Mai Tuấn Anh GV Trường THCS Nga Điền – Nga Sơn – Thanh Hóa
Lê Văn Thiêm - Tiến sĩ Toán học đầu tiên của Việt
Nam
Lê Văn Thiêm là tiến sĩ toán học đầu tiên của nước ta, ông trở thành Chủ tịch đầu tiên của
Hội Toán học Việt Nam và Viện trưởng đầu tiên của Viện Toán học.
Công trình toán học đạt trình độ quốc tế
Từ đời nhà Lê, Lương Thế Vinh đã viết Đại thành toán pháp, Vũ Hữu viết Lập
thành toán pháp nhằm hệ thống hoá những thành tựu hình học và số học của
phương Đông thời ấy. Tuy nhiên, suốt mấy trăm năm sau đó, do không được
tiếp xúc với những thành tựu toán học tiên tiến của phương Tây, kiến thức toán
học của các cụ đồ nho thật quá sơ sài!
GS Lê Văn Thiêm (giữa), GS Nguyễn Đình Trí (trái) và GS Lê Dũng
Tráng.
Thời thuộc Pháp, một số người Việt Nam ưu tú như Nguyễn Xiển, Hoàng Xuân Hãn, Tạ Quang
Bửu, Nguyễn Thúc Hào... đã sang Pháp học toán cao cấp, rồi trở về nước dạy toán ở bậc trung
học và đại học.
Song phải đến Lê Văn Thiêm thì nước ta mới có nhà toán học thực thụ nghĩa là
người có công trình nghiên cứu toán học đạt trình độ quốc tế. Ông là người Việt
Nam đầu tiên bảo vệ thành công luận án tiến sĩ A ở Đức (1944), rồi luận án tiến
sĩ quốc gia về toán ở Pháp (1948), và cũng là người Việt Nam đầu tiên được
Tình yêu của tôi
Mai Tuấn Anh GV Trường THCS Nga Điền – Nga Sơn – Thanh Hóa
mời làm giáo sư toán học và cơ học tại Đại học Zurich (Thuỵ Sĩ, 1949), một
trường đại học lớn ở châu Âu, nơi thời trẻ Albert Einstein đã từng theo học.
GS Lê Văn Thiêm là Viện trưởng đầu tiên của Viện Toán học. Năm 1970, khi
mới thành lập, Viện chỉ có 1 giáo sư, 3 tiến sĩ, 12 cử nhân. Ngày nay, sau 40
năm phát triển, Viện đã có 83 nhà toán học trong đó có 17 giáo sư, 15 phó giáo
sư. Các nhà toán học của Viện đã công bố khoảng 2.000 công trình, một số khá
lớn trên các tạp chí toán học quốc tế hàng đầu; biên soạn nhiều sách chuyên
khảo, trong đó có hàng chục cuốn được in tại các nhà xuất bản khoa học nổi
tiếng như Springer-Verlag, World Scientific, Kluwer Academic Publishers,
để chuẩn bị thi vào Trường Y. Năm 1939, ông đỗ thứ nhì P.C.B., do đó, được
cấp học bổng sang Pháp du học.
Năm 1941, Lê Văn Thiêm thi đỗ vào École normale supérieure (thường được
dịch không chính xác là Đại học Sư phạm) ở phố Ulm, Paris. Đây là một “trường
lớn”, tuyển sinh rất khó, học bổng rất cao, đã đào tạo nhiều nhà bác học lừng
danh cho nước Pháp. Trong hai năm, ông thi đỗ 5 chứng chỉ (chỉ cần 3 chứng
chỉ là xong chương trình cử nhân). Không ra trường dạy học, ông sang Thuỵ Sĩ,
làm việc với Nevanlinna (một nhà toán học lớn của thế kỷ 20) về hàm phân hình.
Tình yêu của tôi
Mai Tuấn Anh GV Trường THCS Nga Điền – Nga Sơn – Thanh Hóa
Năm 1943, ông nhận được học bổng sang nghiên cứu toán ở Đức. Sau khi bảo
vệ thành công luận án tiến sĩ A và đang chuẩn bị bảo vệ luận án tiến sĩ B (tiến sĩ
habil, tương đương tiến sĩ khoa học) thì vị giáo sư hướng dẫn qua đời. Ông liền
trở về Pháp tiếp tục hướng nghiên cứu mà mình đã chọn, rồi bảo vệ luận án tiến
sĩ quốc gia Về bài toán ngược phân phối giá trị các hàm phân hình vào năm
1948, khi mới 30 tuổi.
Nhiều năm sau, mùa thu năm 1981, ba nhà khoa học Việt Nam Lê Văn Thiêm,
Hoàng Tuỵ và Nguyễn Văn Đạo sang thăm Mỹ. Một anh thanh niên Mỹ cố tìm
gặp GS Thiêm để cảm ơn ông: Chính là nhờ bản luận án tiến sĩ A của ông công
bố ở Đức năm 1943 mà giờ đây chàng trai này mới viết được luận án tiến sĩ...
Từ chối lời mời sang Mỹ, trở về nước tham gia kháng chiến
Sau khi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ quốc gia tại Paris, ông sang Thuỵ Sĩ
giảng dạy tại Đại học Zurich, nơi Albert Einstein thời trẻ đã từng theo học. Có
học vị cao, có điều kiện để phát huy tài năng ở phương Tây, thế nhưng người
con dòng họ Lê yêu nước vẫn nhẹ nhàng từ bỏ tất cả để trở về Tổ quốc.
Cuối năm 1949, bằng số tiền dành dụm được sau mấy tháng dạy học, ông mua vé máy bay từ
Paris đến Bangkok, sau khi từ chối một lời mời sang Mỹ làm việc với đồng lương hậu hĩnh. Từ
Thái Lan, ông lội bộ xuyên rừng qua đất nước Campuchia đang bị quân Pháp chiếm đóng, đến
bưng biền Nam Bộ. Tại đây, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.
Để chuẩn bị cán bộ cho nền đại học cách mạng ở nước ta, ngày 22/1/1950, Bộ
tham gia xây dựng trường đại học đầu tiên ở chiến khu. Cùng các trí thức khác như Tạ Quang Bửu, Trần Đại
Nghĩa..., ông đã xây dựng nền móng cho khoa học Việt Nam.
Với sự trợ giúp của GS Hoàng Tụy, ông đã góp phần đưa nền toán học Việt Nam trong thời kỳ 1960-1980 lên
một vị trí cao trong khu vực, được cả thế giới biết đến. Tới nay cuộc đời và sự nghiệp của ông đã trở thành
một phần của lịch sử phát triển toán học Việt Nam hiện đại.
Ông là Viện trưởng đầu tiên của Viện Toán học, chủ tịch đầu tiên của Hội Toán học Việt Nam và tổng biên tập
đầu tiên của hai tạp chí toán học Việt nam là tạp chí “Acta Mathematica Vietnamica” và “Vietnam Journal of
Mathematics”.
Ông cũng là hiệu trưởng đầu tiên của Đại học Sư phạm Hà Nội (khi đó có tên là Đại học Sư phạm Khoa học)
và Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội (khi đó có tên là Đại học Khoa học Cơ bản).
Tình yêu của tôi