham khảo 62
3
lời nói đầu
Việt Nam đang bước vào thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH nhằm
xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam XHCN. Nền kinh tế Việt Nam
chuyển sang một giai đoạn mới với nhiều cơ hội và thách thức. Nền kinh tế thị trường với nhiều
thành phần kinh tế, đa hình thức sở hữu làm cho tình hình cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt
tài: “Một số biện pháp tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm xây dựng tại Công ty
TNHH Xây Dựng và Thương Mại Hoàng An”.
Kết cấu của đề tài: Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề được trình bày trong 3
chương:
Chương I : Lý luận chung về chi phí kinh doanh và giá thành sản phẩm trong doanh
nghiệp.
Chương II : Thực trạng công tác quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm ở
Công ty TNHH xây dựng và thương mại Hoàng An
Chương III : Một số biện pháp tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm xây dựng tại
Công ty TNHH xây dựng và thương mại Hoàng An
Do trình độ lý luận và thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên bài viết của em chắc chắn
còn nhiều thiếu sót, hạn chế. Em rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo, và các
cô chú trong Công ty để bài viết của em được hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
Hà nội, ngày 27 tháng 02 năm 2006
Sinh viên
Nguyễn Hồng Vân
5
Chương I
Lý luận chung về
Chi phí kinh doanh và
giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp
1.1. Chi phí kinh doanh và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp
1.1.1. Chi phí kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm và đặc điểm chi phí kinh doanh của doanh nghiệp
a. Khái niệm
Hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu của một doanh nghiệp là tạo ra những sản phẩm
nhất định và tiêu thụ những sản phẩm đó trên thị trường nhằm thu được lợi nhuận. Nhưng bất
6
kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì cũng đều phải bỏ ra
vấn đề quản lý chi phí, bởi lẽ mỗi đồng chi phí không hợp lý đều làm tăng giá thành sản phẩm,
7
giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Do đó hạ thấp chi phí kinh doanh là một điều kiện để doanh
nghiệp đạt được mục tiêu của mình và đảm bảo cho sự tồn tại và đi lên của doanh nghiệp.
b. Đặc điểm chi phí kinh doanh của doanh nghiệp
Mỗi doanh nghiệp kinh doanh khác nhau thì đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là khác
nhau. Đối tượng tập hợp chi phí là phạm vi giới hạn mà chi phí cần tập hợp nhằm phục vụ
cho việc thông tin kiểm tra chi phí và tính giá thành sản phẩm .
Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất cần thiết cho công tác hạch toán kế
toán chi phí sản xuất sao cho phù hợp với đặc điểm tình hình hoạt động sản xuất, đặc điểm
quy trình sản phẩm và đáp ứng yêu cầu quản lý chi phí của doanh nghiệp. Từ khâu ghi chép
ban đầu, tổng hợp số liệu, tổ chức tài khoản và mở sổ chi tiết đều phải theo đúng đối tượng
kế toán chi phí đã xác định.
Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trong ngành sản xuất nói chung và
trong kinh doanh xây lắp nói riêng thường căn cứ vào:
- Đặc điểm quy trình công nghệ của việc sản xuất sản phẩm (việc sản xuất sản phẩm là giản
đơn hay phức tạp, liên tục hay song song)
- Loại hình sản xuất sản phẩm ( sản xuất đơn chiếc hay hàng loạt)
- Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp .
- Đặc điểm tổ chưc bộ máy quản lý (hay yêu cầu quản lý ).
- Đơn vị tính giá thành trong doanh nghiệp
Tổ chức sản xuất là quá trình sản xuất thi công của các doanh nghiệp XDCB có những
đặc điểm riêng so với những ngành nghề khác nên đối tượng kế toán chi phí sản xuất
thường được xác định là từng công trình, bộ phận thi công hay đơn đặt hàng.
Trên thực tế, các doanh nghiệp xây lắp hiện nay thường tập hợp chi phí theo công
trình hoặc hạng mục công trình.
Việc xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là khâu đầu tiên cần thiết và quan
trọng của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất. Có xác định đúng đối tượng hạch toán,
tập hợp chính xác các khoản chi phí phát sinh phù hợp với đặc điểm tổ chức và sản xuất của
doanh nghiệp mới giúp cho tổ chức tốt công tác chi phí.
cung cấp tài liệu tham khảo để lập dự toán chi phí sản xuất, lập kế hoạch cung ứng vật tư, kế
hoạch quỹ lương, tính toán nhu cầu vốn đầu tư cho kỳ sau.
Hai là, phân loại chi phí sản xuất theo mục đích công dụng của chi phí.
Cách phân loại này dựa vào mục đích công dụng của chi phí nơi phát sinh chi phí và nơi
gánh chịu chi phí để phân chia chi phí sản xuất thành các khoản mục khác nhau. Theo cách phân
loại này toàn bộ chi phí sản xuất được chia thành:
• Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là các chi phí về nguyên vật liệu, nhiên liệu, dụng
cụ sản xuất trực tiếp dùng vào việc chế tạo sản phẩm hàng hóa dịch vụ.
9
• Chi phí nhân công trực tiếp là toàn bộ các khoản tiền lương, tiền công, các khoản
phụ cấp có tính chất lương, các khoản chi BHXH, BHYT, KPCĐ của nhân công trực tiếp sản
xuất trong doanh nghiệp.
• Chi phí sản xuất chung là các khoản chi phí được sử dụng ở các phân xưởng, bộ
phận kinh doanh như: Tiền lương và phụ cấp lương của quản đốc, nhân viên phân xưởng, chi
phí tài sản cố định thuộc phạm vi phân xưởng, chi phí vât liệu, công cụ dụng cụ, chi phí dịch vụ
mua ngoài, chi phí bằng tiền phát sinh ỏ phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất.
• Chi phí bán hàng bao gồm các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm
hàng hóa, dịch vụ như: Chi phí tiền lương, phụ cấp trả lương cho công nhân bán hàng, tiếp thị,
vận chuyển, bảo quản, các chi phí khấu hao phương tiện vận tải, chi phí vật liệu, bao bì, các chi
phí dịch vụ mua ngoài, các chi phí bằng tiền khác (như: Bảo hành sản phẩm, quảng cáo).
• Chi phí quản lý doanh nghiệp là các chi phí cho bộ máy quản lý doanh nghiệp, các
chi phí liên quan đến hoạt động chung của doanh nghiệp như: Khấu hao tài sản cố định phục vụ
cho bộ máy quản lý, chi phí công cụ dụng cụ, các chi phí khác phát sinh trong phạm vi toàn
doanh nghiệp (như: Tiền lương và các khoản phụ cấp lương trả cho Hội đồng quản trị, Ban
giám đốc, nhân viên các phòng ban quản lý), chi phí vật liệu, đồ dùng văn phòng, các khoản
thuế, lệ phí, bảo hiểm, chi phí dịch vụ mua ngoài thuộc văn phòng doanh nghiệp. Các khoản chi
phí dự phòng giảm gía hàng tồn kho, dự phòng nợ phải thu khó đòi, công tác phí, các chi phí
giao dịch, đối ngoại…
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp có thể tập hợp chi phí và tính gía thành cho
từng loại sản phẩm, quản lý chi phí tại địa điểm phát sinh để khai thác khả năng hạ giá thành
định.
Có nhiều loại doanh nghiệp sản xuất ra cùng sản phẩm nhưng do trình độ quản lý khác
nhau, giá thành sản phẩm đó sẽ khác nhau. Chính vì vậy mà giá thành sản phẩm mang tính cá
biệt đối với từng doanh nghiệp.
Trong công tác quản lý các hoạt động kinh doanh, giá thành sản phẩm có một ý nghĩa
hết sức quan trọng thể hiện trên các mặt sau:
• Giá thành là thước đo mức hao phí về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, là căn cứ để
xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh. Muốn lựa chọn sản xuất một loại sản phẩm nào đó,
doanh nghiệp cần phải nắm bắt được nhu cầu thị trường, gía cả thị trường và mức hao phí sản
xuất loại sản phẩm đó. Trên cơ sở như vậy mới xác định được hiệu quả sản xuất loại sản phẩm
đó để lựa chọn và quyết định khối lượng sản xuất tối ưu.
• Giá thành là một công cụ quan trọng của doanh nghiệp để kiểm soát tình hình hoạt
động sản xuất kinh doanh, xem xét hiệu quả các biện pháp tổ chức, kỹ thuật. Thông qua tình
11
hình thực hiện kế hoạch giá thành, doanh nghiệp có thể xem xét tình hình sản xuất và chi phí bỏ
vào sản phẩm, phát hiện và tìm ra các nguyên nhân dẫn đến phát sinh chi phí không hợp lý để
có biện pháp loại trừ.
• Giá thành còn là một căn cứ quan trọng để doanh nghiệp xây dựng chính sách giá
cả đối với từng loại sản phẩm, tạo cho doanh nghiệp có đủ sức cạnh tranh trên thị trường.
1.1.2.2. Các loại giá thành sản phẩm
Trong phạm vi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm có thể phân biệt giá thành sản xuất sản
phẩm và giá thành toàn bộ.
Giá thành sản xuất của sản phẩm và dịch vụ bao gồm:
• Chi phí vật tư trực tiếp
• Chi phí nhân công trực tiếp
• Chi phí sản xuất chung
Giá thành toàn bộ sản phẩm đã tiêu thụ gồm toàn bộ chi phí liên quan đến quá trình sản
xuất và tiêu thụ một khối lượng sản phẩm nhất định gồm:
• Giá thành sản xuất của sản phẩm
• Chi phí bán hàng
trong kỳ & chi phí của sản phẩm dở dang đã xác định, tính giá thành sản phẩm hoàn thành cho
từng khoản mục chi phí theo công thức:
Z = C + D
đk
- D
ck
Giá thành đơn vị sản phẩm tính như sau: z=
Trong đó:
Z, z: Tổng giá thành đơn vị sản phẩm, lao vụ sản xuất thực tế.
C: Tổng chi phí sản xuất đã tập hợp trong kỳ theo từng đối tượng.
D
đk
, D
ck
: Chi phí của sản phẩm dở dang đầu kỳ & cuối kỳ.
Q: Sản lượng sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành.
Trường hợp cuối kỳ không có sản phẩm dở dang hoặc có nhưng ít & ổn định nên không cần
tính chi phí của sản phẩm dở thì tổng chi phí sản xuất đã tập hợp trong kỳ cũng đồng thời là
tổng giá thành sản phẩm hoàn thành: Z = C.
*Phương pháp thứ hai: Phương pháp hệ số:
Phương pháp tính giá thành sản phẩm theo hệ số áp dụng đối với những DN trong cùng
một quy trình công nghệ sản xuất, cùng sử dụng một loại nguyên liệu, vật liệu, nhưng kết quả
sản xuất thu được nhiều loại sản phẩm khác nhau như DN sản xuất hoá chất, công nghiệp hoá
13
Z
Q
dầu, công nghiệp nuôi ong. Khi đó đối tượng tập hợp CPSX là toàn bộ quy trình công nghệ sản
xuất, còn đối tượng tính giá thành là từng loại sản phẩm hoàn thành.
Theo phương pháp này muốn tính được giá thành cho từng loại sản phẩm phải căn cứ
vào tiêu chuẩn kỹ thuật để xác định cho mỗi loại sản phẩm một hệ số tính giá thành, trong đó
của nhóm sản phẩm, còn đối tượng tính giá thành sẽ là từng quy cách sản phẩm trong nhóm sản
phẩm đó. Để tính giá thành thực tế cho từng quy cách của sản phẩm có thể áp dụng phương
pháp tính hệ số hoặc phương pháp tỷ lệ.
14
D
đ
k
+ C - D
ck
x Q
i
H
i
Q
Z
i
Q
i
Tính giá thành sản phẩm theo phương pháp tỷ lệ phải căn cứ vào tiêu chuẩn phân bổ hợp
lý và chi phí sản xuất đã tập hợp để tính ra tỷ lệ tính giá thành. Tiêu chuẩn phân bổ thường là
giá thành kế hoạch hoặc giá thành định mức. Sau đó tính giá thành cho từng thứ sản phẩm.
Cách tính như sau:
Tỷ lệ tính giá thành
từng khoản mục =
Giá thành thực tế cả nhóm sản phẩm (theo từng khoản mục)
Tổng tiêu chuẩn phân bổ (theo từng khoản mục)
Giá thành thực tế = Tiêu chuẩn phân bổ của từng x Tỷ lệ tính giá thành
từng qui cách (theo từng khoản mục) khoản mục.
Sản phẩm chính còn thu được sản phẩm phụ. Ví dụ nhà máy đường cung một qui trình công
nghệ ngoài sản phẩm chính là đương kính, còn thu được sản phẩm phụ là rỉ đường; nông trường
căn cứ vào quyết định xử lý của lãnh đạo.
Đối với sản phẩm hoặc lao vụ sản xuất phụ cung cấp lẫn nhau có thể tính theo giá thành đơn
vị kế hoạch, hoặc tính theo chi phí ban đầu.
*Phương pháp thứ tư: Phương pháp cộng chi phí:
Phương pháp cộng chi phí áp dụng đối với doanh nghiệp có qui trình công nghệ phức
tạp, quá trình chế biến sản phẩm qua nhiều bộ phận sản xuất (bước chế biến) có sản phẩm dở
dang như: Doanh khai thác, dệt, nhuộm, cơ khí, chế tạo, may măc.
Đối tượng hạch toán chi phí là qui trình công nghệ của từng giai đoạn ( từng bước chế
biến).
Đối tượng tính giá thành là sản phẩm hoàn thành ở các bước chế biến giá thành sản phẩm
hoàn thành ở bước cuối cùng là tổng chi phí đã phát sinh ở các bước chế biến và tính như sau:
Nếu gọi C
1
, C
2
.....C
n
là chi phí tổng hợp được ở giai đoạn sản xuất.
Z = D
đk
+ C
1
+ C
2
+ ... + C
n
- D
ck
z = z/Q
tp
hiện các biện pháp kỹ thuật sản xuất. Phát hiện và tìm ra các nguyên nhân dẫn đến các chi phí
phát sinh không hợp lý để có biện pháp loại trừ. Giá thành là căn cứ quan trọng để doanh nghiệp
xây dựng và thực hiện chính sách giá cả đối với từng sản phẩm.
1.2.2. Nội dung công tác quản lý chi phí kinh doanh và giá thành sản phẩm
Để quản lý tốt chi phí kinh doanh và giá thành sản phẩm thì công tác hạch toán kế toán
phải được đặt lên hàng đầu. Hạch toán kế toán là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ
thống công cụ quản lý kinh tế, tài chính có vai trò tích cực trong việc quản lý điều hành và kiểm
soát các hoạt động kinh tế. Để đảm bảo phát huy tác dụng của công cụ kế toán đối với doanh
nghiệp cần thiết phải có sự tính đúng, tính đủ chi phí sản xuất vào giá thành. Đây cũng là điều
kiện cho việc phân tích đánh giá, tổ chức quản lý và sản xuất hợp lý nâng cao hiệu quả quản trị
đảm bảo cho sự tồn tại lâu dài của doanh nghiệp.
Riêng đối với ngành XDCB việc hạch toán đúng chi phí sản xuất và tính đủ giá thành
càng trở nên quan trọng và có tính quyết định bởi sự tác động của những đặc điểm như giá cả
biến động trong những thời điểm khác nhau của xây dựng, nhu cầu công nhân khác nhau, nhu
cầu xây dựng cơ bản không như nhau. Thông qua chỉ tiêu giá thành ta có thể xác định được kết
quả của quá trình sản xuất kinh doanh, thúc đẩy sự sáng tạo, tìm tòi phương án giải quyết công
việc có hiệu quả.
Để phát huy hết vai trò của mình, việc tổ chức hạch toán kinh tế chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm phải đạt được những yêu cầu:
- Phản ánh kịp thời, chính xác toàn bộ chi phí thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất .
Tính toán chính xác, phân bổ kịp thời giá thành xây lắp theo đối tượng tính giá thành .
17
- Phân bổ hợp lý các chi phí sản xuất theo từng khoản mục vào các đối tượng tập hợp
chi phí, áp dụng phương pháp tính giá thành thích hợp.
- Kiểm tra tình hình thực hiện các định mức về chi phí vật liệu, lao động sử dụng máy,
kiểm tra dự toán chi phí gián tiếp, phát hiện kịp thời các khoản mục chi phí chênh lệch ngoài
định mức, ngoài kế hoạch, đề ra các biện pháp ngăn ngừa kịp thời.
- Kiểm tra việc thực hiện giá thành theo từng khoản mục chi phí, theo từng hạng mục
công trình, vạch ra các khả năng tiềm tàng và đề ra các biện pháp hạ giá thành sản phẩm.
- Thông qua ghi chép, phản ánh tính toán để đánh giá có hiệu quả sản xuất kinh doanh
nước, cơ quan chủ quản do đó mang tính bắt buộc thống nhất kiểm tra được, Ngoài ra các
thông tin kinh tế phuc vụ cho nhiều đối tượng khác nhau: bạn hàng , khách hàng… Tuy nhiên
các doanh nghiệp cũng phải hiểu biết hết sức rõ ràng về bản thân mình thì mới có các quyết
định đúng đắn. Về bản chất thì hoạt động quản trị chi phí kinh doanh là quá trình chuẩn bị và ra
các quyết định quản trị do vậy bộ máy quản trị cần nắm rõ các thông tin hết sức quan trọng ảnh
hưởng trực tiếp tới các quyết định quản trị
Như vậy, có thể nói thông tin bên trong đặc biệt quan trọng hay quản trị chi phí kinh
doanh là công cụ chủ yếu cung cấp thông tin kinh tế bên trong bộ máy quản trị doanh nghiệp
làm cơ sở cho việc ra quyết định quản trị nên nó trở thành một công cụ chủ yếu không thể thiếu
của quản trị doanh nghiệp. Quản trị là quan trọng do vậy khi ra quyết định mà quản trị phải đảm
bảo tính chính xác và có hiệu quả của quyết định đề ra.
Muốn làm được điều đó cần phải tính đến các vấn đề chi phí kinh doanh mà bản chất nó
là mô tả các quá trình có ý nghĩa kinh tế diễn ra trong kinh doanh.
Trong điều kiện có nhiều doanh nghiệp cùng hoạt động trong một lĩnh vực thì doanh
nghiệp ngoài việc cạnh tranh với nhau bằng chất lượng còn cạnh tranh cả về giá cả mà đấu thầu
trong xây dựng là một điển hình. Vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là phải giảm tối đa các
khoản chi phí để hạ giá thành mà vẫn đảm bảo được chất lượng để có thể cạnh tranh, tồn tại và
đứng vững trên thị trường.
Muốn chiến thắng trong cạnh tranh, một vấn đề quan trọng mà bất cứ doanh nghiệp
thuộc thành phần kinh tế nào cũng phải quan tâm là giảm chi phí sản xuất. Hạ thấp chi phí
không những chứng tỏ hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp mà còn là nguồn tích luỹ chủ yếu
cho nền kinh tế. Con đường duy nhất để doanh nghiệp đứng vững trong nền kinh tế thị trường là
phải thường xuyên cải tiến mẫu mã cho phù hợp với thị hiếu của thị trường, nâng cao chất
lượng sản phẩm và hạ được giá thành. Đối với các doanh nghiệp sản xuất, hạ giá thành là con
đường cơ bản để tăng doanh lợi, nó cũng là tiền đề để tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp
trên thị trường kể cả trong và ngoài nước, góp phần cải thiện đời sống vật chất cho người lao
động. Ta có thể thấy ý nghĩa cụ thể của việc hạ giá thành là:
• Hạ giá thành sẽ trực tiếp làm tăng lợi nhuận, nếu giá thành sản phẩm thấp so với
giá bán trên thị trường thì doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận trên một đơn vị sản phẩm
19
0
: Giá thành đơn vị kỳ báo cáo
Zi
1
: Giá thành đơn vị sản phẩm kỳ kế hoạch
Si
1
: Số lượng sản phẩm kỳ kế hoạch
T
z
: Tỷ lệ hạ giá thành sản phẩm so sánh được
Như vậy, trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế, việc tiết kiệm chi phí hạ giá thành sản phẩm
của các ngành nghề sẽ mang lại sự tiết kiệm lao động xã hội. Nó sẽ làm tăng tổng số lợi nhuận
của các doanh nghiệp đồng thời cũng làm tăng ngân sách nhà nước thông qua thuế thu nhập
doanh nghiệp. Chính vì vậy tiết kiệm chi phí trong sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản
phẩm không chỉ là vấn đề quan tâm của các nhà sản xuất mà nó còn là mối quan tâm của từng
ngành và toàn xã hội.
1.3.2. Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến chi phí sản xuất kinh doanh và giá
thành sản phẩm của doanh nghiệp
20
n
i =1
M
z
∑(S
i1
x Z
io
)
n
c. Nhân tố thuộc điều kiện tự nhiên và môi trường kinh doanh của doanh nghiệp
21
Trong nhiều trường hợp, điều kiện tự nhiên và môi trường kinh doanh của từng doanh
nghiệp khó khăn hay thuận lợi cũng ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tiết kiệm chi phí và hạ giá
thành.
Chẳng hạn đối với các doanh nghiệp khai thác, nguồn tài nguyên cũng như điều kiện
khai thác có ảnh hưởng quan trọng tới khả năng tiết kiệm chi phí và hạ giá thành. Nguồn tài
nguyên phong phú, điều kiện khai thác thuận lợi thì chi phí khai thác sẽ thấp và ngược lại.
d. Chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm ảnh hưởng nhiều đến chi phí kinh doanh. Do đặc điểm của các sản
phẩm xây dựng là làm theo đơn đặt hàng là chủ yếu do đó đòi hỏi những người tiến hành sản
xuất phải nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng đồng thời
tránh được những sai sót có thể phải phá đi làm lại vừa gây lãng phí vừa gây tốn kể cả thời gian
và tiền bạc. Để làm tốt việc này đòi hỏi những nhà quản lí không ngừng cải tiến, áp dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật, tăng cường công tác quản lý con người nhằm hạ thấp chi phí, nâng cao
chất lưọng sản phẩm , đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Như vậy có thể thấy chất lượng sản
phẩm ảnh hưỏng không nhỏ đến việc hạ thấp chi phí và giảm giá thành sản phẩm.
e. Nhân tố giá cả
Thị trường không chỉ là nơi diễn ra các hoạt động mua và bán mà nó còn thể hiện quan
hệ hàng hoá và tiền tệ. Do thị trường được coi là môi trường kinh doanh. Nó là nơi tập trung
đầy đủ nhất những gì mà con người đã và sẽ cần đáp ứng cung cầu về hàng hoá và thị trường
còn là yếu tố quan trọng nhất trực tiếp quyết định đến giá cả. Mà đặc biệt là giá cả thị trường nó
lại có ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí kinh doanh và giá thành sản phẩm. Khi giá cả thị trường
tăng lên làm chi phí kinh doanh cũng tăng theo dẫn đến giá thành sản phẩm cũng tăng. Ngược
lại, khi giá cả thị trường giảm xuống sẽ là điều kiện hạ thấp chi phí kinh doanh do đó giá thành
sản phẩm cũng giảm. Trong điều kiện thị trường luôn biến động, giá cả hàng hoá tiêu thụ cũng
biến động theo. Sự thay đổi của giá cả hàng hoá sẽ làn ảnh hưởng đến chỉ tiêu tỷ suất chi phí vì
nó ảnh hưởng đến doanh số bán. Sự ảnh hưởng của giá cả hàng hoá tiêu thụ đến tỉ suất chi phí
là một nhân tố khách quan do sự điều tiết của thị trường. Việc xác định mức độ ảnh hưởng của
giá đến tổng mức phí và tỉ suất phí được thực hiện trên cơ sỏ tính toán chi tiết.
ứng mọi nhu cầu của khách hàng.
Công ty hoạt động kinh doanh trên các lĩnh vực:
Khảo sát thiết kế thi công xây dựng nền móng các công trình dân dụng và công nghiệp
Buôn bán vật liệu xây dựng, nguyên vật liệu, thiết bị, linh kiện phục vụ cho ngành nông
nghiệp và công nghiệp
Xây dựng công trình giao thông thuỷ lợi
Sản xuất bao bì, in bao bì
Trang trí nội, ngoại thất công trình
Vận tải hàng hoá và vận chuyển hành khách ( bao gồm cả vận chuyển khách du lịch )
Buôn bán, lắp đặt hệ thống thang máy, hệ thống máy điều hoà không khí
Dịch vụ kỹ thuật: Sửa chữa, bảo dưỡng, bảo hành, bảo trì, cung cấp linh kiện, thiết bị
phụ tùng thay thế của hệ thống thang máy, hệ thống máy điều hoà không khí
24
Buôn bán linh kiện điện, điện tử, điện lạnh, giấy và vật tư ngành giấy, máy móc thiết bị
đồng bộ và phụ tùng thay thế phục vụ cho ngành xây dựng, giao thông vận tải
Sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy
Sản xuất vật liệu xây dựng
Xuất nhập khẩu các mặt hàng Công ty kinh doanh
Đặc điểm hoạt động của công ty
• Công ty căn cứ vào phương hướng nhiệm vụ và các chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước và
căn cứ vào nhu cầu thị trường để chủ động đề ra kế hoạch sản xuất kinh doanh và triển
khai thực hiện kế hoạch có hiệu quả.
• Trên cơ sở các luận chứng kinh tế kỹ thuật, dự án đầu tư, Công ty tổ chức nhận thầu xây
lắp các công trình dân dụng công nghiệp.
• Tổ chức quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả tiền vốn, vật tư trang thiết bị, lực
lượng lao động… đạt hiệu quả tốt nhất.
2.1.3. Tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh, tổ chức công tác quản lý kế toán
Tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh
Để tăng cường bộ máy quản lý có hiệu lực, đảm bảo quản lý chặt chẽ trên tất cả các
khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, bộ máy quản lý của công ty được tổ chức theo mô hình
kinh tế
kế
hoạch