1
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ ÁP DỤNG GIAO DỊCH QUYỀN
CHỌN CHỨNG KHOÁN VÀO TTCK VIỆT NAM
3.1. Định hướng phát triển của TTCK Việt Nam đến năm 2020 và khả
năng áp dụng giao dịch quyền chọn chứng khoán tại Việt Nam
3.1.1 Định hướng phát triển của TTCK Việt Nam đến năm 2020
TTCK Việt Nam đã trải qua một quá trình hình thành và phát triển nhanh
chóng, trong giai đoạn tiếp theo, với bối cảnh hội nhập kinh tế của nền kinh tế đất
nước và TTTC quốc gia, những định hướng chiến lược phát triển lâu dài là rất cần
thiết để phát triển TTCK Việt Nam. Ngày 02/08/2009 Thủ tướng chính phủ đã ra
quyết định số 128/2007/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án phát triển thị trường vốn
Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020. Mục tiêu là: Phát triển nhanh,
đồng bộ, vững chắc thị trường vốn Việt Nam, trong đó TTCK đóng vai trò chủ đạo;
từng bước đưa thị trường vốn trở thành một cấu thành quan trọng của thị trường tài
chính, góp phần đắc lực trong việc huy động vốn cho đầu tư phát triển và cải cách
nền kinh tế; đảm bảo tính công khai, minh bạch, duy trì trật tự, an toàn, hiệu quả,
tăng cường quản lý, giám sát thị trường; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người
đầu tư; từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh và chủ động hội nhập TTTC quốc tế.
Phấn đấu đến năm 2020, thị trường vốn Việt Nam phát triển tương đương thị trường
các nước trong khu vực. Phát triển thị trường vốn đa dạng để đáp ứng nhu cầu huy
động vốn và đầu tư của mọi đối tượng trong nền kinh tế. Phấn đấu đến năm 2010 giá
trị vốn hoá TTCK đạt 50% GDP và đến năm 2020 đạt 70% GDP.
Với các mục tiêu trên, quyền chọn đã được thể hiện rõ trong từng bước đi của
các chính sách, thể hiện sự cần thiết và cần được phát triển trên TTCK trong tiến
trình hội nhập phát triển. Theo quyết định này các loại chứng khoán phái sinh nói
chung và quyền chọn chứng khoán nói riêng đã được đề cập khá rõ ràng, chi tiết như
quyền chọn mua, quyền chọn bán chứng khoán; hợp đồng tương lai; hợp đồng kỳ
hạn; các sản phẩm liên kết (chứng khoán - bảo hiểm, chứng khoán - tín dụng, tiết
kiệm - chứng khoán...); các sản phẩm từ chứng khoán hoá tài sản và các khoản nợ....
1
1
2
2
3
tư bắt đầu nhìn vào thị trường các công cụ phái sinh để quyết định mua hoặc bán
chứng khoán, như vậy cái mà ban đầu được xem là thị trường là để chuyển rủi ro trở
thành một chỉ số hướng dẫn thị trường. Đòn bẩy nợ trong nền kinh tế: việc gia tăng
đòn bẩy nợ trong nền kinh tế làm nền kinh tế thực không đủ khả năng để tài trợ cho
nghĩa vụ nợ và điều chỉnh những hoạt động kinh tế thực, điều này có thể gây ra suy
thoái hay khủng hoảng kinh tế
Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp
về tổ chức và quản lý sàn giao dịch và một số giải pháp về phát triển TTCK năm đáp
ứng những yêu cầu cơ bản cho việc hình thành thị trường quyền chọn chứng khoán.
Việt Nam cần lập ra cho mình một kế hoạch hành động cụ thể với những bước đi
thận trọng với mục tiêu là phát huy một cách tối đa vai trò của thị trường quyền chọn
chứng khoán đối với nền kinh tế xã hội.
Trên cơ sở tham khảo mô hình tổ chức sàn giao dịch quyền chọn chứng khoán
tại một số nước trên thế giới, Việt Nam có thể xây dựng cho mình một mô hình sàn
giao dịch quyền chọn chứng khoán dựa vào quy mô và điều kiện hiện tại. Chúng ta
có thể thí điểm triển khai quyền chọn sau đó đánh giá kết quả thực hiện, rút ra kinh
nghiệm để từ đó có thể áp dụng rộng rãi trên TTCK cho toàn bộ chứng khoán.
3.2. Một số giải pháp để áp dụng quyền chọn quyền chọn chứng khoán
vào TTCK Việt Nam
3.2.1 Giải pháp về xây dụng và hoàn thiện khung pháp lý
3.2.1.1 Hoàn thiện khung pháp lý cho TTCK
Luật chứng khoán và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật chứng khoán ra đời
đã tạo điều kiện hình thành khuôn khổ pháp luật trong việc quản lý, giám sát thị
trường, đảm bảo nguyên tắc hoạt động thị trường: công khai, công bằng, minh bạch
và bảo vệ lợi ích hợp pháp của các NĐT.
TTCK muốn thu hút được nhiều NĐT, trước hết phải tạo cho NĐT tâm lý
được kinh doanh một cách công bằng trên thị trường. TTCK ổn định và phát triển là
Điều quan trọng nhất để phát triển thị trường quyền chọn chứng khoán là hệ
thống pháp lý đầy đủ, đồng bộ. Bởi giao dịch công cụ tài chính phái sinh này không
thể là việc hình thành cung - cầu một cách bản năng tự nhiên của các chủ thể trong
nền kinh tế. Thị trường dịch vụ tài chính là một trong những bộ phận quan trọng bật
4
4
5
nhất trong nền kinh tế, cần phải được phát triển lành mạnh, hoạt động có hiệu quả và
trong khuôn khổ pháp luật cho phép vì lợi ích vĩ mô và toàn cục. Như vậy, môi
trường pháp lý đầy đủ, đồng bộ, hiệu lực pháp lý cao là điều kiện cần cho sự hình
thành và phát triển của thị trường quyền chọn chứng khoán.
Quyền chọn chứng khoán là một công cụ phái sinh và là công cụ phái sinh
phức tạp nhất trong số các sản phẩm phái sinh hiện nay. Vì vậy để phát triển được
sản phẩm này, Chính phủ và các ban ngành có liên quan cần phải chuẩn bị xây dựng
một cơ sở pháp lý chặt chẽ và hợp lý. Hệ thống khung pháp lý là cơ sở quan trọng
nhất quy định nguyên tắc tổ chức và hoat động của thị trường phái sinh và tạo nên
những rào chắn bảo vệ sự lành mạnh của thị trường tài chính, đồng thời các văn bản
pháp luật cũng là cơ sở quan trọng cho dịch vụ mới ra đời. Xây dựng được khung
pháp lý mang tính thực tiễn, thống nhất và khoa học. Hệ thống văn bản pháp luật phải
được xây dựng trên cơ sở thực tế, căn cứ vào hoạt động của TTCK và có thể điều
chỉnh được thị trường theo hướng bao quát, toàn diện và kịp thời.
Từ tính chất phức tạp của các hợp đồng quyền chọn, ngoài việc ban hành mới
và bộ sung hoàn thiện các văn bản pháp luật để quy định nguyên tắc và tổ chức hoạt
động của thị trường này, thì việc điều hành và giám sát hoạt động của thị trường cũng
rất cần thiết để đảm bảo được tính hiệu quả, công bằng, lành mạnh, bảo vệ được
quyền lợi chính đáng của NĐT, dung hòa lợi ích của tất cả những chủ thể tham gia
thị trường. Một hệ thống pháp luật hoàn thiện, hiệu lực pháp lý cao và có tính tiên
liệu sẽ là nền tảng vững chắc để mọi tác nhân có thể an tâm tham gia vào các giao
dịch trên thị trường.
Cần phải xây dựng những nền tảng cốt lõi và cần thiết về bộ máy điều hành
Cơ cấu tổ chức này bao gồm SGDCK; Các công ty môi giới (CTCK); Các cơ quan
quản lý và giám sát; trung tâm lưu ký, thanh toán bù trừ và các đối tượng tham gia thị
trường. Bên cạnh đó cũng phải xây dựng cho được các nguyên tắc hoạt động ; quy
trình thực hiện giao dịch; và các quy định cho từng đối tượng tham gia thị trường một
cách rõ ràng.
Uỷ ban chứng khoán Nhà nước thông qua những quy tắc, và điều lệ Sàn Giao
dịch. Những quy tắc và điều lệ này ban hành những quy định có liên quan đến nhiệm
6
6
7
vụ, cơ cấu tổ chức, việc bổ nhiệm các thành viên của sàn giao dịch. Đồng thời,
UBCKNN có trách nhiệm soạn thảo điều lệ và chuẩn mực chung cho thị trường
quyền chọn, từ đó, các SGDCK, trung tâm lưu ký – thanh toán bù trừ sẽ ban hành các
quy định cho các hoạt động giao dịch trên sàn, bao gồm các biểu mẫu, các quy định
trong hợp đồng, giá thực hiện, hạn mức thực hiện, phương thức đặt lệnh, ký quỹ, và
thanh toán hợp đồng….
SGDCK là một tập thể chịu trách nhiệm quản lý và điều hành Sàn giao dịch và
được giám sát bởi UBCKNN. Nó đáp ứng được chiến lược được đề ra của sàn giao
dịch, đồng thời đặt ra được những tiêu chuẩn và thi hành những quyết định liên quan
đến phát triển thị trường. Bên cạnh đó, Sở giao dịch sẽ quy định các điều kiện cho
các loại cổ phiếu mà giao dịch quyền chọn được phép, trước tiên là những cổ phiếu
của các công ty lớn, có tỷ suất sinh lợi cao, khối lượng giao dịch đáng kể và đạt được
tính thanh khoản theo yêu cầu để duy trì việc niêm yết quyền chọn. Ngoài ra Sở giao
dịch cũng quyết định CTCK nào được phép tham gia vào thị trường quyền chọn này
dựa theo năng lực và uy tín của công ty đó.
Các CTCK đóng vai trò là các công ty môi giới làm nhiệm vụ thực hiện các
yêu cầu của NĐT. Công ty môi giới có trách nhiệm giao dịch các lệnh nhận được ở
mức giá tốt nhất có thể và đặt lệnh trực tiếp hay chuyển lệnh về cho các nhân viên
nhập lệnh tại Sở giao dịch để thực hiện giao dịch. Doanh thu của các CTCK là phần
hoa hồng nhận được cho mỗi giao dịch thành công.
3.2.2.1 Nâng cao vai trò và trách nhiệm của một số cơ quan chức năng có liên
quan.
Để nâng cao vai trò và trách nhiệm của một số cơ quan chức năng trong việc
điều hành và quản lý TTCK tại thị trường Việt Nam, về cơ bản chúng ta cần thực
hiện một số điểm sau đây:
− Nâng cao vai trò của UBCKNN để đủ sức vận hành, quản lý và giải quyết
các vấn đề phát sinh trong thực tiễn đồng thời thực hiện các ý tưởng về xây dựng và
phát triển TTCK Việt Nam trong thời gian sắp tới. Chúng ta cần phải cử các cán bộ
có trình độ sang các nước đã triển khai thành công nghiệp vụ quyền chọn chứng
khoán để học hỏi kinh nghiệm từ đó đưa ra lộ trình cũng như mô hình phát triển cho
quyền chọn chứng khoán tại Việt Nam.
8
8
9
− Cúng cố cơ cấu tổ chức của SGDCK. SGDCK phải đủ sức kiểm soát các rủi
ro, giám sát các giao dịch nội gián và các giao dịch bất thường bằng những công cụ
hiện đại và công nghệ tiên tiến nhằm củng cố lòng tin cho các NĐT.
− Quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm đối với từng bộ phận, từng cá nhân
trong công tác quản lý hoạt động TTCK, tránh tình trạng chốn tránh đùn đẩy trách
nhiệm khi xẩy ra các vấn đề phát sinh
− Đẩy mạnh hoạt động và tăng cường vai trò của các hiệp hội trong việc hỗ
trợ cơ quan quản lý nhà nước trên các phương diện: xây dựng khuôn khổ pháp lý, đào
tạo nhân lực, giám sát sự tuân thủ quy định pháp luật của các thành viên tham gia
TTCK.
3.2.2.2 Nâng cao hiệu quả quản lý giảm sát của cơ quan quản lý nhà nước.
TTCK Việt Nam là một thị trường còn non trẻ, các nhà quản lý còn chưa có
nhiều kinh nghiệm trong việc quản lý và điều hành. Tuy nhiên, khi Việt Nam đã hội
nhập vào nền kinh tế quốc tế thì năng lực quản lý của nhà nước đối với TTCK cần
được nâng cao. Để có thể đáp ứng được yêu cầu quản lý của mình nhà nước cần:
− Nâng cao năng lực và trình độ nguồn nhân lực của nhà nước. Quan tâm
cung cầu trên thị trường. Khi đó, rủi ro đối với giao dịch chứng khoán sẽ dần hiện rõ,
gây ra những thiệt hại lớn hơn, buộc các DN, cá nhân, NĐT phải quan tâm đến các
hợp đồng quyền chọn để bảo hiểm, giảm thiểu rủi ro cho chính mình.
3.2.2.4 Nâng cao hiệu quả thị trường thông qua việc công khai hóa và minh
bạch hóa thông tin.
TTTC Việt Nam mới chỉ tăng tốc phát triển trong một thời gian ngắn, vấn đề
truyền thông tài chính cũng đã bắt đầu nhận được sự quan tâm của xã hội. Nhưng
nhìn chung, truyền thông tài chính ở Việt Nam chỉ mới phát triển sơ khai, hầu như là
mang tính tự phát, thiếu sự quản lý, ràng buộc trách nhiệm từ các cơ quan quản lý
nhà nước. Với một TTTC bậc cao như thị trường quyền chọn, thông tin càng đóng
một vai trò quan trọng trong các quyết định đầu tư, phòng ngừa rủi ro của DN,
NĐT…Do đó, để phát triển thị trường quyền chọn, đặc biệt là quyền chọn quyền
chọn chứng khoán, cần chấn chỉnh và thúc đẩy truyền thông tài chính phát triển.
Thông tin tài chính cần được công khai, minh bạch hóa. Nhà nước cần tiếp tục ban
10
10
11
hành các qui chế, thông tư, hướng dẫn…chi tiết hơn việc công bố thông tin ra TTCK
cũng như chế tài nghiêm khắc đối với các vi phạm về công bố thông tin.
Ngoài ra, cần thúc đẩy các nguồn thông tin đa dạng, đầy đủ và cần thiết đến
với mọi đối tượng tham gia thị trường. Trước mắt, nên thành lập các tổ chức chuyên
nghiên cứu phát triển các công cụ dự báo giá và công bố kết quả dự báo giá cả, đặc
biệt là giá của một số mặt hàng quan trọng như ngoại tệ, chứng khoán, vàng, xăng
dầu… qua các phương tiện thông tin đại chúng hoặc qua các tạp chí chuyên ngành để
các NĐT có cơ sở phân tích, đánh giá và đưa ra các quyết định kinh doanh hay phòng
ngừng rủi ro cho riêng mình.
3.2.2.5 Thay đổi một số qui định về hạch toán kế toán.
Các vấn đề về hạch toán quyền chọn nói riêng và các công cụ phái sinh nói
chung hiện nay còn khá mới mẻ ở nước ta. Do đó, nhà nước nên điều chỉnh, hoàn
thiện các vấn đề pháp lý về hạch toán, xác định rõ ràng nghiệp vụ giao dịch hợp đồng