Đề cương ôn tập triết học - Pdf 76

Diễn đàn Sinh viên Hành chính www.hanhchinhVN.Com
Câu 1: Phân tích những điều kiện ra đời của triết học Mác và nêu những
giai đoạn chủ yếu trong sự hình thành và phát triển của triết học Mác – Lenin
1.1. Những điều kiện ra đời của triết học Mác
Triết học Mác, cũng như các hệ thống triết học trước đó, đều ra đời dựa trên
những điều kiện kinh tế-xã hội nhất định:
1. Điều kiện về kinh tế-xã hội
- Chủ nghĩa tư bản đã bước sang giai đoạn mới
- Triết học Mác ra đời trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản đã bước sang giai
đoạn mới nhờ tác động của cách mạng công nghiệp, đã tạo ra một lực lượng sản xuất
vô cùng to lớn so với các thời kỳ trước đó.
- Mâu thuẩn xã hội vốn có của nó bộc lộ ngày càng gay gắt
- Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã làm cho những mâu thuẩn xã hội
vốn có của nó bộc lộ ngày càng gay gắt, nhiều cuộc đấu tranh giai cấp đã nổ ra, đi từ
thấp đến cao, từ tự phát đến tự giác, từ dân sinh đến dân chủ; giai cấp tư sản không
còn là giai cấp cách mạng, giai cấp vô sản trở thành một lực lượng chính trị lớn
mạnh, là giai cấp tiên tiến nhất, cách mạng nhất.
- Triết học Mác ra đời là tất yếu khách quan
- Từ thực tiển xã hội, nhất là từ thực tiển cách mạng của giai cấp vô sản đã
nảy sinh một yêu cầu mang tính khách quan là phải được soi sáng bằng một lý luận
khoa học. Sự ra đời của Triết học Mác, là một tất yếu khách quan, là sự giải đáp về
mặt lý luận những vấn đề thời đại đang đặt ra trên lập trường của giai cấp vô sản.
2. Điều kiện về mặt lý luận và những tiền đề khoa học tự nhiên
- Sự kế thừa và phát triển những thành tựu quan trọng nhất của tư duy triết
học
- Sự ra đời của Triết học Mác phù hợp với quy luật của lịch sử tư tưởng
nhân loại; là sự kế thừa và phát triển những thành tựu quan trọng nhất của tư duy
triết học nhân loại, nó được Mác và Anghen sáng tạo ra và được Lênin phát triển
một cách xuất sắc.
- Xây dựng học thuyết triết học mới, trong đó chủ nghĩa duy vật và phép biện
chứng thống nhất với nhau một cách hữu cơ.

* Sêlinh và sự linh báo (Ph.Ăngghtn)
- Sự chuyển biến từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật biện chứng và từ
chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa xã hội khoa học của C.Mác và
Ph.Ăngghen.
- C.Mác làm biên tập viên cho Báo Sông Ranh (từ 1842 – 1843).
- Một số tác phẩm chủ yếu:
* Góp phần phê phán triết học Pháp quyền của Hê ghen, lời nói đầu (C.Mác,
1943).
* Lược thảo phê phán khoa kinh tế chính trị (Ph. Ăngghen, 1844).
b) Thời kỳ đề xuất những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử.
- Đây là thời kỳ từ 1844 đến 1848, C.Mác và Ph.Ăngghen đã từng bước xây
dựng những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
- Một số tácphẩm tiêu biểu của giai đoạn này:
* Bản thảo kinh tế triết học năm 1844 (C.Mác).
* Tình cảnh của giai cấp lao động ở Anh (Ph.Ăngghen, 1845).
* Gia đình thần thánh (C.Mác – Ph.Ăngghen, 1845).
2
Diễn đàn Sinh viên Hành chính www.hanhchinhVN.Com
* Luận cương về Phoi ơ bắc (C.Mác, 1945)
* Hệ tư tưởng Đức (C.Mác – Ph.Ăngghen, 1846).
* Sự khốn cùng của triết học (C.Mác, 1847).
* Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (C.Mác – Ph.Ăngghen, 1848).
c) Giai đoạn C.Mác và Ph.Ăngghen bổ sung và phát triển những quan điểm
triết học.
- Đây là giai đoạn đoạn từ 1848 – 1886, C.Mác và Ph.Ăngghen đã hoàn chỉnh
những tư tưởng triết học của mình.
- Một số tác phẩm chủ yếu của giai đoạn này:
* Đấu tranh giai cấp ở Pháp (C.Mác, 1850).
* Cách mạng và phản cách mạng ở Đức (Ph.Ăngghen, 1852).

* Bệnh ấu trĩ “tả khuynh” trong phong trào cộng sản (1920).
* Về chính sách kinh tế mới (1921).
* Về tác dụng của chủ nghĩa duy vật chiến đấu (1922).
3. Thực chất của cuộc cách mạng trong triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen thực
hiện, Lênin phát triển.
a) Sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng.
b) Sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử.
c) Thống nhất giữa lý luận với thực tiễn.
d) Thống nhất giữa tính khoa học với tính cách mạng.
e) Xác định đúng đắn mối quan hệ giữa triết học với các khoa học cụ thể.
4. Triết học Mác-Lênin trong thời đại hiện nay.
a) Những biến đổi của thời đại.
b) Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học Mác-Lênin trong
thời đại hiện nay.
Câu 2: Khái niệm thế giới quan, các hình thức thế giới quan, bản chất và
những nguyên tắc phương pháp luận của thế giới quan duy vật biện chứng và
việc vận dụng chúng vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay?
1. Khái niệm thế giới quan duy vật biện chứng thế giới quan DVBC là thế
giới quan mà cơ sở của nó là duy vật và cách tiếp cận là biện chứng
Là hệ thống các quan điểm của con người về thế giới, là hệ thống các phương
pháp nhận thức và cải tạo thế giới, là hệ thống các giá trị để con người đánh giá và
điều chỉnh các hành vi trong hoạt động của mình. Nó là khoa học về các quy luật
chung nhất của sự vận động phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy về các quy luật
hệ thống.
2. Hình thức thế giới quan duy vật biện chứng (Nội dung)
Nội dung = Hình thức? Nội dung của phép biện chứng duy vật bao gồm 2
nguyên lý (nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển), 3 quy
luật cơ bản (quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, quy luật từ những
thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại, quy luật phủ định
của phủ định) và 6 cặp phạm trù với tính cách là những quy luật không cơ bản (cái

nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với phép biện chứng.
- Quan niệm duy vật triệt để (duy vật cả về mặt xã hội)
Chủ nghĩa duy vật trước Mác là chủ nghĩa duy vật không triệt để. Khẳng định
sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, phương thức sản xuất quyết định quá
trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung, tồn tại xã hội quyết định ý
thức xã hội và coi sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình lịch sử - tự
nhiên, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khắc phục được tính không triệt để của chủ
nghĩa duy vật cũ.
- Tính thực tiễn - cách mạng
Tính thực tiễn - cách mạng của chủ nghĩa duy vật biện chứng trước hết thể
hiện ở:
+ Chủ nghĩa duy vật biện chứng là vũ khí lý luận của giai cấp vô sản
+ Chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ giải thích thế giới mà còn đóng vai trò cải
tạo thế giới.
5
Diễn đàn Sinh viên Hành chính www.hanhchinhVN.Com
+ Chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ giải thích thế giới mà còn đóng vai trò cải
tạo thế giới.
4. Những nguyên tắc phương pháp luận của thế giới quan duy vật biện
chứng
Nguyên tắc luận được rút ra để định hướng cho hoạt động của con người là:
Trong hoạt động thực tiễn và nhận thức, con người phải tôn trọng khách quan đồng
thời phải phát huy tính năng động chủ quan của mình.
4.1. Tôn trọng khách quan: Tôn trọng khách quan là tôn trọng vai trò quyết
định của vật chất. Điều này đòi hỏi trong nhận thức và hành động con người phải
xuất phát từ thực tế khách quan, lấy khách quan làm cơ sở, phương tiện cho hành
động của mình.
- Một số biểu hiện của việc tôn trọng khách quan:
+ Mục đích, đường lối, chủ trương con người đặt ra không được xuất phát từ ý
muốn chủ quan mà phải xuất phát từ hiện thực, phản ánh nhu cầu chín muồi và tính

của các thành kinh tế và của toàn xã hội” cũng chính là tạo lực lượng vật chất để
thực hiện nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới.
- Nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của khoa học trong bối cảnh phức tạp
của thế giới hiện nay, đối với cách mạng Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta khẳng
định “giáo dục và đào tạo cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu”.
Việc đầu tư có trọng điểm trong hệ thống giáo dục và nghiên cứu khoa học, việc chủ
trương xã hội hoá giáo dục để “cả nước trở thành một xã hội học tập”
Câu 3: Trình bày lịch sử của phép biện chứng, những nội dung cơ bản
của phép biện chứng và sự vận dụng những nguyên tắc phương pháp luận được
rút ra từ sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay
Phương pháp biện chứng là phương pháp:
+ Nhận thức đối tượng ở trong các mối liên hệ với nhau, ảnh hưởng nhau,
ràng buộc nhau.
+ Nhận thức đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi, nằm trong khuynh
hướng chung là phát triển. Đây là quá trình thay đổi về chất của các sự vật,
hiện tượng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là đấu tranh của các mặt đối lập để
giải quyết mâu thuẫn nội tại của chúng.
Như vậy phương pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt. Nó
thừa nhận trong những trường hợp cần thiết thì bên cạnh cái "hoặc là... hoặc là..."
còn có cả cái "vừa là... vừa là..." nữa; thừa nhận một chỉnh thể trong lúc vừa là nó
lại vừa không phải là nó; thừa nhận cái khẳng định và cái phủ định vừa loại trừ
nhau lại vừa gắn bó với nhau.
Phương pháp biện chứng phản ánh hiện thực đúng như nó tồn tại. Nhờ
vậy, phương pháp tư duy biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người
nhận thứcvà cải tạo thế giới.
2. Các giai đoạn phát triển cơ bản của phép biện chứng
Cùng với sự phát triển của tư duy con người, phương pháp biện chứng đã
qua ba giai đoạn phát triển, được thể hiện trong triết học với ba hình thức lịch sử
của nó: phép biện chứng tự phát, phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy
vật.

ấy và trong mối liên hệ qua lại giữa sự vật hiện tượng đó với sự vật, hiện tượng
khác, tránh xem xét phiến diện một chiều.
- Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi phải xem xét, đánh giá từng mặt, từng mối liên
hệ, và phải nắm được đâu là mối liên hệ chủ yếu, bản chất quy định sự vận động, phát
triển của sự vật, hiện tượng. Trong nhận thức, nguyên tắc toàn diện là yêu cầu tất yếu
của phương pháp tiếp cận khoa học, cho phép tính đến mọi khả năng của vận động,
phát triển có thể có của sự vật, hiện tượng đang nghiên cứu, nghĩa là cần xem xét sự
vật, hiện tượng trong một chỉnh thể thống nhất với tất cả các mặt, các bộ phận, các
yếu tố, các thuộc tính, cùng các mối quan hệ của chúng.
- Nguyên tắc toàn diện còn đòi hỏi để nhận thức được sự vật, hiện tượng
chúng ta cần xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người. Mối
liên hệ giữa sự vật, hiện tượng với nhu cầu của con người rất đa dạng.
- Nguyên tắc toàn diện đối lập với cách nhìn phiến diện, một chiều; đối lập
với chủ nghĩa chiết trung và thuật ngữ nguỵ biện.
2. Nguyên tắc phát triển trong nhận thức và nhận thức
- Nguyên tắc phát triển cũng là một trong những nguyên tắc phương pháp luận
cơ bản, quan trọng của hoạt động nhận thức thực tiễn. Cơ sở lý luận của nguyên tắc
phát triển là nguyên lý về sự phát triển của phép biện chựng duy vật. Theo đó, sự
phát triển là vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém
hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Phát triển là trường hợp đặc biệt của sự đặc biệt của
sự vận động và trong sự phát triển sẽ nảy sinh những tính quy định quy định mới,
cao hơn về chất, nhờ đó, làm cho cơ cấu tổ chức, phương thức tồn tại và vận động
của sự việc, hiện tượng cùng chức năng của nó ngày càng hoàn thiện hơn. Do vậy,
8
Diễn đàn Sinh viên Hành chính www.hanhchinhVN.Com
để nhận thức được sự tự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng chúng ta phải
thấy được sự thống nhất giữa sự biến đổi về lượng với sự biến đổi về chất trong quá
trình phát triển, phải chỉ ra được nguồn gốc và động lực bên trong, nghĩa là tìm ra và
biết cách giải quyết mâu thuẫn, phải xác định xu hướng phát triển của sự vật, hiện
tượng do sự phủ định biện chứng quy định; coi phủ định là tiền đề cho sự ra đời của

chúng luôn tác động qua lại và đấu tranh lẫn nhau theo xu hướng bài trừ và phủ định
lẫn nhau gữa các mặt đối lập.
2. Nội dung quy luật
Trong mỗi sự vật hiện tượng hay quá trình nào đó luôn chứa đựng những mặt,
những khuynh hướng đối lập nhau tạo thành những mâu thuẫn trong bản thân mình;
sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập tạo thành xung lực nội tại của sự vận
9
Diễn đàn Sinh viên Hành chính www.hanhchinhVN.Com
động và phát triển, dẫn tới sự mất đi của cái cũ và nhường chỗ cho sự ra đời của cái
mới.
3. Phân tích nội dung quy luật
a. Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan và mang tính phổ biến, là nguồn gốc
của sự vận động và phát triển
Những nhà triết học theo quan điểm siêu hình phủ nhận mâu thuẫn bên trong của
sự vật hiện tượng, chỉ thừa nhận có sự đối kháng, sự xung đột bên ngoài giữa các sự
vật hiện tượng với nhau, nhưng không cho đó là có tính quy luật.
Phép biện chứng duy vật khẳng định rằng, mọi sự vật hiện tượng trong thế giới
đều tồn tại mâu thuẫn bên trong; mỗi sự vật hiện tượng đều là một thể thống nhất
giữa các mặt, các thuộc tính, các khuynh hướng đối lập nhau, những mặt đối lập
nhau nhưng lại ràng buộc nhau nên nó tạo thành mâu thuẫn.
Mâu thuẫn chẳng những là hiện tượng khách quan mà còn là hiện tượng phổ biến;
mâu thuẫn tồn tại khách quan trong thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy con người;
tồn tại phổ biến chẳng những ở mọi sự vật hiện tượng mà còn phổ biến trong suốt
quá trình vận động và phát triển của chúng; mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn
khác lại được hình thành.
b. Sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
Khái niệm “thống nhất” trong quy luật mâu thuẫn có nghĩa là 2 mặt đối lập liên
hệ nhau, ràng buộc nhau và quy định lẫn nhau, mặt này lấy mặt kia làm tiền đề để
tồn tại và phát triển. (ví dụ: đồng hóa và dị hóa, giai cấp vô sản và giai cấp tư sản
trong xã hội tư bản chủ nghĩa)

quy định bởi đặc điểm của các mặt đối lập, điều kiện thực hiện sự tác động qua lại
giữa các mặt đối lập, bởi trình độ tổ chức của hệ thống mà trong đó mâu thuẫn tồn
tại.
Căn cứ vào quan hệ giữa các mặt đối lập, người ta phân loại thành mâu thuẫn bên
trong và mâu thuẫn bên ngoài; trong đó, mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại
giữa các mặt, các khuynh hướng đối lập của cùng một sự vật hiện tượng; mâu thuẫn
bên ngoài là mâu thuẫn diễn ra trong mối liên hệ với sự vật, hiện tượng khác (ví dụ:
đồng hóa-dị hóa: bên trong; cơ thể-môi trường: bên ngoài); cách phân loại này chỉ
mang tính tương đối, các mâu thuẫn tác động lẫn nhau và mâu thuẫn bên trong giữ
vai trò quyết định trực tiếp đến sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng (ví
dụ: chính sách đối nội-đối ngoại).
Căn cứ vào ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật hiện tượng,
người ta phân loại thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản; mâu thuẫn
cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật hiện tượng, quy định sự phát triển
ở tất cả các giai đoạn của sự vật hiện tượng, nó tồn tại trong suốt quá trình tồn tại
của sự vật hiện tượng; mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn đặc trưng cho một
phương diện nào đó của sự vật, nó quy định sự vận động và phát triển một mặt nào
đó của sự vật (liên hệ: mâu thuẫn giữa lực lượcng sản xuất với quan hệ sản xuất
trong xã hội tư bản chủ nghĩa).
Căn cứ vào vai trò mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn
thứ yếu; mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu trong một giai đoạn phát
triển nhất định của sự vật hiện tượng, giải quyết nó tạo điều kiện giải quyết các mâu
thuẫn thứ yếu; phân biệt mâu thuẫn chủ yếu với mâu thuẫn thứ yếu chỉ mang tính
tương đối, trong cùng một sự vật trong điều kiện này là mâu thuẫn thứ yếu, trong
điều kiện khác lại là mâu thuẫn chủ yếu.
Căn cứ vào tính chất các lợi ích đối lập trong xã hội, người ta phân chia thành
mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng; mâu thuẫn đối kháng là mâu
thuẫn giữa những giai cấp, những tập đoàn người, những xu hướng xã hội có lợi ích
cơ bản đối lập nhau (ví dụ); mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những
lực lượng, những khuynh hướng xã hội có đối lập về lợi ích những mang tính cục

phương thức liên kết giữa chúng.
+ Lượng: là khái niệm dùng để chỉ tính qui đinh vốn có của các sự vật về
lượng, nó biểu thị quy mô tồn tại của sự vật, quảng tính của sự vật, số lượng các bộ
phận, thuộc tính của sự vật.
> Lượng là mặt khách quan vốn có của sự vật.
> Lượng của sự vật bộc lộ ra thông qua các thuộc tính về lượng, thuộc tính về
lượng cũng bộc lộ ra thông qua mối quan hệ.
- Mối quan hệ biện chứng giữa sự thay đổi về lượng và thay đổi về chất:
+ Lượng đổi dẫn đến chất đổi
> Mọi sự vật đều có mặt chất và mặt lượng của nó, khi sự vật vận động và
phát triển, cả hai mặt chất và lượng đều biến đổi theo. Sự thay đổi lượng có thể diễn
ra trong một khoảng nhất định mà chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật.
12
Diễn đàn Sinh viên Hành chính www.hanhchinhVN.Com
> Độ: là khái niệm dùng để chỉ sự thống nhất giữa chất và lượng, đó là
khoảng thưòi gian giới hạn mà trong giới hạn đó lượng thay đổi nhưng chất chưa
thay đổi về cơ bản.
> Điểm nút: là điểm giới hạn trong sự thay đổi về lượng mà sự thay đổi về
lượng đạt tới đó sẽ dẫn đến sự thay đổi căn bản về chất của sự vật.
> Nhảy vọt: là khái niệm dùng để chỉ 1 giai đoạn trong qúa trình vận động và
phát triển ở đó sự thay đổi về lượng đang dẫn tới sự thay đổi căn bản về chất của sự
vật.
+ Chất mới ra đời tác động trở lại tới sự thay đổi về lượng: làm thay đổi quy
mô tồn tại của sự vật, thay đổi nhịp điệu vận động và phát triển của sự vật đó.
2. Ý nghĩa phương pháp luận:
- Nhận thức: để có tri thức đầy đủ về sự vật, phải có nhận thức cả mặt lượng
và mặt chất của nó, khi đạt tới tri thức về sự thống nhất giữa lượng và chất ta sẽ có tri
thức hoàn chỉnh về sự vật đó.
- Thực tiễn: cần chống hai chủ quan sai lầm là tuyệt đối hoá qúa trình thay
đổi về chất hay tuyệt đối hoá quá trình thay đổi về lượng.

> Tuyệt đối hoá mặt loại bỏ hoặc mặt giữ lại.
+Phủ định xã hội diễn ra bằng cơ chế khác căn bản với phủ định trong tự
nhiên.
* Vì vậy, phương pháp luận rút ra từ quy luật phủ định của phủ định có
ý nghĩa:
- Cho ta cơ sở lý luận để hiểu sự ra đời của các mới, cái mới ra đời từ cái cũ,
kế thừa những mặt tích cực của cái cũ do vậy cần chống thái độ phủ định sách trơn.
- Phải phát hiện và quý trọng cái mới, phải biết sàng lọc giữ lấy những cái tích
cực có giá trị của cái cũ.
- Chống lại thái độ bảo thủ, khư khư giữ những cái cản trở bước tiến của lịch
sử
C âu 9: Quan niệm của triết học Mác – Lênin về thực tiễn, nguyên tắc
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn? Ý nghĩa phương pháp luận của quan niệm
này trong việc đổi mới tư duy lý luận và nhận thức con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội ở nước ta?
14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status