THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI CHẾ ĐỘ TRỢ CẤP ỐM ĐAU
TẠI BHXH VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2005-2009
2.1. Khái quát về BHXH Việt Nam
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của BHXH Việt Nam
Thời kỳ trước năm 1945, khi nước ta còn là nước phong kiến số quan lại trong
triều đình khi về già chỉ được hưởng bổng lộc Vua ban. Một số quan chức làm việc cho
chính quyền thực dân được hưởng một số chế độ như: hưu trí, tử tuất.
Bảo hiểm xã hội là một trong những nội dung quan trọng của chính sách xã hội.
Nên ngay từ sau cách mạng tháng 8/1945 thành công, mặc dù gặp muôn vàn khó khăn
nhưng Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc ban hành và sủa đổi bổ sung chính sách
BHXH và trợ cấp xã hội để áp dụng cho người lao độngphù hợp với điều kiện kinh tế -
xã hội ở từng thời kỳ. Riêng đối với công nhân viên chức Nhà nước và quân nhân,
Chính phủ đã nhiều lần ban hành chính sách bảo hiểm xã hội gồm các chế độ trợ cấp
khi ốm đau, sinh đẻ, tai nạn lao động, già yếu và chế độ trợ cấp gia đình khi công nhân
viên chức từ trần để đảm bảo đời sống cho họ và gia đình, góp phần ổn định xã hội.
Ngay sau khi giành chính quyền năm 1945, Hồ Chủ Tịch ký sắc lệnh số 7NV/CC
ngày 17/12/1945, trưng dụng toàn bộ đội ngũ công chức để làm việc cho chính quyền
mới, đồng thời những người đủ điều kiện thì cho nghỉ hưu. Trong sắc lệnh số 54 ngày
3/11/1945 do Hồ Chủ tịch ký, đã giải quyết cho tất cả công chức làm việc đủ 30 năm
hoặc đã đến 55 tuổi được nghỉ hưu. Tiếp đó là sắc lệnh số 105 ngày 14/06/1946, quy
định chi tiết hơn chế độ và điều kiện nghỉ hưu.
Ngày 16/02/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại ký Sắc lệnh 20/SL, trong đó quy
định “Quỹ hưu bổng thương tật ”và “tiền tuất cho thân nhân tử sỹ” cấp cho thân nhân
thương tật và thân nhân tử sỹ. Đây là văn bản quan trọng đầu tiên của nước Việt Nam
Dân chủ cộng hòa về BHXH, vì Sắc lệnh gồm 3 chương, 16 điều rất chi tiết và có tính
hệ thống của một văn bản pháp quy. Vì thế, ngày 16 thang 02 được lấy là ngày truyền
thống của ngành BHXH nước ta. Đến năm 1950, trong kháng chiến chống Pháp Hồ
Chủ Tịch đã ký sắc lệnh số 76/SL ngày 20/051950 ban hành quy chế công chức và Sắc
lệnh số 77/SL ngày 22/05/1950 ban hành quy chế công nhân. Trong đó lần đầu tiên quy
định ngạch bậc, lương bổng và phụ cấp của các hạng công nhân khi về hưu, hưởng chế
độ nghỉ dưỡng và chế độ thai sản.
- Đã hình thành nguồn để chi trả các chế độ BHXH trong Ngân sách Nhà nước.
Nguồn hình thành trên cơ sở đóng góp của xí nghiệp, còn lại do Ngân sách Nhà nước
cấp. Mức đóng của các xí nghiệp là 4,7% so với tổng quỹ lương. Trong đó, 1% để chi
cho ba chế độ dài hạn và 3,7% chi ba chế độ ngắn hạn. Đối với phần từ NSNN, hàng
năm Quốc hội thông qua Ngân sách cấp cho việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội
cho công nhân viên chức làm trong khu vực Nhà nước.
Áp dụng sáu chế độ BHXH: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề
nghiệp, mất sức lao động, hưu trí và tử tuất cho công nhân viên chức.
Đây là Điều lệ tạm thời nhưng đã quy định đầy đủ 6 chế độ bảo hiểm xã hội, các
chế độ này chủ yếu dựa trên nguyên tắc phân phối theo lao động nhằm khuyến khích
mọi người tăng cường kỷ luật lao động, đẩy mạnh sản xuất và góp phần ổn định lực
lượng lao động trong các ngành kinh tế quốc dân. Nghị định 218/CP được coi là văn
bản gốc của chính sách BHXH và nó được thực hiện trong hơn 30 năm. Tuy nhiên để
phù hợp và đáp ứng với tình hình của đất nước trong từng giai đoạn, nội dung của các
quy định trong Điều lệ tạm thời đã qua 8 lần sửa đổi bổ sung với 233 văn bản hướng
dẫn thực hiện.
Trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ và những năm sau giải phóng miền Nam,
cũng có một số văn bản liên quan đến việc điều chỉnh, bổ sung một số nội dung của
BHXH. Đặc biệt là tại Nghị định số 236/HĐBT ngày 18/09/1985 của Hội đồng Bộ
trưởng (nay là Chính phủ) về việc bổ sung, sửa đổi chế độ bảo hiểm xã hội cho công
nhân viên chức nhà nước và lực lượng vũ trang trong giai đoạn này.
Sau khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, nhiều vấn đề liên
quan đến BHXH cần phải đổi mới, cho nên ngày 22/6/1993 Chính phủ ban hành Nghị
định số 43/CP. Trong Nghị định này, Chính phủ đã quy định 5 chế độ BHXH (các chế
độ: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất. Chế độ
mất sức lao động trước đây đã được bãi bỏ) và bước đầu đề cập đến vấn đề thành lập hệ
thống BHXH Việt Nam mà Hội đồng quản lí BHXH.
Tuy nhiên, qua nhiều năm các văn bản pháp quy và văn bản hướng dẫn quá
nhiều nên không tránh khỏi hiện tượng chồng chéo, trùng lặp; có những vấn đề không
được quy định, khó khăn cho việc thực hiện chế độ; có nhiều cơ sở cho việc vận dụng
lang pháp lý vững chắc để tổ chức triển khai mọi hoạt động của mình.Chính sách của
Đảng và Nhà nước đối với BHXH Việt Nam là khuyến khích và tạo điều kiện để các tổ
chức, cá nhân tham gia BHXH ngày càng đông đảo.
Với những kết quả đạt được trong hơn 10 năm qua, BHXH Việt Nam đã góp
phần quan trọng trong việc ổn định và đảm bảo đời sống cho lao động, từ đó góp phần
đảm bảo ổn định kinh tế, chính trị và xã hội.
Cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam:
TỔNG GIÁM ĐỐC
Phó Tổng giám đốc
Ban kiểm tra
Văn phòng
Ban hợp tác quốc tế
Ban tổ chức
Ban cấp sổ, thẻ
Ban thực hiện chính sách BHXH
Tạp chí BHXH
Trường đào tạo nghiệp vụ BHXH
Viện khoa hoc BHXH
Ban thực hiện chính sách BHYT
BHXH QUẬN, HUYỆN, THỊ XÃ
Phòng BH
tự nguyện
Phòng TC-HC
Trung tâm
CNTT
Trung tâm lưu
trữ
Ban thi đua
khen thưởng
chế độ bảo hiểm y tế và cơ chế chi trả chi phí khám, chữa bệnh…
Ban hành văn bản hướng dẫn về thủ tục, chuyên môn, nghiệp vụ thực hiện việc giải
quyết chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và thu, chi bảo hiểm xã hội,
bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật.
Giải quyết các chế độ ốm đau, thai sản; tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; hưu trí; tử
tuất; dưỡng sức phục hồi sức khoẻ sau ốm đau, thai sản và sau khi điều trị tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp.
Tổ chức thu BHXH, bảo hiểm thất nghiệp của các cơ quan, đơn vị, tổ chức, người sử
dụng lao động và người lao động; tổ chức chi trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề, hỗ
trợ tìm việc làm, đóng bảo hiểm y tế cho người được hưởng trợ cấp thất nghiệp theo
quy định của pháp luật.
Quản lý và sử dụng các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo nguyên tắc tập trung
thống nhất, công khai, minh bạch, đúng mục đích theo quy định của pháp luật.
Giải quyết các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo về việc thực hiện các chế độ bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật.
Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và mối quan hệ công tác của
các đơn vị trực thuộc.
Tổ chức đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.
Định kỳ 6 tháng, báo cáo Hội đồng quản lý Bảo hiểm Xã hội Việt Nam về tình hình
thực hiện bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Hàng năm, báo cáo Chính phủ về tình hình
quản lý và sử dụng các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.
2.2.Thực trạng triển khai chế độ trợ cấp ốm đau ở BHXH Việt Nam giai
đoạn 2005-2009
2.2.1 Quy định pháp lý liên quan đến chế độ trợ cấp ốm đau tại Việt Nam
Theo Luật BHXH Việt Nam năm 2006 về chế độ trợ cấp ốm đau
Đối tượng hưởng
1.Người lao động được hưởng chế độ này khi bị ốm đau, tai nạn rủi ro phải nghỉ
việc (có xác nhận của cơ sở y tế)
Trường hợp ốm đau, tai nạn phải nghỉ việc do tự hủy hoại sức khỏe, do say rượu
hoặc sử dụng ma túy, chất gây nghiện khác khì không được hưởng chế độ ốm đau
Mức hưởng
Mức hưởng chế độ ốm đau được quy định tại Thông tư số 03 /2007/TT-
BLĐTBXH ngày 30/01/2007 và Thông tư số 19/2008/TT-BLĐTBXH ngày 23/9/2008
của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Trong đó qui định có 2 trường hợp, như sau:
Mức hưởng chế độ ốm đau theo thời gian quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật BHXH,
Điều 9 Nghị định số 152/2006/NĐ-CP được tính như sau:
Mức hưởng chế
độ ốm đau
=
Tiền lương, tiền công đóng
BHXH của tháng liền kề
trước khi nghỉ việc
26 ngày
x 75(%) x
Số ngày nghỉ việc được
hưởng chế độ
Số ngày nghỉ việc được hưởng chế độ ốm đau được tính theo ngày làm việc
không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.
Người lao động mắc bệnh thuộc danh mục cần chữa trị dài ngày: quy định tại mục 1
của Thông tư số 19/2008/TT-BLĐTBXH, ngày 23/9/2008 của Bộ Lao động – Thương
binh và Xã hội, người lao động hưởng chế độ ốm đau theo khoản 2 Điều 23 Luật Bảo
hiểm xã hội được tính như sau:
Mức hưởng chế độ
ốm đau đối với
bệnh cần chữa trị
dài ngày
=
Tiền lương, tiền công đóng
BHXH của tháng liền kề
trước khi nghỉ việc
hưởng chế
độ ốm đau
x Số ngày nghỉ
việc được hưởng
chế độ ốm đau
chữa trị dài ngày 26 ngày (%)
Trong đó:
- Tỷ lệ hưởng chế độ ốm đau theo quy định tương tự như trên
2.2.2. Cơ sở chi trả
Trong thời gian từ năm 2005 đến 2009 Việt Nam đã áp dụng 2 văn bản pháp quy
quy định về quản lý, chi trả các chế độ BHXH ngắn hạn, cụ thể:
+ Quyết định số 1184/QĐ-BHXH-BC ngày 26/09/2003 của Tổng Giám đốc
BHXH Việt Nam quy định về quản lý, chi trả BHXH bắt buộc có hiệu lực thi hành từ
năm 2004-2006.
+ Quyết định số 845/QĐ-BHXH-BC ngày 18/6/2007 của Tổng Giám đốc BHXH
Việt Nam về việc ban hành Quy định quản lý, chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội bắt
buộc có hiệu lực thi hành từ năm 2007 đến nay.
Về nguồn chi trả từ năm 2004 đến 2008 đã có sự thay đổi, cụ thể :
Từ năm 2004 đến 2006 áp dụng theo Nghị định 12/CP ngày 26/01/1995 quy định quỹ
BHXH được hình thành từ các nguồn sau :
- Người sử dụng lao động đóng bằng 15% so với tổng quỹ tiền lương của những
người tham gia BHXH trong đơn vị. Trong đó 10% để chi trả chế độ hưu trí, tử tuất và
5% chi chế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN
- Người lao động đóng bằng 5% tiền lương hàng tháng để chi chế độ hưu trí và
tử tuất
- Nhà nước hỗ thêm để đảm bảo thực hiện các chế độ đối với người lao động.
- Các nguồn khác
Từ năm 2007-2008, áp dụng theo Luật BHXH số 71/2006/QH11 và Nghị
định 152/2006/NĐ-CP thì nguồn hình thành quỹ BHXH ở Việt Nam chủ yếu từ:
- Người lao động đóng góp 5% mức tiền lương, tiền công hàng tháng vào quỹ