PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỚI HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI MỘT SỐ NHỮNG KIẾN NGHỊ - Pdf 76

1
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỚI HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI MỘT SỐ NHỮNG KIẾN NGHỊ
2.1. Những quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động huy động vốn của các
ngân hàng thương mại.
2.1.1. Những quy định chung về hoạt động huy động vốn của các ngân hàng
thương mại
Trong các văn bản pháp luật hiện hành, không có nhiều các quy định về hoạt động huy động
vốn của các ngân hàng thương mại. So với các nghiệp vụ khác của ngân hàng, chẳng hạn như các
hoạt động tín dụng, thì số lượng các quy phạm trong mảng này còn khá hạn chế. Có thể nói nó chưa
thu hút được sự quan tâm của các nhà lập pháp. Các quy định nhìn chung còn khá sơ sài, tuy nhiên,
trong giai đoạn từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO, cũng đã có những bổ sung đáng kể.
Trong các văn bản có quy định liên quan đến hoạt động huy động huy động vốn của các ngân
hàng thương mại, không có bất cứ một văn bản nào đưa ra một định nghĩa pháp lí về hoạt động huy
động vốn, Luật Các tổ chức tín dụng và Nghị định 49/2000/ND-CP chỉ liệt kê những loại hình được
coi là hoạt động huy động vốn. Các hoạt động của các ngân hàng là khá đa dạng và hình thức của
nó biến đổi không ngừng, chính vì vậy, việc đưa ra một khái niệm mang tính liệt kê như vậy rõ ràng
không đáp ứng được yêu cầu thay đổi của thực tiễn, những quy định đó sẽ nhanh chóng bị lạc hậu.
Theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, hoạt động huy động vốn nói chung của các tổ chức
tín dụng bao gồm bốn hoạt động cơ bản được quy định tại một chương riêng của luật này: 1)hoạt
động nhận tiền gửi (điều 45); 2) hoạt động phát hành giấy tờ có giá (điều 46); 3) hoạt động vay vốn
giữa các tổ chức tín dụng (điều 47); 4) hoạt động vay vốn của Ngân hàng nhà nước (điều 48). Nhìn
chung, Luật Các tổ chức tín dụng chỉ nêu một cách khái quát nhất về các hình thức huy động vốn
của các tổ chức tín dụng (trong đó có các ngân hàng thương mại) mà không có bất cứ quy định gì
thêm. Vấn đề này một lần nữa được quy định tại Nghị định số 49/200/ND-CP về tổ chức và hoạt
động của các ngân hàng thương mại. Cụ thể, tại điều 3 Nghị định này quy định:
“Ngân hàng thương mại được huy động vốn dưới các hình thức sau:
1. Nhận tiền gửi của cá nhân tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới dạng tiền gửi
không kì hạn, tiền gửi có kì hạn và các loại tiền gửi khác.
2. Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá
nhân trong nước và ngoài nước khi được thống đốc Ngân hàng nhà nước chấp nhận.

chế này, đa phần các vấn đề được quy định chi tiết và chặc chẽ hơn.
Xét từ khía cạnh lí luận, pháp luật ngân hàng là mảng pháp luật chuyên ngành, các quan hệ
ngân hàng vẫn mang bản chất gốc của nó là các quan hệ dân sự. Chính vì vậy, theo nguyên tắc
chung, khi các quan hệ này không được điều chỉnh bởi các quy định của pháp luật chuyên ngành thì
sẽ tự động chịu sự điều chỉnh của các quy định chung của pháp luật dân sự quy định trong Bộ luật
Dân sự. Trên thực tế, chúng ta đang vận dụng điều này để điều chỉnh một số các quan hệ thuộc lĩnh
vực huy động vốn của các ngân hàng thương mại. Chẳng hạn, trong bốn nghiệp vụ huy động vốn
của ngân hàng thương mại được liệt kê ở trên, nếu loại hình huy động vốn nào có được các văn bản
hướng dẫn cụ thể thì sẽ áp dụng các văn bản hướng dẫn đó, loại hình huy động vốn nào không có
hướng dẫn cụ thể hoặc mới phát sinh mà chưa được hướng dẫn hoặc những loại hình đã được
hướng dẫn mà các quy định chưa bao quát hết thì sẽ được tự động điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự và
các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nhận xét cách khách quan, trong tình trạng quá độ như hiện nay, đặc biệt là giai đoạn liền trước
và sau sự kiện Việt Nam gia nhập WTO, cơ quan lập pháp và các bộ cơ quan chuyên ngành thật sự
đã quá tải trong việc cố hoàn thiện các văn đáp ứng yêu cầu thiết lập một hệ thống pháp luật đầy
đủ, tương thích và minh bạch phù hợp với các yêu cầu của tổ chức thương mại thế giới. Hệ thống
pháp luật đang trong giai đoạn hoàn thiện thì những vấn đề như thế này có thể tạm chấp nhận được,
tuy nhiên, rõ ràng nó thể hiện sự không chuyên nghiệp trong phương thức quản lí của các cơ quan
hành chính nước ta. Thể hiện sự sơ sài và yếu kém của một thị trường tài chính chưa phát triển đầy
đủ và kém năng động.
Vấn đề này chắc chắn sẽ gây rất nhiều khó khăn cho các ngân hàng thương mại nói chung và
cho các tổ chức tín dụng nói chung khi tiếp cận với các vấn đề thực tiễn. Ngân hàng thực tế là một
doanh nghiệp, về lí, nó được phép làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm, như những doanh
SVTH: Nguyễn Thanh Thùy Linh – MSSV: 3020103
3
nghiệp khác. Tuy nhiên, như đã được đề cập, là một loại hình kinh doanh có điều kiện, nó phải chịu
rất nhiều sự ràng buộc cả về mặt pháp lí và những phương thức quản lí hành chính khác. Sự không
rõ ràng trong các quy định như thế này sẽ hạn chế rất lớn sự năng động và sáng tạo trong hoạt động
của các ngân hàng thương mại.
Đó là nhìn từ góc độ lợi ích của các ngân hàng, đứng từ góc độ nhà quản lí, một khi các quy

kiệm và các loại tiền gửi khác.
1 Tham khảo thêm “vấn đề hiệu lực của giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại”, ts. Nguyễn văn tuyến,
khoa pháp luật kinh tế, đại học luật hà nội, tạp chí luật học số 06/2005.
SVTH: Nguyễn Thanh Thùy Linh – MSSV: 3020103
4
2. Phát hành chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy
động vốn trong nước và phát hành trái phiếu ở nước ngoài sau khi được Ngân hàng nhà nước
chấp thuận.
3. Cấp tín dụng dưới các hình thức sau đây:
a) Cho vay;
……….”
Tiếp theo, Điều 97quy định về hoạt động vay vốn của Ngân hàng nhà nước và Điều 98 quy
định về hoạt động vay vốn của tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính. Sự phân loại này không dựa vào
mục đích của hoạt động mà dựa vào bản chất kinh tế của hoạt động, cái Quyết định đến phương
thức thực hiện của chủ thể cũng như phương thức điều chỉnh của chủ thể quản lí. Nhìn vào các quy
định này có thể thấy các nhà lập pháp đã có sự phân định rõ bản chất của các hình thức huy động
vốn này của các ngân hàng thương mại. hình thức huy động vốn bằng nhận tiền gửi và phát hành
giấy tờ có giá được xếp vào nhóm các hoạt động ngân hàng còn hai hình thức còn lại thì không
2
.
Căn cứ vào khái niệm hoạt động ngân hàng được nêu tại khoản 11 điều 4 dự thảo này:
“Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một trong các nghiệp vụ
sau đây dưới mọi hình thức:
a) Nhận tiền gửi;
b) Cấp tín dụng;
c) Cung ứng dịch vụ thanh toán”.
Nếu hoàn toàn không đề cập đến các hình thức của hoạt động ngân hàng được đề cập trong định
nghĩa trên ta vẫn dễ dàng nhận thấy hoạt động huy động vốn thông qua hình thức vay của các tổ
chức tín dụng khác, tổ chức tài chính và vay của Ngân hàng nhà nước không thỏa mãn bản chất của
một hoạt động kinh doanh. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp: “Kinh doanh là việc thực hiện

2.1.2.1. Hoạt động huy động vốn bằng nhận tiền gửi.
A. VẤN ĐỀ LÃI SUẤT:
Hình tượng hóa một cách dễ hiểu nhất, hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh mà trong
đó “tiền tệ” là hàng hóa. Chính vì vậy, lãi suất với vai trò là giá cả của tiền tệ luôn đóng vai trò
trung tâm. Đối với hoạt động huy động vốn nói chung hay với hoạt động nhận tiền gửi của các
ngân hàng thương mại nói riêng, vấn đề lãi suất và cơ chế điều chỉnh của nó có tác động chi phối
rất lớn. Phân tích các quy định của pháp luật về hoạt động huy động vốn bằng nhận tiền gửi sẽ bắt
đầu bằng việc xem xét việc điều hành lãi suất trong pháp luật Việt Nam qua các giai đoạn.
Kinh tế học đưa ra nhiều khái niệm về lãi suất, từ cụ thể đến trừu tượng, tuy nhiên, trong các
văn bản pháp luật hiện hành của nước ta không có bất cứ định nghĩa nào về lãi suất nói chung. Tuy
nhiên, vấn đề thu hút được sự quan tâm từ cả hai lĩnh vực kinh tế học và luật học chính là cơ chế
điều hành nó, sự thay đổi của nó và những tác động của nó đến các chủ thể có liên quan. Luật Các
tổ chức tín dụng vận hành chỉ hơn 10 năm nhưng với cơ chế điều hành lãi suất đối với các tổ chức
tín dụng đã trãi qua khá nhiều những thay đổi và hiện nay có thể nói vẫn chưa tìm kiếm được một
phương thức điều chỉnh thật sự thích hợp. Sự không ổn định đó đã gây khá nhiều khó khăn cho
hoạt động của các ngân hàng nói riêng và với toàn nền kinh tế nói chung, đồng thời cũng dấy lên
nhiều cuộc tranh luận gay gắt vẫn chưa có hồi kết.
SVTH: Nguyễn Thanh Thùy Linh – MSSV: 3020103
6
• LỘ TRÌNH THAY ĐỔI CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT
3
.
 Sau khi luật Ngân hàng nhà nước và Luật Các tổ chức tín dụng có hiệu lực, Ngân hàng
nhà nước Việt Nam đã áp dụng cơ chế lãi suất trần để điều chỉnh lãi suất kinh doanh
của các ngân hàng thương mại (Quyết định số 39 ngày 17/1/1998 của Thống đốc
NHNN, theo Quyết định này mức chênh lệch giữa lãi suất huy động và cho vay vốn
bình quân là 0,35%/tháng đã được bãi bỏ). Bước đầu, các ngân hàng thương mại đã có
quyền tự chủ quyết định lãi suất lãi suất huy động trên cơ sở cung – cầu vốn thị
trường.
 Ngày 02 tháng 08 năm 2000, Thống đốc Ngân hàng nhà nước Lê Đức Thúy ban hành

7
phái “cấp tiến”, muốn “đốt cháy” giai đoạn, “chạm ngõ” với kinh tế thị trường đầy
đủ”
4
.
 Năm 2006, thời điểm Bộ luật Dân sự 2005 có hiệu lực với điều khoản quy định về lãi
suất hợp đồng vay tài sản: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá
150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố với loại cho vay tương
ứng”
5
. đây có lẽ là một vấn đề không được tính đến của Ban soạn thảo Bộ luật Dân sự
2005, nó thật sự đã gây ra những xáo trộn rất lớn đối với việc điều hành cơ chế lãi
suất của Ngân hàng nhà nước, các ngân hàng thương mại hoang mang, hàng loạt các
hợp đồng vay tiền liên quan đến các ngân hàng có khả năng bị xem là vô hiệu lực vì vi
phạm điều khoản về lãi suất. Ngân hàng nhà nước không có câu trả lời cho hàng loạt
các vướn mắc nảy sinh.
 Sau hàng loạt những yêu cầu và kiến nghị, hai năm sau, với ý kiến của Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội khóa XII và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng nhà
nước đã xây dựng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản trình Thường trực Chính phủ xem
xét, nhất trí tại văn bản số 3168/VPCP-KTTH ngày 16/5/2008 về cơ chế điều hành lãi
suất cơ bản của Văn phòng Chính phủ. Trên cơ sở đó, Thống đốc NHNN đã ban hành
Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008 về cơ chế điều hành lãi suất cơ
bản bằng Đồng Việt Nam. Cụ thể, văn bản này quy định: “Các tổ chức tín dụng ấn
định lãi suất kinh doanh (lãi suất huy động, lãi suất cho vay) bằng đồng Việt Nam đối
với khách hàng không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước
Việt Nam công bố để áp dụng trong từng thời kỳ. Định kỳ hàng tháng, Ngân hàng nhà
nước Việt Nam công bố lãi suất cơ bản. Trong trường hợp cần thiết, Ngân hàng nhà
nước Việt Nam công bố điều chỉnh kịp thời lãi suất cơ bản”. Văn bản này về cơ bản
thiết lập lại sự thống nhất về đường lối điều chỉnh lãi suất cơ bản của hệ thống pháp
luật tài chính ngân hàng và Bộ luật Dân sự 2005. Nhìn một cách tổng thể, sau một thời

suất huy động vốn, lãi suất tín dụng theo tác động cung cầu từ thị trường. Tuy nhiên, ngày
1/1/2006, điều 476 Bộ luật Dân sự 2005 lại quy định: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng
không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố đối với loại cho vay
tương ứng”. Rõ ràng, thông qua quy định này, pháp luật dân sự đã thiết lập cơ chế điều hành bằng
lãi suất trần đối với hoạt động huy động vốn và các hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại.
Với những quy định không rõ ràng của các văn bản liên quan, đã thật sự đặt các ngân hàng thương
mại vào “ngã ba đường”.
Khác với Bộ luật Dân sự 1995, Bộ luật Dân sự 2005 đã mở rộng tối đa phạm vi điều chỉnh đối
với các quan hệ dân sự. Cụ thể tại Điều 1 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Bộ luật Dân sự quy định
địa vị pháp lí, chuẩn mực pháp lí cho cách xử sự của cá nhân, pháp nhân,… trong các quan hệ dân
sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động”. Mang bản chất là một quan hệ dân
sự, chính vì vậy, các quan hệ liên quan đến hoạt động huy động vốn, liên quan đến lãi suất cũng có
thể sẽ chịu sự điều chỉnh của các quy định về lãi suất của Bộ luật Dân sự. Căn cứ vào các quy định
của Luật Ban hành văn bản pháp luật, văn bản chuyên ngành không được được trái với các văn bản
quy phạm pháp luật chung
6
, phải đảm bảo tính thống nhất. Bộ luật Dân sự 2005 (kể cả phần chung
và Điều 476 mục 4 Chương XVIII) và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật không quy định
trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật chung (Bộ luật Dân sự) và văn bản quy phạm pháp
luật chuyên ngành (Luật Các tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn thi hành) quy định về cùng
một vấn đề (lãi suất vay) mà có khác nhau, thì áp dụng văn bản pháp luật chuyên ngành. Cho nên,
khi có sự khác nhau giữa quy định của Bộ luật Dân sự và văn bản quy phạm pháp luật chuyên
ngành về lãi suất vay, ngân hàng không có cơ sở để áp dụng quy định của văn bản pháp luật chuyên
ngành trong việc xác định lãi suất cho vay.
6 Điều 3 (nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản pháp luật) luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số
17/2008/QH12 ngày 03 tháng 06 năm 2008.
SVTH: Nguyễn Thanh Thùy Linh – MSSV: 3020103
9
Tuy trong hệ thống pháp luật Việt Nam không công khai thừa nhận nguyên tắc ưu tiên áp dụng
văn bản pháp luật chuyên ngành khi có sự khác biệt giữa các văn bản (theo nguyên tắc đảm bảo sự

sự (sửa đổi), luật Ngân hàng nhà nước và Luật Các tổ chức tín dụng mới, nhà nước ta sẽ lựa chọn
được một cơ chế điều chỉnh thích hợp ca về mặt pháp lí và tài chính.
Vấn đề thứ hai: Lãi suất cơ bản.
Nếu như vấn đề trên thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu cũng như báo giới
thì vấn đề này chưa hệ thấy được đề cập. Đây là vấn đề xuất hiện trên cơ sở vai trò của lãi suất cơ
bản. Theo khoản 12 Điều 9 luật Ngân hàng nhà nước 1997: “Lãi suất cơ bản là lãi suất do Ngân
7 Ngân hàng nhà nước việt nam, Thông báo về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản phù hợp với quy định của Luật Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam và Điều 476 Bộ luật Dân sự và điều chỉnh cơ chế lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu
(Tài liệu họp báo ngày 17 tháng 5 năm 2008).
SVTH: Nguyễn Thanh Thùy Linh – MSSV: 3020103


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status