Tài liệu Luận văn tốt nghiệp "Một số giải pháp hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Sở giao dịch I - Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam" - Pdf 84

TRƯỜNG.........................................
KHOA............................................. LUẬN VĂN
Một số giải pháp hạn chế rủi ro trong
phương thức thanh toán tín dụng
chứng từ tại Sở giao dịch I - Ngân
hàng đầu tư và phát triển Việt Nam Khoá luận tốt nghiệp Lưu Phương Lan - A1CN9 1
PHẦN MỞ ĐẦU
Khoá luận tốt nghiệp Lưu Phương Lan - A1CN9 2
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài
khóa luận tốt nghiệp là: SMột số giải pháp hạn chế rủi ro trong phương
thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Sở giao dịch I - Ngân hàng đầu tư và
phát triển Việt Nam
T
cũng chỉ với mục đích làm sáng tỏ vị trí, vai trò của
phương thức thanh toán tín dụng chứng từ trong nền kinh tế, luận giải có tính
hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn, các ưu nhược điểm và nguyên nhân gây ra
rủi ro trong phương thức thanh toán này. Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm
hoàn thiện và hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế nói chung và thanh toán
tín dụng chứng từ nói riêng.

2.
Đối tượng nghiên cứu
Đây là đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề chung nhất về các rủi
ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ và những giải pháp để hạn
chế rủi ro đó.

3. Phạm vi nghiên cứu

Với phạm vi của một khoá luận, tôi cũng chỉ xin tập trung nghiên cứu

i Sở giao dịch I - Ngân hàng
đầu tư và phát triển Việt Nam.

Khoá luận tốt nghiệp Lưu Phương Lan - A1CN9 4
CHƯƠNG I
RỦI RO VÀ CÁC RỦI RO TRONG PHƯƠNG THỨC

đào tạo chính quy về nghiệp vụ ngoại thương. Chính vì sự thiếu hụt kể trên
Khoá luận tốt nghiệp Lưu Phương Lan - A1CN9 5
mà rủi ro là không thể tránh khỏi. Rủi ro trong thanh toán nói chung và trong
phương thức thanh toán tín dụng chứng từ nói riêng rất đa dạng, có thể xuất
phát từ phía khách hàng cũng có thể từ phía các ngân hàng.

1. Khái niệm
Khi đề cập đến rủi ro, mọi người hay quan đó là những điều không tốt
lành, tổn thất hay thậm chí thiệt hại về vật chất vô hình hay hữu hình xảy ra
ngoài dự kiến do những nguyên nhân chủ quan hay khách quan.
Ta có thể định nghĩa rủi ro như sau:
Trong cuộc sống hàng ngày, trong hoạt động kinh tế của con người
thường có những tai họa, tai nạn, sự cố bất ngờ, ng
ẫu nhiên xảy ra gây thiệt
hại về người và tài sản. Những tai nạn, tai họa, sự cố xảy ra một cách bất ngờ
ngẫu nhiên như vậy được gọi là rủi ro.
Để đối phó với các loại rủi ro không lường trước được đó, con người đã
cố gắng tìm kiếm mọi phương cách để phòng ngừa và hạn chế rủi ro. Từ biện
pháp không thực hiện những việ
c làm quá mạo hiểm, chú ý đến những quy
tắc về an toàn lao động, các chuẩn mực trong kinh tế... thậm chí lập ra những
quỹ dự phòng để dự trữ một khoản tiền nào đó nhằm bù đắp những rủi ro có
thể gặp phải. Tất cả những hành động đó nhằm một mục đích duy nhất là cố
gắng hạn chế đến mức tối đa và phòng tránh các loại r

- Rủi ro hàng hoá
- Rủi ro chính trị

II. Các rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.

1. Các rủi ro thường gặp trong phương thức thanh toán tín dụng chứng
từ.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong thanh toán theo phương
thức thanh toán tín dụng chứng từ. Trong phạm vi của luận văn này, chỉ xin
được đề cập đến những rủi ro thường gặp nhất trong thực tế, có thể chia thành
ba loại chính là: rủi ro kỹ thuật, rủi ro đạo đức và rủi ro chính trị trong đó rủi
ro kỹ
thuật xảy ra nhiều nhất vì vậy phần đầu trước hết xin dành để nói về rủi
ro kỹ thuật.

1.1. Rủi ro kỹ thuật
Là những rủi ro do những sai sót mang tính chất kỹ thuật trong quy
trình thanh toán L/C, thường do các bên tham gia thực hiện sai một khâu
trong quy trình nghiệp vụ thanh toán.
Khoá luận tốt nghiệp Lưu Phương Lan - A1CN9 7
Rủi ro đối với người xuất khẩu
Như ta đã biết, trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, ngân
hàng phát hành đứng ra cam kết thanh toán cho người xuất khẩu khi họ xuất
trình bộ chứng từ phù hợp với L/C trong khi đó để đảm bảo việc giao hàng
Lưu Phương Lan - A1CN9 8
Tất cả những sai sót trên đều có thể là nguyên nhân gây nên rủi ro trong
thanh toán, gây thiệt hại cho nhà xuất khẩu.
Khi nộp chứng từ cho ngân hàng chiết khấu, nếu ngân hàng phát hiện
ra các sai sót mà có thể sửa chữa được thì việc sửa chữa sẽ làm chậm quá
trình thanh toán. Nếu sai sót không thể sửa chữa thì bộ chứng từ không được
chiết khấu hoặc chấp nhận mà phải đợi ý kiến của ngân hàng mở và người
mua để giải quy
ết. Như vậy, quá trình thanh toán sẽ bị kéo dài làm cho người
bán không thể thu hồi vốn nhanh được. Hơn nữa, người mua và ngân hàng mở
có thể dựa vào những sai biệt rất nhỏ của chứng từ để từ chối thanh toán trong
khi đó hàng hoá đã được gửi đi. Nhà xuất khẩu sẽ chịu thiệt hại khi phải bán
giảm giá hàng hoá hoặc tìm khách hàng khác để tiêu thụ và cùng với nó là
một các chi phí như phí đền bù, cước lưu kho và các phí t
ổn phát sinh khác.
Một rủi ro kỹ thuật nữa là việc người bán phạm phải các sai lầm khi
tiến hành giao hàng như việc vi phạm thời hạn thanh toán thư tín dụng, giao
hàng muộn, xuất trình chứng từ muộn... Nếu việc xuất trình chứng từ thể hiện
sự vi phạm một trong các thời hạn nói trên cũng sẽ bị từ chối thanh toán.
Rủi ro đối với người nhập khẩu
Rủ
i ro lớn nhất đối với người nhập khẩu là việc nhận hành hoá không
đúng với hợp đồng mua bán. Sở dĩ xảy ra tình trạng trên là do bị lợi dụng tính
độc lập giữa L/C và hợp đồng thương mại. Việc thanh toán giữa ngân hàng
hai bên mua bán chỉ thực hiện trên cơ sở bộ chứng từ đã giao hàng xuất trình

phải kiểm tra tính pháp lý của doanh nghiệp (đối với doanh nghiệp mới giao
dịch lần
đầu), hợp đồng thương mại, đơn xin mở L/C, nguồn vốn thanh toán
bao gồm vốn vay hay vốn tự có và các chứng từ có liên quan khác. Rủi ro ở
công đoạn này thường xảy ra ở phía doanh nghiệp thể hiện trong các điều
khoản của hợp đồng ngoại thương như giá cả, phương thức thanh toán,
phương thức vận tải, điều khoản trọng tài... Vì vậy, để giảm thiể
u rủi ro, các
cán bộ tác nghiệp của ngân hàng hết sức lưu ý nghiên cứu kỹ các điều khoản
trong hợp đồng ngoại thương và đơn xin mở L/C để tư vấn cho doanh nghiệp
lấy lại lợi thế nếu thấy cần thiết. Thực tế đã xảy ra nhiều trường hợp mà lợi
thế thuộc về khách hàng nước ngoài và ngân hàng đã tư vấn dàn xếp ổn thoả
theo đúng luật của nước phát hành và quốc tế.
Một rủi ro nữa mà ngân hàng có thể gặp phải khi mở L/C là dùng sai
hoặc sót trong từng chữ, dấu chấm, dấu phẩy... so với đơn xin mở L/C của
doanh nghiệp. Tất nhiên phí tu chỉnh cho những sai sót đó ngân hàng phải
chịu. Vì vậy, để khắc phục rủi ro này, cần phải tiến hành kiểm tra lại kỹ càng
Khoá luận tốt nghiệp Lưu Phương Lan - A1CN9 10
sau khi đã mở L/C trên máy. Một điều cũng cần quan tâm là ngân hàng mở
tuyệt đối không được tự thêm bớt nội dung vào L/C so với đơn xin mở, ngoại
trừ sự thêm bớt đó làm tăng thêm lợi thế cho khách hàng của mình và phù hợp
với hợp đồng ngoại thương, và các văn bản pháp luật điều chỉnh đã được dẫn
chiếu trong L/C như UCP 500 và Incoterms 2000.
- Rủi ro khi kiểm tra bộ chứ


Lưu Phương Lan - A1CN9 11
xuất hiện khả năng xảy ra rủi ro đối với ngân hàng mở. Đó là rủi ro không đòi
được tiền từ phía nhà nhập khẩu do người nhập khẩu mất khả năng thanh toán
hoặc bị phá sản. Đây chính là rủi ro gây thiệt hại nặng nề nhất cho ngân hàng
mở. Nguyên nhân có thể là do ngân hàng không tiến hành thẩm định khi
doanh nghiệp lần đầu tiên đến quan hệ mở L/C thậm chí ngân hàng có tiến
hành thẩm định nh
ưng không phải lúc nào kết quả thẩm định cũng chính xác
do thông tin không đầy đủ, không tin cậy hoặc do lúc ngân hàng thẩm định thì
tình hình tài chính của khách hàng rất tốt nhưng trong quá trình sản xuất kinh
doanh, nhà nhập khẩu bị thua lỗ liên tục mà ngân hàng không hay biết, chẳng
hạn như hàng nhập khẩu về bán không thu được tiền, nợ đọng thuế nhập khẩu
kéo dài bị hải quan cưỡng chế không cho nhận hàng.
Trong nghiệp vụ thông báo L/C, ngân hàng mở có thể bị
rủi ro do
không hành động đúng theo UCP mà L/C đã dẫn chiếu. Theo UCP 500, ngân
hàng mở được miễn trách nhiệm thanh toán nếu toàn bộ chứng từ có sai biệt
hay không phù hợp với L/C. Tuy nhiên nếu ngân hàng mở không hành động
đúng theo những quy định tại điều 13 UCP 500 thì ngân hàng mở gặp rủi ro
trên chính những bộ chứng từ không phù hợp đó. Đó là các trường hợp:
+ Thông báo từ chối nhưng không nói rõ sự sai biệt của chứng từ hoặc
nh
ững điểm không phù hợp bị ngân hàng chiết khấu phủ nhận và trở nên
không có giá trị.
+ Thông báo những sai biệt, không phù hợp và từ chối chứng từ vượt
quá 7 ngày làm việc của ngân hàng.

thậm chí bị phá sản.
 Ngân hàng chiết khấu (nếu có)
Đối với ngân hàng chiết khấu rủi ro xảy ra phần nhiều tuỳ thuộc vào
thiện chí của ngân hàng mở và nhà nhập khẩu. Ngân hàng chiết khấu sẽ
không thu hồi được tiền hoặc thu chậm là do nhà nhập khẩu trì hoãn thanh
toán, thậm chí từ chối thanh toán thông qua việc "bới bèo ra b
ọ" trong việc
kiểm tra chứng từ của ngân hàng mở. Lý do để người nhập khẩu trì hoãn chủ
yếu là do gặp khó khăn trong thanh toán hoặc cũng có thể do bên mua không
tin tưởng bên bán vì hay giao hàng trễ, giao hàng kém chất lượng. Mục đích
của người mua là muốn hàng thật sự về cảng, nhìn thấy hàng rồi mới trả tiền.
Để trì hoãn thanh toán, họ sẽ yêu cầu ngân hàng mở thông báo những sai biệt
của chứng từ trong vòng 7 ngày làm việc để dành quy
ền được từ chối thanh
toán sau này. Đối với ngân hàng chiết khấu, thời gian trì hoãn thanh toán càng
dài, ngân hàng bị chiếm dụng vốn càng lâu.

1.2. Rủi ro đạo đức
Khoá luận tốt nghiệp Lưu Phương Lan - A1CN9 13
Mặc dù trong phương thức tín dụng chứng từ, quyền lợi và nghĩa vụ
của mỗi bên tham gia được quy định rõ ràng, song không phải lúc nào nguyên
tắc đó cũng được tôn trọng. Rủi ro đạo đức là những rủi ro khi một bên tham
gia cố tình không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, làm ảnh hưởng đến
quyền lợi của các bên còn lại.

Lưu Phương Lan - A1CN9 14
Mặc dù trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ đã có sự cam kết của
ngân hàng mở, nhưng sự tin tưởng và thiện chí giữa người bán và người mua
vẫn được coi là yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự an toàn và hiệu quả của
thanh toán quốc tế. Khi người mua có thiện chí thì việc thanh toán sẽ diễn ra
thuận lợi hơn rất nhiều cho dù bộ chứng từ có sai sót cũng dễ được chấp nh
ận.
Ngược lại, khi họ có ý không muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng có thể do cơ
hội kinh doanh đã mất hay do các mối hàng khác... họ có thể dựa vào những
sai sót dù là rất nhỏ của chứng từ để đòi giảm giá, kéo dài thời gian để chiếm
dụng vốn của người bán, thậm chí từ chối thanh toán. Với người mua, sự
trung thực của người bán cũng rất quan trọng, b
ởi vì ngân hàng chỉ làm việc
với những chứng từ mà không cần biết việc giao hàng có đúng hợp đồng hay
không. Do đó, người mua có thể vẫn phải thanh toán L/C với ngân hàng mà
không nhận được hàng hoá theo đúng hợp đồng. Các vi phạm về hợp đồng có
thể được giải quyết sau đó nhưng phải mất nhiều thời gian và phí tổn, trước
hết là người mua mất cơ hội kinh doanh và bị chiếm dụng v
ốn. Song, không
chỉ người mua và người bán mà cả ngân hàng cũng đang đứng trước mối đe
dọa to lớn đó. Con số thiệt hại hàng năm trong thanh toán xuất nhập khẩu của
các ngân hàng thương mại không phải nhỏ, gây khó khăn cho hoạt động của
ngân hàng. Trước hết, ngân hàng chịu ảnh hưởng gián tiếp từ những rủi ro của
khách hàng. Khi người mua không nhận được hàng theo đúng yêu cầu và kế
hoạch kinh doanh củ
a họ bị phá vỡ thì họ không thể trả ngân hàng số tiền đã
vay của ngân hàng để thanh toán L/C. Khi người bán không nhận được tiền

n động
dù là nhỏ cũng sẽ ảnh hưởng tới sự vận động của tự do thương mại, đến hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp... và từ đó ảnh hưởng tới quá
trình thanh toán.
Rủi ro chính trị thường gặp nhất là rủi ro do thay đổi môi trường pháp
lý đặc biệt ở những nước có hệ thống pháp luật chưa ổn định, thường xuyên
có sửa chữ
a bổ sung. Những rủi ro pháp lý thường liên quan đến việc thay đối
các quy định về dự trữ, thuế hay việc ban hành các quy định cản trở hoạt động
của ngân hàng trong lĩnh vực thanh toán quốc tế. Trong thực tế, những thay
đổi này thường khiến các bên xuất nhập khẩu và ngân hàng không thực hiện
nghĩa vụ của mình, làm cho L/C bị huỷ bỏ, gây thiệt hại cho các bên. Sự
phong toả kinh tế của các quốc gia vì mục
đích chính trị như trường hợp
CuBa. Iraq hay Việt Nam trước đây cũng mang lại những rủi ro tương tự.
Bên cạnh đó, các cuộc nổi loạn, biểu tình, bạo động hay chiến tranh,
đảo chính, đình công... cũng có thể gây ra rủi ro cho quá trình thanh toán như
Khoá luận tốt nghiệp Lưu Phương Lan - A1CN9 16
mất chứng từ, hàng hoá bị mất mát, hư hỏng, ngân hàng bị phong toả hoặc
tạm ngừng hoạt động.
Những biểu hiện bất lợi của các yếu tố kinh tế - chính trị còn được nhân
lên gấp nhiều lần khi nó ảnh hưởng đến sự ổn định giá trị đồng tiền. Vì
phương thức thanh toán tín dụng chứng từ thường liên quan đến nhiều quốc
gia khác nhau với đồ


Lưu Phương Lan - A1CN9 17
phải nhiều rủi ro bất khả kháng như thiên tai, hoả hoạn... gây thiệt hại cho các
bên nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Ngoài ra, các loại L/C cũng tiềm ẩn trong nó những rủi ro riêng. Hiện
nay, L/C là phương thức thanh toán có nhiều loại hình đa dạng và thuận tiện
nhất cho các hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng mở rộng và phát triển. Do
đó, việc nghiên cứu các loại L/C hiện có và rủi ro của nó cũng rất cần thiết.
2. Các loại L/C và những rủi ro tiềm ẩn
2.1. Khái niệm L/C:
Thư tín dụng (viết tắt là L/C - Letter of Credit) là một chứng thư trong
đó ngân hàng mở cam kết trả tiền cho người xuất khẩu nếu họ xuất trình được
một bộ chứng từ phù hợp với nội dung của thư tín dụng. Nó là căn cứ pháp lý
để ngân hàng trả tiền, chấp nhận hay chiết khấu chứng từ và cũng là cơ s
ở để
người mua quyết định trả tiền cho ngân hàng phát hành.
Về tính chất, L/C hoàn toàn độc lập với hợp đồng thương mại, có nghĩa
là khi thanh toán các ngân hàng chỉ căn cứ vào bộ chứng từ mà không cần biết
đến nội dung của hợp đồng mua bán cũng như không phụ thuộc vào mối quan
hệ giữa người mua và người bán hay mối quan hệ giữa ngân hàng với người
mua mà chỉ căn cứ vào nội dung c
ủa L/C để trả tiền. Ngân hàng cũng không
có nghĩâ vụ xem xét nội dung của L/C có đúng hợp đồng hay không, việc giao
hàng thực tế có đúng với nội dung của chứng từ xuất trình cho ngân hàng hay

lợi cho đối tác cũng như bản thân mình. Vì vậy, nội dung của thư tín dụng
phải đầy đủ, rõ ràng và chính xác. Mỗi thư tín dụng mang một nội dung riêng
biệt tuỳ theo nội dung của từng thương vụ, nhưng nhìn chung chúng có những
nội dung cơ bản giống nhau và thườ
ng không thể thiếu được trong một L/C,
bao gồm: địa điểm mở thư tín dụng, ngày mở thư tín dụng, số hiệu của thư tín
dụng, loại thư tín dụng, số tiền, thời hạn hiệu lực, thời hạn giao hàng, thời hạn
thanh toán, nội dung về hàng hoá, các nội dung về vận tải và giao nhận và đặc

biệt là bộ chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình...
Các bên liên quan khi sử dụng phương thức thanh toán tín dụng chứng
từ cần chú ý tới tất cả các nội dung nêu trên, đặc biệt là điều khoản yêu cầu về
bộ chứng từ mà người bán phải xuất trình cho ngân hàng mở bởi đây chính là
điều kiện để cam kết thanh toán được thực hiện. Đối với người mua, thông
th
ường họ muốn bộ chứng từ phải thật đầy đủ. Ngược lại, người bán lại muốn
bộ chứng từ càng đơn giản càng tốt, tránh mất nhiều thời gian và chi phí. Bởi
ngoài giấy tờ mà họ thể chủ động lập ra còn có rất nhiều chứng từ khác đòi
Khoá luận tốt nghiệp Lưu Phương Lan - A1CN9 19
hỏi được lập bởi một bên thứ ba. Khi đó bộ chứng từ được lập ra sẽ mất nhiều
thời gian, ảnh hưởng tới tốc độ thu tiền hàng của người bán, thậm chí còn dẫn
đến vi phạm thời gian xuất trình chứng từ, tạo ra nhiều cơ hội để ngân hàng
kiểm tra chứng từ có thể tìm ra sự sai biệt, tăng nguy cơ không đòi được tiền
từ
Lưu Phương Lan - A1CN9 20
Như vậy, nếu không có sự nhất trí của người xuất khẩu, của ngân hàng
xác nhận (nếu có) thì ngân hàng mở không được phép thực hiện theo yêu cầu
của bên nhập khẩu thay đổi L/C. Do đó quyền lợi của người bán được đảm
bảo hơn.
Tín dụng không thể huỷ ngang tuy ít linh hoạt nhưng khá an toàn và có
thể cân bằng được quyền lợi của các bên tham gia nên nó được sử dụng rộng
rãi trong thương mại qu
ốc tế ngày nay. Tuy nhiên, rủi ro cũng vẫn có thể xảy
ra khi ngân hàng mở L/C mất khả năng thanh toán, người xuất khẩu sẽ không
thu được tiền và trong khi người nhập khẩu đã thanh toán.

(2) Thư tín dụng không huỷ ngang có xác nhận
Confirmed L/C
Đây là loại L/C không thể huỷ ngang, được một ngân hàng thứ ba đứng
ra xác nhận và chịu trách nhiệm thanh toán tiền cho người hưởng lợi khi ngân
hàng mở không có khả năng thanh toán.
Nguyên nhân phát sinh loại L/C này là vì người hưởng lợ
i không tin
tưởng vào khả năng thanh toán của ngân hàng mở L/C. Tuy đây là loại L/C
tạo cho người bán một sự đảm bảo hai lần trong việc sẽ được thanh toán tiền
hàng - vậy là rất an toàn - nhưng nó lại thường không nhận được sự hưởng
ứng nhiều của ngân hàng mở L/C do nó gián tiếp làm giảm uy tín của họ. Đôi
khi việc thoả thuận lựa chọn ngân hàng xác nhận cũng gây chậm chễ, khó
khăn với các bên liên quan: bên bán chậ

Là thư tín dụng trong đó ngân hàng mở L/C phải thanh toán số tiền ghi
trong L/C cho nhà xuất khẩu sau một thời gian xác định trong tương lai khi
nhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ phù hợp.
Loại L/C sẽ gây rủi ro tỷ giá nếu thời gian xác định trong L/C kéo dài
mà trong thời gian đó có sự biến động tỷ giá ngoại tệ. Nếu tỷ giá tăng mạnh
thì sẽ gây thiệt hại cho ngân hàng mở
. Ngược lại, nếu tỷ giá giảm sẽ gây thiệt
hại cho nhà xuất khẩu.

Các loại L/C đặc biệt
(5) Thư tín dụng có điều khoản đỏ
Đây là loại L/C đặc biệt, nó mang hình thức tài trợ cho nhà xuất khẩu.
Ngân hàng phát hành L/C sẽ chuyển một khoản ứng trước để nhà xuất khẩu
có vốn sản xuất và giao hàng.
Nhà xuất khẩu phải cam kết bồi hoàn số tiền nhận ứng trước nếu không
nộp đủ chứng từ phù hợp theo thời gian quy định.
Khoá luận tốt nghiệp Lưu Phương Lan - A1CN9 22
Loại L/C này được gọi là tín dụng điều khoản đỏ vì ngân hàng phát
hành khi ghi điều khoản ứng trước đó vào định khoản có dùng mực đỏ để tập
trung sự chú ý tới L/C đặc biệt này.
Loại L/C này tuy có lợi cho nhà xuất khẩu do được tài trợ tín dụng song
rủi ro nảy sinh là tiền ứng trước đó có thể bị sử dụng không đúng mục đích.
Người bán có thể lập chứ
ng từ không hoàn lại được tiền ứng trước cho ngân

23
Thường là loại L/C không huỷ ngang cho phép chuyển từ người
hưởng lợi ban đầu sang một hay nhiều bên khác (người hưởng lợi thứ hai)
theo yêu cầu của người hưởng lợi thứ nhất.
Một L/C chuyển nhượng chỉ có thể chuyển nhưọng một lần những
phần tiền chuyển nhượng mà không vượt quá số tiền của L/C.
Thủ tục phí và lệ phí chuyển nhượng sẽ do người hưở
ng lợi thứ nhất
chịu.
Tuy nhiên trong nghiệp vụ L/C chuyển nhượng thì người hưởng lợi
thứ hai chịu nhiều rủi ro hơn cả, họ chỉ nhận được tiền khi người hưởng lợi
thứ nhất được người mua thanh toán. Vì vậy, họ phải gánh chịu mọi rủi ro
không những về người mua và ngân hàng phát hành mà còn về người hưởng
lợi thứ nhất và ngân hàng chuyển nhượng.

(8) Th
ư tín dụng giáp lưng
Là loại L/C được mở ra dựa trên cơ sở tiền của một L/C khác đã được
mở trước đó. Loại L/C này thường được sử dụng nhiều trong phương thức
giao dịch mua bán qua trung gian, chuyển khẩu. Việc thực hiện quá trình
thanh toán theo loại hình thư tín dụng này nói chung khá phức tạm: đặc biệt là
những điều kiện về thời hạn, về bộ chứ
ng từ... vì thế rất hay có sự sai sót gây
thiệt hại cho các bên.
Nói chung, ngày nay trong thương mại quốc tế, hình thức mua hàng
đổi hàng ít nên L/C đối ứng hiếm khi được sử dụng.


1. Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam luôn xứng đáng là ngân
hàng xung kích phục vụ đầu tư phát triển.
Sáu năm sau ngày Ngân hàng Quốc gia của nước Việt Nam Dân chủ
cộng hòa non trẻ được thành lập, ngày 26 tháng 4 năm 1957 Thủ tướng Chính
phủ đã ký quyết định khai sinh Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam (tiền thân của
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam), một thành viên của hệ thống ngân

Trích đoạn Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam luôn xứng đáng là ngân hàng xung kích phục vụđầu tư phát triển. Sự ra đời và phát triển của Sở giao dịch I Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam Khái quát về tình hình thanh toán quốc tế tại SGD Vận dụng phương thức tín dụng chứng từ trong hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu tại SGD Thực trạng về rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ tại Sở giao dịch I Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status