TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN VÀ DANH MỤC ĐẦU TƯ - Pdf 76

TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN VÀ DANH MỤC
ĐẦU TƯ
I. CHỨNG KHOÁN VÀ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
Chứng khoán là hàng hóa của thị trường chứng khoán. Đó là những tài sản
tài chính vì nó mang lại thu nhập và khi cần người sở hữu nó có thể bán để thu
tiền về. Theo sự phát triển của thị trường hàng hóa ngày càng phong phú, đa
dạng. Nói chung, người ta phân chia chứng khoán làm bốn nhóm chính: Cổ
phiếu, trái phiếu, các công cụ chuyển đổi và chứng khoán phái sinh.
1. Cổ phiếu
Cổ phiếu là một loại chứng khoán được phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc
bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu cổ
phiếu đối với tài sản hoặc vốn của một công ty cổ phần.
Theo tính chất của các quyền lợi mà cổ phiếu mang lại cho cổ đông, có hai
loại cổ phiếu cơ bản: cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi.
1. Phân loại cổ phiếu
a. Cổ phiếu phổ thông
Cổ phiếu phổ thông là loại cổ phiếu điển hình nhất. Nếu một công ty chỉ
được phép phát hành một loại cổ phiếu, nó sẽ phát hành cổ phiếu phổ thông. Cổ
phiếu phổ thông mang lại những quyền sau cho cổ đông.
Quyền hưởng cổ tức
Cổ tức là phần lợi nhuận của công ty dành để trả cho những người chủ sở
hữu. Cổ tức có thể trả bằng tiền hoặc cũng có thể trả bằng cổ phiếu mới.
Cổ phiếu phổ thông không quy định mức cổ tức tối thiểu hay tối đa mà cổ
đông được nhận. Việc có trả cổ tức hay không, tỉ lệ và hình thức chi trả cổ tức
cho cổ đông là tùy thuộc vào kết quả và chính sách của công ty và do hội đồng
quản trị quyết định. Vì thế, thu nhập mà cổ phiếu phổ thông mang lại cho cổ
đông là thu nhập không cố định. Khi công ty phải thanh lí tài sản, cổ đông phổ
thông là những người cuối cùng được nhận những gì còn lại(nếu có) sau khi
công ty trả xong các nghĩa vụ như thuế, nợ và cổ phiếu ưu đãi.
Quyền mua cổ phiếu mới
Khi công ty phát hành một đợt cổ phiếu mới để tăng vốn, các cổ đông hiện

Cổ phiếu ưu đãi cổ tức ấn định một tỉ lệ cổ tức tối đa so với mệnh giá, hay
một mức cổ tức tuyệt đối tối đa. Trong điều kiện công ty hoạt động bình thường,
cổ đông cổ tức ưu đãi sẽ hưởng mức cổ tức này, vì thế thu nhập từ cổ tức của cổ
phiếu ưu đãi nói chung là cố đinh. Đổi lại điều đó, cổ đông ưu đãi không được
tham gia bỏ phiếu quyết định những vấn đề quan trọng của công ty.
Trong trường hợp công ty không có đủ lợi nhuận để trả theo tỉ lệ đó, công ty
sẽ trả theo khả năng có thể. Đặc biệt khi thua lỗ, công ty có thể không trả cổ tức
ưu đãi, nhưng một khi cổ đông ưu đãi chưa được trả cổ tức thì cổ đông phổ
thông cũng chưa được trả. Trong trường hợp công ty thanh lí tài sản, cổ đông
ưu đãi được nhận lại vốn trước cổ đông phổ thông nhưng sau người có trái
phiếu.
Cổ phiếu ưu đãi cũng có thể kèm theo đó những điều khoản để tăng thêm
tính hấp dẫn của nó như:
Cổ phiếu ưu đãi cộng dồn quy định rằng nếu chưa trả cổ tức cho cổ
đông ưu đãi thì xem như công ty còn mắc nợ, cho đến khi nào có đủ lợi nhuận
để trả và tất nhiên cho tới khi đó cổ đông phổ thông mới nhận được cổ tức.
Cổ phiếu ưu đãi tham dự cho phép cổ đông ưu đãi được tham chia sẻ
thành quả hoạt động của công ty khi công ty làm ăn phát đạt. Cổ đông sẽ nhận
lượng cổ tức cao hơn mức tối đa đã quy định nếu cổ tức trả cho cổ đông thường
vượt quá một mức nhất định.
Cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi cho phép cổ đông, trong những
điều kiện cụ thể có thể chuyển đổi cổ phiếu ưu đãi thành cổ phiếu thường,
thường là trong điều kiện công ty làm ăn phát đạt.
Ngoài cổ phiếu ưu đãi về cổ tức, còn có thể có cổ phiếu ưu đãi về quyền bỏ
phiếu ( được nhiều phiếu bầu hơn) hay được quyền đòi lại vốn góp( theo Luật
daonh nghiệp Việt Nam).
1.2. Lợi tức cổ phiếu
Người nắm giữ cổ phiếu có thể kì vọng ở tài sản tài chính này hai nguồn lợi
tức tiềm năng là cổ tức và lãi vốn.
a. Cổ tức

có tiềm năng tăng giá mạnh.
Cổ phiếu phòng vệ là cổ phiếu của những công ty có sức chống
đỡ với suy thoái. Đặc trưng của những công ty này là mức độ ổn định của chúng
trong những thời kì mà toàn bộ nền kinh tế suy thoái. Đó thường là những công
ty kinh doanh các sản phẩm thiết yếu như thuốc là, nước giải khát, bánh kẹo và
thực phẩm. Loại cổ phiếu này có mức chi trả cổ tức ổn định và vào thời kì đi
xuống của nền kinh tế khi các cổ phiếu khác suy giảm thì loại cổ phiếu này
không bị mất giá. Song khi nền kinh tế phát đạt và các cổ phiếu khác tăng giá
thì loại cổ phiếu này cũng lại khó tăng giá hơn.
Cổ phiếu thu nhập là cổ phiếu của những công ty trả lãi cao hơn
mức trung bình. Loại cổ phiếu này nói chung có sức hấp dẫn đối với những
người mua cổ phiếu để có thu nhập thường xuyên, đặc biệt là người già và
người về hưu nhưng nó cũng không có tiềm năng tăng giá. Thường đây là cổ
phiếu của những công ty thuộc lĩnh vực công ích.
Cổ phiếu chu kì là cổ phiếu của những công ty có mức lợi nhuận
biến đổi theo chu kì kinh doanh. Khi điều kiện kinh doanh tốt lên, khả năng thu
lợi nhuận của công ty phục hồi, giá cổ phiếu thường của công ty tăng. Khi điều
kiện kinh doanh xấu đi, kinh doanh sa sút mạnh, lợi nhuận giảm và do đó giá cổ
phiếu cũng giảm. Các ngành kinh doanh có tính chu kì là thép, xi măng, máy
công cụ và ôtô…
Cổ phiếu thời vụ là cổ phiếu của những công ty mà thu nhập của
nó có khuynh hướng biến động theo thời vụ, mà tiêu biểu là công ty bán lẻ.
Doanh số và lợi nhuận của những công ty này thường tăng lên vào những thời
điểm nhất định trong năm (như dịp khai, giảng, giáng sinh…)
1.3. Rủi ro của cổ phiếu
Rủi ro của một công cụ tài chính nói chung, và điển hình là cổ phiếu, được
hiểu là tính chất không chắc chắn trong nguồn lợi tức mà nó mang lại cho người
nắm giữ.
Những lực lượng góp phẩn tạo nên những thay đổi trong lợi tức - giá hoặc
cổ tức (lãi) - cấu thành các yếu tố của rủi ro. Một số những yếu tố ảnh hưởng

Khi phối hợp nhiều cổ phiếu (hoặc cổ phiếu và trái phiếu hay các công cụ
khác nữa) trong cùng một danh mục thì hiệu ứng tổng thể là tổng rủi ro của
danh mục đầu tư giảm xuống. Đó là một phương pháp quản lí rủi ro hữu hiệu.
Tuy nhiên phương thức này sẽ không phù hợp với những nhà đầu tư có lượng
vốn để đầu tư không đủ lớn. Khi đó có một cách thay thế là mua chứng chỉ quỹ
đầu tư thay vì mua các cổ phiếu riêng lẻ để thiết lập danh mục. Đây là phương
thức đầu tư có thể giúp cho người đầu tư cá nhân dù với số vốn không lớn, vẫn
cố thể được hưởng lợi ích của việc đa dạng hóa danh mục đầu tư và năng lực
quản lí chuyên nghiệp đồng thời giảm được chi phí giao dịch.
Sử dụng các công cụ phái sinh
Một trong những chức năng kinh tế của các công cụ phái sinh là rào chắn rủi
ro, bảo vệ lợi nhuận của những công cụ cơ sở. Vì thế, khi dự đoán giá tăng hay
giảm và để bảo vệ được lợi nhuận của các tài sản đang nắm giữ hoặc tìm cách
kiếm lợi với tỷ suất lợi nhuận cao, các nhà đầu tư có thể sử dụng các công cụ
phái sinh như quyền chọn mua, quyền chọn bán, các hợp đồng tương lai và
những chiến lược đi kèm nó
2. Trái phiếu
Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành
(người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán môt khoản tiền xác
định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể, và phải hoàn trả khoản cho
vay ban đầu khi nó đáo hạn.
Những đặc trưng quan trọng của trái phiếu:
Người phát hành
Có hai loại người phát hành chính là Chính phủ và công ty. Chính Phủ là
người phát hành đáng tin cậy nhất do có những điều kiện đảm bảo cao nhất cho
việc hoàn trả gốc và lãi. Còn trong khu vực công ty thì người phát hành có
nhiều loại, mỗi loại có khả năng khác nhau trong việc đáp ứng các nghĩa vụ đã
thỏa thuận với người cho vay. Nói cách khác, có thể coi rủi ro thanh toán của
trái phiếu Chính phủ là bằng không, còn các trái phiếu công ty khác nhau có
mức độ rủi ro thanh toán khác nhau.

phiếu sẽ chịu tác động của những thay đổi của lãi suất. Nếu các yếu tố khác
không đổi, lãi suất cuống phiếu càng cao giá trái phiếu càng ít thay đổi trước
một thay đổi của lãi suất. Kết quả là lãi suẩt cuống phiếu và thời gian đáo hạn
có những hiệu ứng ngược chiều với tính biến động giá của một trái phiếu.
2.1. Phân loại trái phiếu
Trái phiếu vô danh là trái phiếu không mang tên trái chủ cả trên chứng chỉ
cũng như trên sổ sách của người phát hành. Những phiếu trả lãi đính theo tờ
chứng chỉ và khi đến hạn trả lãi người giữ trái phiếu chỉ việc xé ra và mang tới
ngân hàng nhận lãi, khi trái phiếu đáo hạn người nắm giữ nó mang chứng chỉ tới
ngân hàng để nhận lại khoản cho vay.
Trái phiếu ghi danh là loại trái phiếu có ghi tên và địa chỉ của trái chủ trên
chứng chỉ và trên sổ sách của người phát hành. Hình thức ghi danh có thể chỉ
thực hiện cho phần vốn gốc cũng có thể là ghi danh toàn bộ cả gốc và lãi. Dạng
ghi danh toàn bộ mà đang ngày càng phổ biến là hình thức ghi sổ. Trái phiếu ghi
sổ hoàn toàn không có dạng vật chất, quyền sở hữu được xác nhận bằng việc
lưu giữ tên và địa chỉ của chủ sở hữu trên máy tính.
Trái phiếu Chính phủ là những trái phiếu do Chính phủ phát hành. Chính phủ
phát hành trái phiếu nhằm mục đích bù đắp thâm hụt ngân sách; tài trợ cho các
công trình công ích hoặc làm công cụ điều tiết tiền tệ. Lãi suất của trái phiếu
Chính phủ được xem là lãi suất chuẩn để làm căn cứ ấn định lãi suất của các
công cụ nợ khác cùng kì hạn.
Trái phiếu công ty là những trái phiếu do các công ty phát hành để vay vốn
dài hạn. Trái phiếu công ty cũng có nhiều loại: Trái phiếu có đảm bảo (được
đảm bảo bằng các tài sản thế chấp cụ thể), trái phiếu không đảm bảo ( chỉ được
đảm bảo bằng uy tín công ty, khi công ty phá sản thì trái chủ của trái phiếu này
được giải quyết quyền lợi sau các trái chủ có đảm bảo nhưng trước các cổ
đông), trái phiếu có lãi suất thả nổi, trái phiếu có thể mua lại (cho phép người
phát hành trong những trường hợp nhất định có thể mua lại toàn bộ hay một
phần số trái phiếu đã phát hành trước khi trái phiếu đáo hạn), trái phiếu có thể
bán lại (cho phép người mua trái phiếu trong những trường hợp nhất định có thể

3. Chứng chỉ quỹ đầu tư
Quỹ đầu tư là quỹ hình thành từ vốn góp của người đẩu tư để đầu tư vào các
loại chứng khoán. Chứng chỉ quỹ đầu tư là chứng chỉ do quỹ đầu tư phát hành
ra công chúng nhằm huy động vốn. Ngoài ra, quỹ đầu tư còn có thể huy động
vốn dưới dạng bán các cổ phần quỹ đầu tư. Thay vì đầu tư trực tiếp vào chứng
khoán người đầu tư mua cố phần hoặc chứng chỉ quỹ, nhờ đó mà tính chuyên
nghiệp của hoạt động đầu tư cao hơn, tuy nhiên tất cả người đầu tư vào một quỹ
đều hưởng lợi suất như nhau.
.1. Phân loại quỹ đầu tư
Dựa trên hình thái vận động của vốn, có thể chia thành quỹ đóng và quỹ mở:
- Quỹ đóng có chứng chỉ hay cổ phần quỹ chỉ phát hành một lần duy nhất
với số lượng xác định, sau khi phát hành quỹ sẽ không mua lại hay phát hành bổ
sung. Người đầu tư muốn giao dịch cổ phần hay chứng chỉ quỹ sẽ tiến hành trên
thị trường chứng khoán tập trung.
- Quỹ mở liên tục phát hành cổ phiếu hay chứng chỉ ra công chúng với số
lượng không hạn chế, sau khi phát hành quỹ sẵn sàng mua lại cổ phần hay
chứng chỉ mỗi khi người đầu tư muốn bán. Người đầu tư không giao dịch chứng
chỉ hay cổ phần trên thị trường thứ cấp mà giao dịch thẳng với quỹ hoặc đại lí
ủy quyền của quỹ.
.2. Ưu điểm của chứng chỉ - cổ phần quỹ đầu tư
- Giúp người đầu tư đa dạng hóa đầu tư để giảm thiếu tổng rủi ro mà chỉ
cần lượng vốn đầu tư khiêm tốn.
- Tránh được những giao dịch nhỏ mà phí giao dịch lại lớn đồng thời lại tận
dụng được kĩ năng đầu tư chuyên nghiệp của người quản lí quỹ.
- Giúp mỗi nhà đầu tư có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó như: tránh thuế,
bảo toàn vốn, tăng trưởng vốn hay có thu nhập thường xuyên. Ngoài ra còn
được hưởng nhiều dịch vụ cho người thụ hưởng.
.3. Nguồn lợi tức tiềm năng của chứng chỉ - cổ phần quỹ đầu tư
- Nhận cổ tức của quỹ. Khoản này được chi trả từ số thu nhập của các
khoản đầu tư của quỹ như: cổ tức co rphiếu, tiền lãi từ trái phiếu…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status